Mầu Nhiệm Giáo Hội

– Đức TGM. Giuse Ngô Quang KiệtSau khi Phục Sinh, Chúa Giêsu quan tâm đến việc thiết lập Giáo Hội để tiếp tục công cuộc cứu chuộc của Người trên trần gian. Bài Tin Mừng hôm nay cho thấy hình ảnh về Giáo Hội mà Người mong muốn khi thiết lập.   Hình ảnh về một Giáo Hội có nền tảng là yêu thương. Chúa Giêsu không thiết lập một cơ chế, nhưng thiết lập một gia đình. Người đứng đầu Giáo Hội không phải là người chỉ huy ra lệnh, nhưng là người chăm sóc. Sức mạnh của Giáo Hội vì thế không phải ở kỷ luật, uy quyền, nhưng ở tình yêu thương. Mọi người yêu thương nhau vì lẽ là anh chị em trong một gia đình. Để duy trì tình yêu thương, người đứng đầu phải là người yêu thương nhiều nhất. Chính vì thế, trước khi tuyển chọn thánh Phêrô làm  Giáo hoàng. Chúa Giêsu đã 3 lần hỏi: “Phêrô, con có mến Thầy không?” Có yêu mến Chúa thì mới biết yêu mến anh chị em mình. Tình yêu mến là nền tảng của Giáo Hội. Bao lâu tình yêu mến còn, Giáo Hội còn vững vàng. Khi nào tình yêu mến suy giảm, Giáo Hội sẽ suy yếu. Hình ảnh về một Giáo Hội có sức sống truyền giáo. Giáo Hội như con thuyền của ngư phủ. Ngư phủ sinh sống bằng nghề đánh bắt tôm cá. Sức sống của Giáo Hội là truyền giáo, là đánh bắt các linh hồn như Chúa Giêsu, khi kêu gọi các Tông đồ đầu tiên đã nói: “Hãy theo Thầy, Thầy sẽ đào tạo anh em thành những tay chài lưới linh hồn người ta”. Muốn đánh bắt được tôm cá, ngư phủ không được neo thuyền, ngồi trên bờ mà nghỉ ngơi nhàn nhã, nhưng phải dong buồm ra khơi, ra chỗ nước sâu mới có nhiều cá. Cũng vậy, muốn cứu được nhiều linh hồn, Giáo Hội không được ngồi yên ngơi nghỉ, mà phải lên đường, phải ra đi đến những nơi xa xôi, phải nỗ lực tìm kiếm. Ra khơi là phải mệt nhọc, phải làm việc và nhất là phải đương đầu với sóng to gió lớn, có khi nguy hiểm đến tính mạng. Cũng vậy, lên đường truyền giáo là phải vất vả, khổ cực và chấp nhận những nguy hiểm, rủi ro. Phải ra đi vì đó là ước nguyện của Chúa. Phải lên đường vì đó chính là sứ mạng Chúa trao cho Giáo Hội. Hình ảnh về một Giáo Hội hoạt động có hiệu quảnhờ tuân theo Lời Chúa. Giáo Hội quy tụ những con người. Giáo Hội hoạt động với những cố gắng của con người. Nhưng chỉ với sức con người. Giáo Hội không làm được việc gì. Phêrô và các bạn mệt nhọc suốt đêm mà chẳng bắt được con cá nào là hình ảnh của những hoạt động không có Chúa hướng dẫn. Khi nghe Lời Chúa dạy, các ngài đã đánh được một mẻ cá lớn lạ lùng. Hôm nay Chúa không còn ở với các Tông đồ. Không còn ngồi chung thuyền với các ngài. Không còn dẹp yên sóng gió cho các ngài. Chúa đã về trời. Chúa đứng ở một bến bờ khác. Nhưng Chúa vẫn theo dõi những hoạt động của các ngài. Chúa sẽ đưa ra những chỉ dẫn để hoạt động của các ngài có kết quả tốt đẹp. Tuy không hữu hình, nhưng Chúa vẫn hiện diện bên Giáo Hội như lời Người hứa: “Thầy sẽ ở cùng các con mọi ngày cho đến tận thế”. Giáo Hội thật là một mầu nhiệm vì xét theo bề ngoài chỉ gồm những con người hữu hình, nhưng thật sự bên trong có sự hiện diện của Thiên Chúa vô hình. Sự vững mạnh của Giáo Hội không nhờ luật lệ, quân đội, hay vũ khí, nhưng nhờ tình yêu thương. Càng yêu thương, càng tha thứ thì Giáo Hội càng mạnh mẽ. Hiệu quả của Giáo Hội không ở tại việc ổn định, yên vị, nhưng ở tại mạo hiểm ra đi. Chính khi ra đi, Giáo Hội thâu lượm được nhiều kết quả. Càng gặp khó khăn, Giáo Hội càng vững mạnh vì Chúa hằng ở với Giáo Hội luôn mãi. Lạy Chúa, con yêu mến Chúa. Lạy Chúa, con cảm tạ Chúa. Amen. 

Lòng Chúa Thương Xót

– ĐÔ. Phaolo Phan Văn HiềnNgày 18 tháng 4 năm 1993, tại Quảng Trường Thánh Phê-rô ở Roma, Đức Giáo Hoàng Gioan Phao-lô II, đã long trọng cử hành lễ phong chân phước cho nữ tu Faustina Kowalska, một người Ba Lan, có tâm hồn sùng kính Lòng Thương Xót Chúa một cách triệt để. Chính trong dịp lễ này, Đức Giáo Hoàng Gioan Phao-lô đã thực hiện ý muốn của nữ tu Faustina là chọn ngày Chúa Nhật Thứ 2 Phục Sinh hằng năm, làm ngày lễ tôn kính Lòng Thương Xót Chúa trong toàn thể Giáo Hội, để nhắc nhỡ mọi người Ki-tô hữu về tình thương bao la của Thiên Chúa dành cho con người.   Và kể từ đó, tức là gần 30 năm nay, phong trào Lòng Thương Xót Chúa của Thánh nữ Faustina, đã phát triển khắp nơi trên toàn thế giới một cách mạnh mẽ, với nhiệm vụ loan truyền và khẩn nài Lòng Thương Xót Chúa cho toàn thế giới, và giúp mỗi thành viên đạt đến sự toàn thiện qua tinh thần sống phó thác hoàn toàn cho Chúa và sống bác ái với mọi người chung quanh. Thật ra, Lòng Chúa Thương Xót không phải là điều gì mới mẽ, bởi vì lịch sử nhân loại, và nhất là lịch sử cứu độ, được đánh dấu rõ nét bằng tình thương bao la của Thiên Chúa. Thiên Chúa là Tình Yêu nên ở bất kỳ đâu, thời điểm nào, cũng đầy dẫy dấu ấn yêu thương của Ngài. Và tình yêu này đã được tỏ hiện một cách rõ rệt nhất nơi Đức Giê-su Ki-tô, Ngôi Hai Thiên Chúa xuống thế làm người, theo chương trình của Thiên Chúa Cha, để cứu nhân loại, qua cái chết và phục sinh vinh hiển của Ngài. Thánh Gioan nhận ra điều này và ghi lại: “Thiên Chúa quá yêu thương thế gian đến nỗi ban chinh Con Một của mình” (Ga 3: 16). Một tình yêu thật lạ lùng như bài Công Bố Tin Mừng Phục Sinh diễn giải trong lễ Vọng Phục Sinh: “Để cứu đầy tớ, Chúa đã hy sinh chính người Con yêu”. Và nhờ đó, Đức Giê-su đã trở nên nguồn ơn cứu độ cho tất cả những ai tin vào Ngài. Những lần Đức Giê-su hiện ra với các môn đệ, sau khi từ cõi chết sống lại, càng nói lên tình thương của Ngài dành cho các ông. Ngài quên hết những lần chối Thầy của Phê-rô, quên sự hèn nhát trốn chạy của các ông, quên sự ngu muội cố chấp của các ông về Nước Trời; và ngay cả  sự cứng lòng của Tô-ma trong bài Tin Mừng hôm nay, Ngài cũng bỏ qua…  . Tất cả chỉ còn lại yêu thương và tha thứ. Đây là đỉnh cao của Lòng Thương Xót. Một cách cụ thể, Lòng Thương Xót của Thiên Chúa được biểu lộ qua Bí Tích Giải Tội do chính Ngài thiết lập: “Các con tha tội cho ai, thì tội người ấy được tha; các con cầm tội ai, thì tội người ấy bị cầm lại” (Ga 20: 19-23). Như vậy, với đức tin và sự hoán cãi, tất cả chúng ta đều có thể mở cửa kho tàng Lòng Thương Xót của Ngài.

Sự Hiển Thắng Của Tình Yêu Qua Bước Đường Khổ Giá

– Lm. Giuse Maria Hoàng Tiến Đoàn, S.J. Dõi theo Phúc Âm Lu-ca theo chu kỳ phụng vụ năm C, chúng ta có thể nhận ra chính mình ngay giữa đám đông với những kẻ bước theo chân Đức Giêsu vào thành thánh Giêrusalem. Chúng ta đã khóc òa trong hân hoan, hòa mình theo tiếng reo vui của dân Do Thái thời ấy, “Alleluia, Alleluia … Hosanna! Chúc tụng Đấng nhân danh Chúa mà đến!” để cùng chào đón Ngài vào Thành Thánh Jerusalem, … Nhưng rồi sau đó Chúng ta lại báng bổ hét vào mặt Ngài, “đóng đinh nó đi, đóng đinh nó đi” trong phiên tòa tại dinh Philatô.   Bị bao vây và bị vùi dập giữa những náo động vinh nhục đầy xúc cảm đó, Đức Giêsu đã chiến đấu một cách anh dũng. Ngài đã kiên cường trả lời và để vâng theo số phận mình, theo đúng ý muốn của Chúa Cha, và hoàn thành sứ mệnh của mình. Ngài đã rửa chân và ôm hôn họ, ngay cả với Giuđa. Ngài đã chữa lành vết thương nơi tai của Malchus, kẻ đã nhào đến tấn công và muốn tóm bắt Ngài. Ngài đã minh nhiên trả lời một cách rành mạch các câu hỏi của Philatô. Ngài cũng đã lặng lẽ nhìn Hêrôđê huyên thuyên cười nói! Trên đường vác khổ giá lên đồi chịu tử hình, Ngài đã đứng lại bảo ban an ủi những người phụ nữ khóc bước theo Ngài. Ngài cảm ơn Simon người Cyrene, kẻ đã gánh vai giúp vác thập giá với Ngài. Ngài đã tha thứ và cầu nguyện cho những tên lính đã hành hung đánh đập, lăng mạ và đóng đinh tử hình Ngài. Ngài đã khích lệ và động viên tinh thần cho tên cướp cùng chịu đóng đinh trên thập tự bên cạnh Ngài. Cuối cùng Ngài đã gục đầu và trút bỏ hơi thở cuối cùng! Phải chăng Ngài đã quỵ ngã và không còn đứng lên được nữa? Chúng ta còn có lời nào nữa để nói về Ngài, Đấng đã hòa mình sống trọn vẹn với chúng ta trong suối dòng lịch sử của nhân loại, và trong lịch sử cuộc sống của mỗi người chúng ta?  Khi Cleopas và bạn của ông hỏi một Người Khách Lạ đang cùng bước đi với họ trên con đường đến Emmaus. Họ hỏi, “Chẳng phải Ngài chính là nguồn hy vọng cuối cùng, và duy nhất của hết thảy mọi người chúng ta sao? Phải chăng cùng với Ngài, mọi sự tốt lành trên quả đất này đã tan biến? Hôm nay như các môn đệ hai nghìn năm trước, chúng ta hét vang lên với một niềm vui vỡ bờ: Không phải thế Ngài đã sống lại và còn đang sống … Sống một cách tràn trề đầy sung mãn. Vì chính Thiên Chúa đã giải cứu Ngài, đã làm cho Ngài sống lại! Thiên Chúa đã chứng thực cuộc sống của Ngài. Sự khổ nạn và cái chết nơi Ngài thực ra là một bằng chứng tột cùng đầy sống động về sự hiển thắng của tình yêu. Tình Yêu Thiên Chúa đã chiến thắng sự tội và sự chết ngay nơi bi thương cùng khốn nhất. Ngài đã sống lại cho hết thảy chúng ta! Ngài đã sống lại để kéo chúng ta lên theo cùng với Ngài đi vào cõi sống vĩnh cửu trong hân hoan bất tận nơi Thiên Chúa như lời Ngài đã hứa trước, “Khi nào Ta được giương cao, Ta sẽ kéo hết thảy các ngươi lên cùng Ta.” Thật vậy, cùng tột của cuộc sống con người không phải là chết, mà là sống! Một cuộc sống sung mãn và tuôn tràn từ sự sống lại nơi Ngài. Sự sống đã vượt thắng sự chết. Nơi Ngài, chúng ta được yêu thương trong một tình yêu bất tận. Tình yêu đã chiến thắng sự tội và sự chết. Thiên Chúa đã giải phòng toàn diện chúng ta trong Đức Kitô. Vì Ngài đã Sống Lại thật rồi! ALLELUIA! Thế giới cũ cuộc sống cũ đã qua đi. Cái cũ đã kết thúc rồi! Một thế giới mới, một cuộc sống mới sinh động đã khai mở và tuôn tràn! Với Ngài và trong Ngài, tất cả đã đổi thay! Không gì còn có thể tiêu diệt, ngay cả sự tội, sự dữ và sự chết. Ngài đã sống lại và còn đang sống sung mãn trong quang vinh và thương yêu bất tận. Tạ ơn Thiên Chúa! Ngài đã sống lại rồi và còn đang sống giữa chúng ta. AMEN, ALLELUIA!

Hy Vọng Đã Vươn Lên Giữa Âu Lo Cùng Khổ

– Lm. Giuse Maria Hoàng Tiến Đoàn, S.J. Khi bước vào Mùa Chay với hai năm đại dịch Covid vừa qua, chúng ta đã rơi vào một tình cảnh khó khăn, hầu như cho tất cả mọi người, đặc biệt là cho trẻ em. Ngoài việc gây ra bệnh tật, đại dịch còn gây ra sự cô đơn, lo lắng và nghi ngại. Giờ đây trong sự giảm nhẹ của cơn đại dịch, chúng ta thấy mình đang chờ đợi – tuy mệt mỏi nhưng đầy háo hức và hy vọng – về một cuộc sống đầy đủ hơn, và sinh hoạt cộng đồng sung túc hơn. Ai trong chúng ta cũng có thể cảm nhận được sự nhẹ nhõm của mình trước những dấu hiệu đầy phấn khởi và hy vọng. Vì vậy, chúng ta sẽ làm những gì tốt nhất có thể để biến những điều này thành hiện thực. Chúng ta cần niềm hy vọng để an ủi nhau trong  những lúc như thế này, khi tương lai vẫn còn mờ mịt chưa được rõ ràng lắm. Và cần phải tin rằng chúng ta sẽ vượt qua cơn đại dịch để tiến đến một bình minh mới. Khi hướng tới Tam Nhật Thánh và Lễ Trọng Phục sinh, chúng ta biết rằng việc tụ tập trong nhà thờ vào những ngày thánh này, với sự thận trọng cao độ có lẽ là điều nghi ngại đối với một số người. Tuy nhiên, chúng ta cũng biết rằng cảm giác đó phản ánh rõ nét nơi các môn đệ của Chúa Kitô trước những lời mời gọi của Ngài rằng mọi người cần phải yêu thương nhau vào chiều Thứ Năm Tuần Thánh; và thông điệp về sự hy sinh hiến thân mình vào ngày Thứ Sáu Tuần Thánh phản ánh qua cái chết khổ nạn thương đau của Ngài. Sự khổ đau qua việc hiến mình chịu chết đã biểu hiện rõ nét về tình yêu bao la của Ngài dành cho tất cả mọi người chúng ta. Chúa Nhật Phục Sinh tỏ hiện tình yêu đã chiến thắng sự dữ và sự chết.Sau cùng, những Sứ Điệp Lời Chúa trong suốt mùa Phục Sinh sẽ đem lại cho chúng ta những trải nghiệm thực sự về một cuộc sống hoàn toàn đổi mới trong ơn phúc dồi dào! Kèm với những lời cảm tạ dâng lên Thiên Chuá và tâm tình tri ân lẫn nhau qua sự dấn thân phục vụ nhau trong tin tưởng và hy vọng, mỗi người chúng ta đang được Chúa kêu mời chia sẻ sứ mệnh của Ngài  trong thế giới hôm nay. Chúng ta khẩn khoản cầu xin Chúa lấp đầy quả tim và tâm trí mình bằng ánh sáng hy vọng, cùng nhau đón chờ một bình minh mới, để cùng nhau khởi đầu sức sống mới dạt dào trong Tin – Yêu – Hy Vọng. Chúng ta hãy cùng nhau cảm nhận, và hân hoan đón mừng cuộc sống mới! Vì Chúa Kitô sẽ sống lại và Ngài đang sống giữa chúng ta. Chúc mừng Lễ Chúa Phục sinh đến với tất cả mọi người ! 

Xa Mà Gần Gần Mà Xa  

– Lm. Maria Giuse Nguyễn Tuấn LongCâu chuyện người con hoang đàng trong Phúc Âm của Luca (năm C) là một trong những câu chuyện xúc tích nhất Chúa Giêsu đã dùng để miêu tả tình thương và lòng thương xót của Thiên Chúa đối với con người. Ba nhân vật chính—người cha và hai anh em—phản ánh rất sắc nét về bản tính và tâm lý của mỗi người chúng ta thường ngày. Tình thương của cha mẹ dành cho con cái là vô biên. Ngược lại, con cái thường có thái độ ngông cuồng, vô ơn, bất hiếu, và thờ ơ trước tình thương và sự quan tâm của cha mẹ. Tuy nhiên xét theo chiều kích tâm lý, đó là chuyện bình thường vì ai rồi cũng phải lớn lên theo thời gian và trải qua nhiều kinh nghiệm mới từ từ nghiệm ra được tình thương. Hình ảnh và thái độ của hai anh em phần nào liên tưởng chúng ta đến tầm quan trọng của kinh nghiệm trong đời sống đức tin. Sống đạo mà không có những kinh nghiệm thực tiễn thì nó cũng là một mớ kiến thức dựa trên lý thuyết và giáo điều. Kinh nghiệm sống cho dù là tốt hay xấu luôn cần thiết cho niềm tin, nhưng nó cũng là một cảm nghiệm dằn vặt nghiệt ngã: một là bỏ hai là tin. Kẻ nào mạnh lòng tin sẽ trở về. Càng thực tâm ăn năn xám hối kẻ ấy càng nghiệm xâu hơn về tình thương của Thiên Chúa. Dưới đây là đôi nét về thái độ của hai anh em giúp chúng ta tự xét mình: Người anh                               Người em– Giận dữ kể công                   – Hồi tâm nghĩ lại– Tự cho mình tốt hơn             – Xấu hổ bản thân với                                                 những gì đã làm– So sánh với người em           – Chấp nhận ngang như                                                 người làm– Bất mãn không vào nhà        – Hy vọng quay trở về– Gần cha nhưng xa lòng        – Xa cha nhưng vẫn tin                                                 vào hy vọng– Chưa vấp ngã nên                 – Vấp ngã dẫn đến cảm thiếu thông cảm                      nghiệm tình thương Suốt bao năm nay chúng ta sống đạo, vậy chúng ta đang đồng hành với Chúa bằng thái độ của người anh hay người em? Nếu là người anh, thì chúng ta nên làm gì để cảm nghiệm sâu xa về tình thương Thiên Chúa? Nếu là người em, thì chúng ta nên làm gì để truyền đạt cảm nghiệm hồng ân đó?   

Ăn Năn và Sự Kiên Nhẫn của Thiên Chúa

– Lm. Maria Giuse Nguyễn Tuấn LongTrong phần đầu Phúc Âm hôm nay, Chúa Giêsu nhấn mạnh đến sự ăn năn sám hối là điều kiện chính yếu để thoải khỏi hệ lụy diệt vong. Trong phần hai, Ngài hướng chúng ta đến lòng nhẫn nại của Thiên Chúa để đối chiếu với sự ăn năn con người. Hai điểm này được coi như là một giao thông hai chiều: Thiên Chúa kiên nhẫn với con người thì ngược lại con người phải biết ăn năn sám hối.   Một khi nói đến tình yêu thương của Thiên Chúa, chẳng có ngôn ngữ loài người nào đủ để diễn tả trọn vẹn tình yêu ấy. Tuy nhiên, tình yêu thương giữa cha mẹ và con cái có thể phần nào giúp chúng ta liên tưởng đến tình yêu của Thiên Chúa. Trước khi sanh con cái, hầu như ai cũng coi thường hay chưa hiểu thấu nỗi lòng của cha mẹ. Đến khi có con cái, ai cũng từ từ nghiệm ra tình yêu thương vô biên của cha mẹ. Cho dù đứa con mình sanh ra có hỗn xược đến đâu thì cha mẹ vẫn kiên trì yêu thương tha thứ. Càng vui mừng hơn khi đứa con hỗn xược đó biết nhận ra và tìm đường quay trở về bên cha mẹ. Nếu con người bình thường mà còn khoan dung đến thế, thì chẳng lẽ Thiên Chúa lại hẹp hòi với con người? Đến hôm nay, nhiều Kitô hữu chỉ chú trọng đến sự trừng phạt của Thiên Chúa hơn là suy gẫm sâu hơn về lòng thương xót của Ngài. Nếu chỉ chọn một  giữa sợ hãi và yêu mến Thiên Chúa, bạn sẽ chọn điều gì? Khi con cái đến với bạn, bạn muốn chúng sợ hãi mà đến hay vì yêu mến mà đến? Để đáp trả lòng khoan dung nhân từ của Thiên Chúa, ăn năn sám hối, đi xưng tội, tham gia việc bác ái là một trong những phương cách hữu hiệu chuyển quyết tâm thành hành động. Ăn năn mà thiếu hành động cũng chỉ là nửa vời. Chính hành động sẽ hun đúc quyết tâm và gia tăng thêm kinh nghiệm sống đạo để từ đó mối tương quan với con người sẽ liên kết mối tương quan của chúng ta với Thiên Chúa. Phương cách linh thao này đã và đang được chứng minh rất cụ thể qua đời sống các thánh như Vinh Sơn, Anphonsô, Phanxicô, Mẹ Têrêsa, Elizabeth Ann Seton v.v. Hơn nữa, càng dấn thân vào những công việc bác ái thì càng dễ đẩy xa những quyến rũ bất chính vì mọi thời gian đều được lấp đầy bởi những công việc có ý nghĩa. Trên lý thuyết mọi sự nghe có vẻ đơn giản, nhưng khi dấn thân vào thì nó lại là một chân trời khổ ải mới. Đương đầu với những thử thách với lòng tin, cậy, và mến cũng là cách ăn năn sám hối vì định nghĩa của việc ăn năn không chỉ có thụ động chừa tội mà còn bao gồm chủ động tham gia vào những công tác bác ái từ thiện. 

Luật Mới Của Chúa Giêsu

– Lm. Maria Giuse Nguyễn Tuấn LongDựa theo phân tích của các nhà chú giải Kinh Thánh, sự kiện gặp gỡ giữa Chúa Giêsu, Môsê, và Êlia trên núi mang một ý nghĩa mặc khải về sứ mệnh và căn tính của Chúa Giêsu: Môsê gắn liền với lề luật và Êlia là tiên tri (Hultgren, 2010; McLarty, 2007; Shauf, 2013). Với sự liên quan đến hai nhân vật gạo cội của Cựu Ước, tác giả Luca rất có thể muốn nhấn mạnh Chúa Giêsu là sự kiện toàn và là trọng tâm mà các tiên tri đã tiên báo cũng như lề luật mới của Ngài mang đậm nét nhân bản lấy con người làm trung tâm điểm thay vì lề luật. Tiếp theo, lời xác nhận từ đám mây càng cho thấy rõ chân dung và sứ vụ của Ngôi Hai dưới thế. Bởi thế, nghe theo lời Chúa Giêsu dạy cũng đồng nghĩa với lắng nghe thánh ý Cha. Như vậy, hành động xuống núi có thể được coi như là lời mời gọi dấn thấn đem chân lý Kitô vào đời.Nếu chúng ta để ý, người Do Thái dưới thời Cựu Ước lẫn Tân Ước, ngay cả đến hôm nay, vẫn rất coi trọng hình thức lề luật. Ai đã từng đi Do Thái thì cũng biết họ giữ luật ngày sabbát rất khắc khe. Có lần những khách hành hương chúng tôi (người Việt lẫn ngoại quốc) vào thăm mộ vua Đavít, người gác cổng bỗng nhiên quát tháo chúng tôi giữ thinh lặng một cách rất cộc cằng thô lỗ rồi bình thản cúi xuống đọc Kinh Thánh. Giả sử Chúa Giêsu là một trong những khách hành hương thì Ngài sẽ nói gì? Lề luật hay luật pháp luôn cần thiết trong xã hội, nhưng nó chỉ là phương tiện chứ không phải cùng đích. Chỉ có con người và mối tương quan với nhau mới chính là cùng đích. Nếu con người biết mến Chúa và yêu người cách thực thụ, thì lề luật sẽ trở nên dư thừa. Tuy nhiên, thực tế đã và đang cho thấy bản ngã con người luôn cần đến khuôn khổ luật pháp. Dẫu sao thì luật mới của Chúa Giêsu dạy chúng ta yêu người như chính mình, làm cho người khác điều mình muốn, và tha thứ kẻ thù v.v. luôn là thách đố cũng như là kim chỉ nam chính xác hướng chúng ta đến với chân thiện mỹ mỗi ngày.

Ba Cơn Cám Dỗ

– Lm. Maria Giuse Nguyễn Tuấn Long Ba cám dỗ Chúa Giêsu đã đối đầu với ma quỷ: đói, quyền lực, và cậy dựa vào kẻ khác. Thông thường cái đói thể xác dễ làm con người trở nên suy nhược tinh thần và quỵ lụy trước miếng ăn. Thực tế sống đã và đang chứng minh điều này. Khi có của ăn thức uống đầy đủ, con người dễ nói chuyện luân lý đạo đức, nhưng khi đối mặt với túng thiếu đói nghèo, sống luân lý đạo đức quả là một cực hình. Lý thuyết đạo đức dần dần được giảm xuống chỉ còn là một diễn giải cá nhân để biện hộ cho hành động kiếm ăn. Sống đức tin bị kẹt giữa lý trí và bản năng sinh tồn. Cám dỗ thứ hai là quyền lực và vinh quang thế gian điều mà con người luôn mê mẩn khát khao vì có quyền là có tiền. Có tiếng là có miếng. Có danh là có lơi. Quyền lực có một sức hút vô hình rất mãnh liệt và điển hình nó được thể hiện rất rõ nét ở những chính trị gia. Có người nắm quyền hành cả chục năm nhưng vẫn luôn muốn bám trụ ở độ tuổi xế chiều. Tại sao họ không vui hưởng sự an nhàn của quãng đời còn lại? Cuộc sống và suy nghĩ con người chẳng ai giống ai. Cơn cám dỗ cuối của Chúa là sự cậy dựa vào thiên thần gìn giữ. Con người thường có khuynh hướng cậy dựa vào thân thế hay quen biết những người có quyền lực trong xã hội. Để thành công trong đời thường và nhất là trong quân đội, nó không chỉ quan trọng là chúng biết gì mà chúng ta cần phải biết ai và ai biết mình. Ví dụ: Một vị tướng sẽ rộng đường thăng hoa một khi được bộ trưởng quốc phòng hay tổng thống biết đến tên tuổi. Tất cả những thứ này đều thừa thãi và không cần thiết đối với Chúa Giêsu và Ngài đã chứng minh và chu toàn sứ mệnh mà chẳng cần đến những phương tiện này. Trở về với cuộc sống thường ngày của chúng ta trong mùa Chay này, ba cám dỗ trên là những cám dỗ tiêu biểu để chúng ta suy gẫm sâu xa hơn về cuộc chiến tâm linh mà mỗi người chúng ta đang phải đối diện và vật lộn giữa thể xác và tinh thần, lý trí và bản năng, tâm linh hay/và tâm lý. Bị cám dỗ không phải là tội, nhưng xa chước cám dỗ mới thành tội. Vậy để phần nào tránh xa chước những cám dỗ, mỗi người chúng ta nên dành thời gian tĩnh lặng suy gẫm, cầu nguyện, và tham gia những công việc bác ái từ thiện. 

Kitô Hữu Đích Thực

– ĐÔ. Phaolo Phan Văn HiềnPhê phán tiêu cực về người khác là một tật xấu gắn liền với bản tính con người từ ngàn xưa cho đến ngày nay. Tật xấu này bắt nguồn từ tính tự kiêu, muốn mình nổi bật, nên tìm mọi cách để đè bẹp, hạ bệ người khác, dù phải nói sai sự thật, vu khống bất công, vì nghĩ rằng làm như vậy mình sẽ được nâng cao lên.   Bài đọc I của sách Huấn Ca trong Chúa Nhật hôm nay đã khuyến cáo dân chúng nên phân biệt người tốt xấu qua chính lời nói của họ: “Nết xấu của một người cũng xuất hiện trong lời nói… Xem trái liền biết cây thế nào, thì nghe lời nói cũng biết tư tưởng lòng người như thể ấy”.  Lời chỉ dạy của sách Huấn Ca trên đây phản ảnh một phần nào giáo huấn của Chúa Giêsu trong bài Tin Mừng của Thánh Luca hôm nay. Chúa Giêsu lên án những ai phê phán một cách bất cẩn, bất công, vội vàng với hậu ý xấu về thái độ, cảm xúc, ý hướng và hành động của người khác. Ngài dùng hình ảnh hai người mù dẫn đường cho nhau, và hình ảnh một người tìm cách lấy cọng rác trong mắt người khác mà quên trước hết phải lấy cái đà lớn ra khỏi mắt mình, để nói lên kiểu sống giả dối, lố bịch của hạng người này.Một cách cụ thể, đây chính là hạng người chuyên nói hành nói xấu, bịa đặt phao tin, ngồi lê đôi mách. Và như vậy, họ hủy hoại danh dự của người khác một cách trầm trong đến nỗi không thể nào hàn gắn lại được. Chúa Giêsu đã ví họ như những cây xấu, suốt đời không thể sinh trái tốt. Và tất nhiên, đó không phải là cách sống của người Ki tô hữu. Vậy đâu là cách sống của người Ki tô hữu đích thực. Người Ki tô hữu đích thực là người biết dùng lời nói của mình để đem lại bình an, hiệp nhất, niềm vui và hy vọng cho những người chung quanh. Cuộc đời họ gắn liền với Đức Ki tô qua việc cầu nguyện và sống theo lời Ngài chỉ dạy, nên họ nhận ra được tất cả mọi người đều là anh chị em của mình, thật tâm yêu mến, và muốn cho nhau những điều tốt đẹp nhất. Chính nhờ đó, họ luôn tôn trọng người khác, và để quyền phán xét cho một mình Thiên Chúa.Cuộc đời Đức Hồng Y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận là một mẫu gương của người Ki tô hữu đích thực. Ngài xem 13 năm tù như là một cuộc tĩnh tâm dài, không hề oán hận, than trách bất kỳ một ai. Trái lại, Ngài luôn yêu thương mọi người, kể cả những kẻ canh gác Ngài, vì Ngài nhận ra được chính những người có thái độ thù nghịch này cũng là con cái của Thiên Chúa, và đáng được yêu thương hơn. Ngài tin hoàn toàn vào Chúa. Kinh nghiệm này được Ngài viết lại trong cuốn sách Đường Hy Vọng: “Giữa những đau khổ, oan ức, những giả dối, bất công, con hãy vững vàng tuyên xưng với toàn thể dân Chúa: “Và người sẽ trở lại trong vinh quang, để phán xét kẻ sống và kẻ chết, nước Người sẽ không bao giờ cùng.” (ĐHV 679) Và để trở thành Ki tô hữu đích thực, Ngài khuyến khích mỗi người chúng ta: “Hãy nhìn mọi sự với con mắt của Thiên Chúa, con sẽ thấy giá trị khác, kích thước khác” ĐHV 111).