Ai Là Hàng Xóm Của Tôi?

Nhớ ngày nào còn ở Việt Nam, những hình ảnh đẹp trong ký ức vẫn còn đó với những ngôi nhà sập xệ sát vách và những người hàng xóm vẫy tay chào hỏi nhau mỗi sáng qua hàng rào. Hai thập niên đổ lại đây kể từ khi nối lại bang giao với Hoa Kỳ năm 1994, nền kinh tế nước nhà từ từ tăng tốc và trở thành một trong các quốc gia có đà tăng trưởng kinh tế mạnh ở Châu Á. Nhìn từ góc độ kinh tế, nạn đói và nghèo vẫn còn đó, nhưng so với những thập niên 70 và 80 thì khá hơn nhiều. Thế nhưng đi sâu vào thực tế xã hội, sự thiếu quân bình trong tăng trưởng kinh tế và nạn tham nhũng lạm quyền đang là một trong những nguyên nhân chính phát sinh ra một quái thai của sự phân biệt, bất công, bóc lột và bất bình đẳng xã hội. Thiểu số người giàu cứ giàu lên còn đa số người nghèo lại càng nghèo. Có thể nói dưới cái xã hội chủ nghĩa, chỉ có 3 tầng lớp: cực giàu, nghèo và bần cùng. Giới trung lưu trong nước vẫn chỉ là tầng lớp nghèo khá hơn lớp bần cùng. Nhìn từ góc cạnh tâm linh, đây cũng chính là một trong những trăn trở cho các vị chủ chăn tinh thần trong việc định hướng cho những mục vụ tương lai. Khi người dân có tiền, họ bắt đầu xây nhà lầu và mua xe hơi chạy. Xây nhà lầu cũng đồng nghĩa xây những bức tường ngăn cách nhau. Hàng xóm ở các thành phố lớn không còn nhìn nhau qua hàng rào, nhưng qua những xong cửa sắt to cao hoặc qua màn hình an ninh. Chạy xe hơi có vẻ như là một lời khẳng định vị trí mình trong tầng lớp xã hội. “Nhưng ai là anh em của tôi?” “Nhưng ai là anh em của tôi?” Đây là câu hỏi dễ trả lời đối với người thông luật, nhưng đó lại là một câu hỏi khó trả lời, một sự giằng co lương tâm đối với những Kitô hữu chân chính. “Kẻ đã tỏ lòng thương xót” là câu trả lời. Không nhiều thì ít, chúng ta thường hay bị áy náy lương tâm khi tỏ lòng thương xót. Điển hình, khi thấy những người đứng xin tiền ở các nhà thờ hoặc lề đường freeway exit. Lòng thì rất muốn cho, nhưng tâm trí thì rút lại. Để đồng cảm và bớt áy náy, chúng ta nên đi từng bước một. Tôi xin đề nghị chúng ta nên tập thói quen nhớ đến những người nghèo khi cầu nguyện trước mỗi bữa ăn. Không nhất thiết chúng ta phải giúp họ bằng thiện kim, nhưng có thể bằng những hình thức khác. Có lần tôi đang dừng đèn đỏ. Một người ăn xin chạy đến. Tôi đưa cho anh ấy một thẻ mua cà phê Starbucks. Thay vì nói lời cảm ơn, anh ấy hỏi: “Còn bao nhiêu trong này?” “Đủ để có ăn thôi!” Ăn xin bây giờ thích xin tiền, không thích xin ăn. Tôi thiết nghĩ không giúp người nghèo được nhiều, nhưng có giúp cho họ ăn đã là một bước nhỏ mà đẹp rồi.

Đời Tu: Dấn Thân Hay Tiến Thân?

Lúa chín đầy đồng mà thợ gặt thì ít” phản ánh một thực tế Giáo hội chưa bao giờ có đủ thợ gặt trong cánh đồng truyền giáo cũng như rao giảng Tin Mừng. Rất nhiều giáo phận lớn thuộc các quốc gia đệ nhất trên thế giới đang phải đối diện với sự thiếu hụt Linh mục một cách trầm trọng. Tổng giáo phận Los Angeles của chúng ta là một trong những ví dụ điển hình. Hiện giờ chúng ta có khoảng 5 triệu giáo dân và 287 giáo xứ. Trong khi đó tổng số Linh mục đang phục vụ là khoảng 1,200: 50% Linh mục triều và nửa kia là thuộc về dòng. Bình quân một Linh mục phải coi sóc 4,166 giáo dân. Đó là tính luôn những Linh mục đang bị ốm đau nhưng chưa nghỉ hưu. Để khắc phục sự  thiếu hụt này, Tổng giáo phận Los Angeles cũng như các giáo phận khác đã phải nhờ vào sự trợ giúp của các Linh mục thuộc các quốc gia nghèo đệ tam như Phi Luật Tân, Nigeria và Ấn Độ. Đây còn gọi là xuất nhập khẩu Linh mục. Điều này thường kéo theo những hệ lụy khác theo sau như ngôn ngữ, hội nhập văn hóa và di dân. Một ví dụ tương tự khác là Tổng giáo phận Sài Gòn. Người trẻ trong thành phố hôm nay không còn quan tâm đến ơn gọi Linh mục. Đa số chủng sinh là thuộc các tỉnh khác về. Sự thay đổi tư duy này khiến các bậc có trách nhiệm phải đặt ra nhiều câu hỏi. Tại sao ơn gọi Linh mục đang có vẻ ngày càng cạn kiệt ở các nước giàu có? [Đặc biệt ở Hàn Quốc thì vẫn có xu hướng tích cực] Đi tu ở các nước nghèo là cơ hội để dấn thân hay tiến thân? Đâu là nguyên nhân của sự thiếu hụt ơn gọi? Phương hướng mục vụ cho tương lai là gì và làm sao? Nếu chúng ta can đảm trực diện thẳng vấn đề, một trong những nguyên nhân chính không thu hút người trẻ trong ơn gọi Linh mục hay tu trì hôm nay là vì họ không còn tìm thấy được niềm vui, an bình và ý nghĩa nơi chính đời sống Linh mục hay tu trì. Cái lý tưởng đời tu rất cao thượng mỹ miều, nhưng đồng thời nó cũng là những chặng đàng thánh giá đầy nhiêu khê. Thử hỏi đâu là sức hấp dẫn của đời tu khi thấy một Linh mục độc tài, tự cao, kém học, hám lợi, ích kỷ, biếng nhác và hay khó khăn với giáo dân? Còn đâu là đam mê khi bục giảng trở thành nơi lên án và bêu xấu nhau hằng tuần? Phải chăng đây cũng lý do nhiều cha mẹ hôm nay không còn khuyến khích con cái mình đi tu vì đời tu cũng đồng nghĩa với đời tù. Tuy nhiên bên cạnh đó, chúng ta phải nhìn nhận có rất nhiều Linh mục và tu sĩ nam nữ đã và đang xả thân phục vụ một cách nhiệt thành và hăng say. Là những phần tử trong Giáo hội, chúng ta luôn đối diện với những thăng trầm thay đổi trong cuộc sống mỗi ngày. Chúng ta không thể để những tiêu cực khuất phục hay làm nhụt chí thoái lui. Trái lại, mỗi người chúng ta nên tự nhủ với lòng mình phải trở thành một nụ hoa của hy vọng và hạnh phúc giữa lòng Giáo hội. Hãy liên lỉ cầu xin Chúa ban cho Giáo hội có thêm nhiều Linh mục, tu sĩ và gia đình thánh thiện. Nếu chọn một trong hai giữa một Linh mục bê bối và không có Linh mục, bạn sẽ cái nào? Tôi chọn Linh mục bê bối vì người đó chính cơ hội để tôi nên thánh qua lời cầu nguyện và những nhân đức khác. Thánh Gioan Vianney, quan thầy của các Linh mục, đã từng nói: “Hãy để một giáo xứ hai mươi năm không có Linh mục: bấy giờ người ta sẽ thờ thú vật.”     Xin bạn hãy nhớ đến các anh em Linh mục tu sĩ nam nữ nhiều và thật nhiều trong lời kinh mỗi ngày. Chân thành cảm ơn.

Sống Là Đối Diện

Người ta: “Dù Thầy đi đâu tôi cũng đi theo Thầy”. Chúa Giêsu: “Con chồn có hang, chim trời có tổ, Con Người không có chỗ gối đầu”. Theo Chúa là chấp nhận đi theo điều không tưởng (unimaginable), điều không biết (unknown) cùng với những ngỡ ngàng (surprises). Chỉ có đức tin là la bàn. Nhiều lúc một mình thong dong qua các nẻo phố phường, tôi nhìn vào những căn hộ thấy nhiều gia đình quây quần ăn uống vui vẻ bên nhau dễ chạnh lòng tội nghiệp cho thân mình. Cô đơn là chuyện không thể thiếu vắng ở đời này. Giáo dân hay nói đùa về các cha, nhất là các cha trẻ thường dễ bị các cô theo như cô đơn, cô độc, cô ly v.v. Thôi thì có côgnac và côca-côla bù vào cũng được, nhưng lúc nào cũng phải đề phòng côcain. Bắt đầu bởi một lý tưởng của niềm tin, nhiều người trẻ đã ấp ủ và xả thân theo đuổi ơn gọi dấn thân. Cuối cùng, chồn có hang, chim có tổ, nhưng mình lại không có chỗ gối đầu như Thầy. Nay ăn cơm nhà này xứ nọ, mai đến trọ xứ kia nhà khác. Cứ thế, cuộc đời theo chân Chúa sẽ mãi là những dấu chân của lý tưởng đem niềm vui và Tin Mừng đến cho mọi người. Mọi người là gia đình. Thế gian là quán trọ. Đời sau là đích điểm. Sống là đối diện với những chọn lựa mỗi ngày. Sự quyết định theo Chúa đòi hỏi mỗi người chúng ta phải có quyết chí và biết chấp nhận những gì mình đã chọn. Một trong những cám dỗ mà chúng ta dễ vấp phải là đứng núi này trông núi nọ. Chúng ta thích quay lại với những điều không thể hoặc đã trễ. Đối với tất cả mọi ơn gọi trong Giáo hội, sự quyết định và quyết tâm theo Chúa đều là một sự chấp nhận đời sống vượt trên bản năng con người bình thường. Tu sĩ lẫn giáo dân đều có một quy tắc luân lý đi liền với những chọn lựa. Gian nan có chắc, nhầy nhụa bao la, nhưng sự bình thản xâu tận trong tâm hồn chính là niềm an ủi cho những ai hướng tới mà không lùi. Lạy Chúa, sống làm một người tốt quả là quá khó Chúa ơi! Xin Chúa giúp chúng con biết sống và chấp nhận một cách vui vẻ với những gì chúng con đang có và đang còn hôm nay. Xin Ngài giúp chúng con biết cậy trông và đặt trọn niềm tin vào Ngài hôm nay, ngày mai và suốt cả đời này. Amen.

Lối Suy Nghĩ Của Thiên Chúa

Phần các con, các con bảo Thầy là ai?” Trong tâm lý học, câu hỏi này thường được dùng để đào xâu về căn tính cá nhân. Tôi muốn biết rõ về mình qua cái nhìn của những người chung quanh. Có những người cảm thấy tự tin hơn trong đời sống khi được người khác khen tặng. Người khác thì tăng thêm lòng tự trọng vì thu hút được sự chú ý của kẻ khác. Mỗi con người tự chính bản thân đã là một sự phức tạp. Mỗi con người là một cá tính riêng và suy nghĩ khác nhau. Ai cũng muốn mình được tỏa sáng hơn kẻ khác. Đối với Chúa Giêsu, câu hỏi trên không phải để dò thăm sự tỏa sáng của mình, nhưng là để chỉnh sửa cái nhìn lệch lạc của con người về Thiên Chúa. Bằng chứng là sau khi Simon Phêrô đã nhận ra được Chúa Giêsu là Đức Kitô của Thiên Chúa, Ngài đã căn dặn các ông không được nói với ai về Ngài. Tiếp theo, Ngài đã hé lộ sứ vụ của mình trong tương lai: “Con Người phải chịu nhiều đau khổ, bị các kỳ lão, các thượng tế, và các luật sĩ từ bỏ và giết chết, nhưng ngày thứ ba sẽ sống lại.”  Với sự tiết lộ này, Chúa Giêsu đã thay đổi cái nhìn của các môn đệ về Thiên Chúa.  Vào thời điểm đó cho đến tận hôm nay, người Do Thái vẫn luôn mong chờ một đấng cứu thế đến để thiết lập lại trật tự và đưa dân tộc họ trở lại thời hưng thịnh như Solomon.  Đối với họ, Thiên Chúa phải là một đấng có quyền năng và sức mạnh. Như vậy, những gì Chúa Giêsu đã nói với các môn đệ là hoàn toàn đi ngược lại với quan điểm của người Do Thái. Nếu Thiên Chúa chịu đau khổ rồi bị giết, vậy thì Thiên Chúa và con người có khác nhau gì đâu? Đây cũng chính là sự khác biệt giữa Kitô giáo và các tôn giáo khác. Thiên Chúa của Kitô giáo là một Thiên Chúa nhập thể. Ngài ở rất xa nhưng cũng rất gần chúng ta. Ngài có thể dùng quyền năng để hủy diệt mọi sự, nhưng Ngài đã chọn tình thương làm phương tiện. Giá trả cho tình thương là sự hy sinh con người mình. “Vì kẻ nào muốn cứu mạng sống mình thì sẽ mất nó. Còn kẻ nào mất mạng sống mình vì Ta, thì sẽ cứu được mạng sống mình”.

Chúa Giêsu và Người Đàn Bà Tội Lỗi

Người vào nhà người biệt phái và vào bàn ăn. Chúa Giêsu rất giản dị và hòa đồng ăn uống với tất cả mọi thành phần trong xã hội. Trong khi đó, điều này rất hiếm hoi đối với các thầy Rabbi. Chợt có người đàn bà tội lỗi trong thành. Người đàn tội lỗi này là ai? Các nhà chú giải Kinh Thánh vẫn chưa có câu trả lời nhất định, nhưng có hai luồng suy luận nghiêng về (1) Maria Mađalêna và (2) Maria chị em của Lazarô. Tội lỗi của bà này là gì? Đa số nghĩ bà ta là một gái điếm. Trong thành nào? Chưa có câu trả lời. Nghe biết Người đang dùng bữa. Bằng cách nào bà ta nghe biết về Người? Rất có thể qua những tin đồn hoặc chính bản thân đã chứng kiến những phép lạ, những lời giảng dạy và cung cách giản dị đơn sơ. Bình bạch ngọc đựng thuốc thơm. Thuốc thơm là một trong các thứ xa xỉ mà nhiều người có tiền mới có khả năng sở hữu. Bà đứng phía chân Người khóc nức nở, nước mắt ướt đẫm chân Người, bà lấy tóc lau, rồi hôn chân và xức thuốc thơm. Nước mắt và tiếng khóc cho thấy sự đau khổ bị dằn vặt trong tâm hồn. Cử chỉ lau, hôn và xức thuốc thơm thường được dành cho các thầy Rabbi. Những cử chỉ này không chỉ chứng minh Chúa Giêsu là một Rabbi nhưng còn cho thấy Ngài còn là một Thiên Chúa luôn mở lòng và tha thứ cho bất cứ mọi tội lỗi, mọi thành phần trong xã hội. Chính vì thế, Ngài đã để cho người đàn bà tội lỗi chạm vào Ngài. Vào thời đó, nói chuyện với người khác phái nơi công cộng thôi đã là chuyện cấm kị huống chi đây là người đàn bà tội lỗi. Người biệt phái đã mời Người nghĩ thầm rằng: ‘Nếu ông này là tiên tri thì phải biết người đàn bà đang động đến mình là ai và thuộc hạng người nào: là một người tội lỗi.’ Nghĩ thầm ám chỉ trong tư tưởng. Tiên tri và người tội lỗi là hai đẳng cấp người không thể làm bạn bè với nhau. ‘Tội con đã được tha rồi… Đức tin con đã cứu con, con hãy về bình an.” Chỉ có Thiên Chúa hoặc đấng toàn năng mới dám nói những câu này. Đối với những người thời đó, tội lỗi và giai cấp xã hội là lực cản vô hình trong đời sống thường ngày. Riêng đối với Chúa Giêsu, tình người là trên hết. Kết luận: Ai tội lỗi nhiều bao nhiêu thì càng phải được yêu thương và tha thứ nhiều bấy nhiêu. Thiên Chúa luôn yêu thương và chấp nhận con người. Chỉ có con người mới không chấp nhận nhau và phủ nhận Ngài. Người đàn bà tội lỗi đã được Chúa Giêsu thương yêu nhiều vì bà ta đã dám tin vào lòng thương xót của Ngài với lòng thành ăn năn hối cải.

Phục Hồi Hy Vọng: Một Thách Đố Lớn

Trước sự ra đi của người thân yêu, một tác giả đã nhận định thế này: mất đi cha mẹ là mất đi quá khứ, mất đi anh chị em trong gia đình là mất đi hiện tại, và mất đi con cái là mất cả tương lai. Nhận định này rất chính xác. Mỗi một sự mất mát đều hoàn toàn khác nhau. Nỗi mất mát cha mẹ không bao giờ tương đồng với nỗi mất mát con cái. Khi gặp gỡ để an ủi gia đình tang quyến, các tâm lý gia và cố vấn gia đình khuyên chúng ta nên tránh dùng những lời chia sẻ sau đây: Tôi rất lấy làm tiếc và tôi hiểu cảm giác của bạn lúc này ra sao. Đừng buồn nữa, đó là thánh ý Chúa. Trước sau gì chúng ta cũng ra đi mà v.v. Riêng cá nhân tôi, nói câu chia buồn rồi giữ thinh lặng là tốt nhất. Ai biết chính xác được tâm trạng của người ở lại như thế nào mà dám nói “tôi hiểu cảm giác của bạn”? Biết còn chưa xong mà lấy gì hiểu nổi. Thánh ý Chúa sao mà khó hiểu quá vì đứa bé có tội tình gì đâu mà phải chết? Chúa ở đâu không ra tay cứu, đợi chết rồi mới là thánh ý.  Trước hay sau là chuyện phải đến trong thời gian và không gian, nhưng trong lúc bối rối u buồn không phải là lúc để ôn bài. Có những lời an ủi vô tình lại làm cho người thân đau khổ thêm đơn giản là vì đó cũng chỉ là những lời an ủi suông. Trong câu chuyện Phúc Âm tuần này, Chúa Giêsu đã thấy rõ sự mất mát cả một bầu trời tương lai của người đàn bà góa nên Ngài đã không chỉ an ủi bằng lời mà còn ra tay phục hồi sự sống cho người con. Sự sống lại của người con cũng đồng nghĩa với tương lai hy vọng của người mẹ. Làm cho một người tuyệt vọng có lại được niềm hy vọng trong cuộc sống là một thách đố cực kỳ khó khăn cho mỗi Kitô hữu trong thời buổi này. Tuy nhiên, Thiên Chúa chẳng bao giờ đòi hỏi chúng ta phải làm phép lạ như Ngài, nhưng qua cách sống chân thành vui vẻ với anh em, đó cũng là đủ để đem lại niềm vui và hy vọng cho kẻ khác ở đời này rồi.

Lạy Chúa, Con Chẳng Đáng Chúa Ngự Vào Nhà Con

Nhiều giáo dân vẫn lấn cấn ở câu hỏi: Con được rước lễ mấy lần trong một ngày? Ngoại trừ giờ phút lâm tử, “ai đã rước lễ rồi thì có thể rước lễ một lần nữa trong ngày đó, nhưng chỉ ở trong Thánh Lễ mà họ tham dự” (Giáo luật #917). Như vậy chúng ta có thể nói là 2 lần trong một ngày, nhưng người đó phải tham dự Thánh Lễ một cách trân trọng và nghiêm chỉnh chứ không phải thích rước là rước. Nếu chúng ta chỉ diễn giải luật một cách cứng nhắc và cô đọng ở bao nhiêu lần hoặc phải thế này thế nọ v.v., thì nhiều Linh mục phải giải thích sao đây khi dâng năm hay sáu Thánh Lễ trong một ngày? Lề luật là điều cần thiết trong bất cứ mọi tổ chức hay cơ cấu xã hội con người. Riêng đối với Giáo Hội, giáo luật không chỉ giữ trật tự và kỷ cương mà chính yếu là giúp đem lại ơn cứu rỗi cho linh hồn. Bởi thế, chúng ta nên diễn giải luật theo chiều hướng đem lại ích lợi thiêng liêng cho linh hồn. Không nên dùng luật để bắt bí hay sát phạt anh em. Khi lên rước lễ, chẳng một ai trong chúng ta là xứng đáng. Đã không xứng đáng thì dù có rước lễ một lần cũng bất xứng. Tuy nhiên nói là xứng đáng hay không chỉ là chuyện hợp lý, nhưng lại không hợp tình. Cái tình mới chính là quan trọng. Rất nhiều lần Chúa Giêsu phải dùng câu “khốn cho các ngươi” để quở trách những thành phần ưu tú, thông thái về luật và giữ luật chỉ vì họ sống theo luật lệ, nhưng vô cảm với tinh thần và mục đích của luật lệ. Trong ngày lễ kính Mình Máu Thánh Chúa, tôi thiết nghĩ chúng ta nên xem lại cách cư xử của chúng ta với anh em như thế nào trong một ngày quan trọng hơn việc rước lễ bao nhiêu lần một ngày. Rước lễ nhiều lần mà trở thành nhàm chán thì không nên. Rước lễ trên hai lần mà lòng luôn khát khao thì vẫn tốt hơn. Nói cho cùng, Mình và Máu Thánh Chúa luôn luôn là thần lương cho những kẻ biết mình bị đói khát tâm hồn.

Tình Yêu: Mối Tương Quan Ba Ngôi

Mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi có thể được hiểu nôm na như sau: Tình yêu giữa Chúa Cha và Chúa Con là Chúa Thánh Thần. Sự khắng khít của Ba Ngôi là tình yêu. Tình yêu chính là Thiên Chúa. Sự chú giải này đơn thuần cũng chỉ là ngôn ngữ loài người vì thực chất chẳng ai có thể hiểu thấu nổi mầu nhiệm này. Nếu chúng ta hiểu được mầu nhiệm, thì mầu nhiệm tự nó cũng chẳng còn nhiệm mầu. Điểm đặc biệt của mầu nhiệm một Chúa Ba Ngôi có thể nói là sự tương quan giữa Cha, Con và Thánh Thần. Tất cả đều là tình yêu. Cứ mỗi khi cử hành kính mầu nhiệm này, tôi nhận thấy hình ảnh của gia đình cũng có đôi nét tương đồng – cha, mẹ và con cái. Quả thật, một gia đình thật sự sống trong tình yêu thương đùm bọc lẫn nhau là một gia đình của mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi. Đáng tiếc là nhiều gia đình hôm nay đang sống trong thù hận và chán chường. Vì thời gian có hạn, điểm nhấn của bài suy niệm tuần này là mối tương quan vợ chồng. Đời sống gia đình có muôn vàn niềm vui pha trộn lẫn nỗi sầu. Sống với nhau càng lâu, tình yêu cũng từ từ bay mầu. Trong đôi mắt của nhau, người kia là nợ đời, duyên thì ít mà nợ thì nhiều. Biết bao cảnh đời phải chan cơm canh bằng nước mắt cho qua ngày. Một cuộc tình thật hạnh phúc là cả hai đều có cùng một tư tưởng thầm kín và lời cầu nguyện, đó là, cầu xin Chúa cho mình được trở nên là người đầy tớ trung thành của người phối ngẫu mình.  Trong thực tế, nhiều người ông chồng không tôn trọng phẩm giá của vợ mình.  Một số xem họ gần như là một phương tiện sinh dục để thỏa mãn những dục vọng thay vì tôn trọng một nhân phẩm con người. Có thể nói nhiều người vợ Công giáo bị cưỡng hiếp một cách hợp pháp chẳng qua là vì họ đã chấp nhận bí tích hôn phối. Nhiều người vợ cứ phải chịu đựng với ý nghĩ để bảo vệ hạnh phúc gia đình. Trong khi đó, nhiều ông chồng cứ nghĩ là mình có toàn quyền sau khi cưới. Tình yêu chân thật phải luôn được đặt trên nên tảng của sự tôn trọng lẫn nhau – sự khó chịu của người kia cũng là sự khó chịu của mình. Matthew Henry, một giáo sĩ chú giải Kinh Thánh vào thế kỷ 17, có nói như thế này: Người đàn bà được tạo dựng từ xương sườn cạnh người đàn ông, không phải từ trên đầu để ngồi lên đầu, cũng chẳng phải từ chân để bị chà đạp, mà là ở dưới cánh tay người đàn ông để được bảo bọc, gần gũi với trái tim, được yêu thương bởi người đó. Để đáp lại, người vợ cũng không được coi thường chồng mình cho dù anh ấy không đáp ứng đủ những điều kiện mình mong đợi. Người vợ không nên so sánh chồng mình với bất cứ người đàn ông khác. Lý do đơn giản là vì tất cả chúng ta đều là con người, không phải là sản phẩm hay mỹ phẩm trên thị trường mà bị coi thường để so sánh. Cầu thủ banh bầu dục Andrew Luck rất thán phục đồng nghiệp Peyton Manning, nhưng anh ấy nói “Tôi sẽ trở nên điên khùng nếu mỗi sáng thức dậy tôi cứ so sánh mình với anh ấy.” Phải chăng, sự yếu đuối của người chồng thường được bù trừ bởi sự mạnh mẽ của người vợ trong gia đình. Ước gì trong ngày lễ mừng kính Chúa Ba Ngôi, mỗi tình yêu vợ chồng sẽ là sự phản chiếu của tình yêu Thiên Chúa trong gia đình, trong giáo xứ, trong xã hội và trong Giáo hội.  

Đừng Sợ Chúa Thánh Thần

Ai không tin Chúa Thánh Thần đang hoạt động trong Giáo Hội là mặc nhiên phủ nhận lời của Chúa Giêsu với các tông đồ. Kinh Thánh nói rất rõ: “Người thổi hơi và phán bảo các ông: ‘Hãy nhận lấy Thánh Thần.’” Chúa Thánh Thần chính là hơi thở và là sức sống của Giáo Hội. Trải qua bao thế kỷ với những thăng trầm, Giáo Hội vẫn đứng vững giữa thế gian. Gần đây với những vụ xì căng đan lạm dụng tính dục hoặc ấu dâm, nhiều người cho rằng đây sẽ là đòn đo ván Giáo Hội Công Giáo. Đúng là nhiều giáo dân đã bỏ Giáo Hội vì cảm thấy bị bội phản, nhưng ngược lại, cũng không ít giáo dân lại cho thấy đức tin trưởng thành của họ qua việc tiếp tục hăng say phục vụ và an ủi Mẹ Giáo Hội. Lòng khoan dung vị tha cho những yếu đuối của các giáo sĩ hư đốn có phải là tinh thần thánh (thánh thần) không? Đặt niềm tin vào Đức Kitô, không phải ở con người, có phải là ơn khôn ngoan do Chúa Thánh Thần thông ban không? Nếu Chúa Giêsu đã từng đi hai chân trên mặt đất và té ngã ba lần khi vác thập giá, thì chắc chắn Giáo Hội vẫn tiếp tục đi giữa lòng đời và luôn đối diện với những thử thánh con người. Chúa Thánh Thần chắc chắn phải hoạt động và hướng dẫn Giáo Hội, nếu không Giáo Hội chỉ là một cái xác không hồn. Là một phần tử của Giáo Hội, chúng ta có bổn phận xây dựng sự đoàn kết Kitô hữu. Có những lúc chúng ta cảm thấy hoang mang trước những thay đổi mới trong Giáo Hội. Đừng sợ vì chẳng một ai có thể đánh phá hay làm sụp đổ nổi một Giáo Hội từ trời. Đừng để những điều mới lạ làm chúng ta hoang mang sợ hãi nhưng trái lại, hãy hợp tác với Chúa Thánh Thần để canh tân đổi mới cuộc sống mình.

Về Trời Là Sống Tình Yêu Thương

Lễ Thăng Thiên thường rơi vào ngày thứ năm trong tuần. Sau này Giáo Hội cho dời vào ngày Chúa Nhật là để có thêm nhiều người tham dự trong những ngày lễ trọng. Theo chiều kích tâm linh, lễ Thăng Thiên nhấn mạnh sự về trời của Chúa Giêsu để sau đó Ngài thông ban Thần Khí xuống trên nhân loại vào lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống tuần sau. Cứ mỗi khi thấy những chiếc phi cơ cất cánh, tôi luôn cảm thấy sự kỳ diệu của khối óc con người. Làm sao một khối sắt cõng theo hàng trăm người và hành lý lại có thể bay lên cao và vượt đại dương hàng ngàn cây số? Như vậy sự kỳ diệu càng nhân lên gấp bao nhiêu lần trước sự kiện lên trời của Chúa Giêsu. Ngài lên trời bằng nào? Phúc Âm chỉ nói Người rời khỏi các ông mà lên trời, nhưng lại không đề cập đến bằng cách nào hay phương tiện nào. Nếu không được ghi lại trong Kinh Thánh, thì phương tiện để về trời bằng cách này hay cách khác vẫn còn là một sự suy đoán. Tuy nhiên, chúng ta nên tập trung vào đích điểm hơn là phương tiện với lý do đơn giản là vì sự kiện về trời hé lộ cho chúng ta thấy một tia hy vọng vững chắc về sự sống đời sau, đó là thiên đàng, một “tình trạng hạnh phúc tối thượng và vĩnh viễn” (Toát Yếu, 209). Tác giả Đỗ Tân Duy trong bài viết Thiên Đàng Ở Đâu? đã đưa ra nhận định của thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II về thiên đàng là một trạng thái sống (state of life) chứ không phải một nơi chốn (place) theo nhận thức của ngôn ngữ loài người. Nó còn là một cách sống, một mối tương quan giữa cá nhân với Thiên Chúa Ba Ngôi. Đó là cuộc gặp gỡ Chúa Cha diễn ra trong Đức Kitô phục sinh và hiệp thông với Chúa Thánh Thần (“Heaven,” L’Osservatore Romano, 28 July 1999). Tiếp theo sự kiện về trời, bài Phúc Âm đã kết thúc như sau: “Các ông thời lạy Người và trở về Giêrusalem lòng đầy vui mừng. Các ông luôn luôn ở trong đền thờ mà chúc tụng Thiên Chúa. Amen.” Để đúc kết bài chia sẻ, sự kiện về trời của Chúa Giêsu nhắc nhớ chúng ta về một chân lý, đó là, thiên đàng hay sự sống vĩnh hằng là có thật. Thiên đàng chẳng ở nơi đâu xa vời mà lại là một mối tương quan với Thiên Chúa và với mọi người. Nơi nào có Thiên Chúa là nơi đó có thiên đàng. Ai sống trong thiên đàng là sống trong tình yêu thương huynh đệ. Cảm nghiệm được tình yêu thương nhau thì lòng mới tràn đầy vui mừng và chúc tụng tôn vinh như các môn đệ. Amen.