“Hãy ra đây”: Niềm hy vọng lấp đầy

– ĐÔ. Phaolô Phan Văn HiềnAi trong chúng ta đã từng chứng kiến cái chết của người thân trong gia đình, đều cảm nghiệm được niềm đau và nỗi thất vọng gặm nát tâm hồn mình. Càng thân thiết, càng thương mến, thì nỗi đau càng cao và thất vọng càng dày. Đó chính là tâm trạng của Mat-ta và Maria khi em mình là Lazarô từ giã cõi đời. Thật ra, hai chị em trước đó vẫn còn môt chút hy vọng là em mình có thể được chữa lành, vì tin vào tình thương và quyền năng của Đức Giêsu, một người rất thân với ba chị em: “Thưa Thầy, nếu Thầy có mặt ở đây thì em con không chết…”Nhưng điều đáng nói là ngay khi Lazarô đã qua đời và táng vào mồ đá rồi, niềm hy vọng đó vẫn không tàn phai: “Tuy nhiên, ngay cả bây giờ, con biết Thầy xin gì cùng Thiên Chúa, Thiên Chúa cũng sẽ ban cho Thầy”. Một niềm hy vọng có thể bị xem là hoang tưởng, nhưng với hai chị em, đó vẫn là một niềm hy vọng tròn đầy, vì được đặt trền nền tảng đức tin sắt son vào Thiên Chúa, Đấng có thể làm được những điều không thể.  Và cuối cùng Đức Giêsu đã biến niềm hy vọng của hai chị em Mat-ta và Maria thành hiện thực: Lazarô sống lại. “Lazarô! Hãy ra đây”. Và Lazarô từ từ bước ra khỏi mồ, chân tay còn quấn những mảnh vải, và trên mặt còn quấn khăn liệm. Đúng là Lazarô, em ruột của Mat-ta và Maria. Không phải một người nào khác được đánh tráo như trong trò ảo thuật ở Las Vegas ngày nay. Mọi người ngạc nhiên, sửng sốt, vui mừng. Còn Mat-ta và Maria, niềm hy vọng lấp đầy hạnh phúc. Niềm hy vọng của Mat-ta và Maria cũng chính là niềm hy vọng của mỗi người chúng ta trong cái thế giới đầy chết chóc vì chiến tranh, bạo lực, khủng bố, phá thai, giết người… Thánh Phêrô đã khuyên bảo các tín hữu sơ khai: “Anh em hãy hiểu Ðức Kitô là Chúa nơi lòng anh em, luôn luôn sẵn sàng đáp lời với mọi người hỏi anh em về mối hy vọng có trong anh em” (1Pet 3, 15). Mối hy vọng đó chính là sự sống của Thiên Chúa mà chúng ta được Ngài thương cho chung phần: “Ta là sự sống lại và là sự sống, ai tin Ta, dầu có chết cũng sẽ được sống.” Năm 1982, tại đám tang của nhà lãnh đạo Liên Bang Xô Viết Leonid Brezhnev, bà quả phụ vị lãnh đạo được phép đến gặp chồng mình lần cuối trước khi đóng nắp hòm. Bà đứng bất động thật lâu bên cạnh quan tài, khuôn mặt vô cảm. Nhưng ngay trước khi quan tài đóng lại, bà đã làm một hành động khiến cho những ngươi vô thần ở đất nước này sửng sốt. Đó là bà đã làm dấu Thánh Giá trên ngực chồng bà. Một hành động đầy can đảm nói lên sự sai lạc của chồng bà khi chối bỏ Thiên Chúa, và đồng thời cũng nói lên niềm hy vọng của bà về sự phán xét nhân lành của Đức Giêsu, để chồng bà được hưởng cuộc sống hạnh phúc với Ngài.  Bà quả phụ Brezhnev hơn ai hết đã hiểu được niềm hy vọng của Mat-ta và Maria, và cũng là tấm gương cho chúng ta như lời khuyên của Đức Cố Hồng Y Nguyễn Văn Thuận: “ Người Công Giáo là ánh sáng giữa đen tối, là muối sống giữa thối nát, và là hy vọng giữa một nhân loại thất vọng” ( ĐHV 950).

Ánh Sáng Đức Tin

– Lm. Francis Bùi Ngọc Tỷ Ánh sáng là biểu tượng của đức tin. Trong nghi thức Rửa tội, vị chủ lễ thắp ngọn nến của người tân tòng bằng lửa lấy từ nến Phục Sinh, rồi đưa cho họ và nói: “Hãy nhận lấy ánh sáng Chúa Ki-tô”. Ngài khuyên nhủ họ: “Hãy sống như con cái sự sáng.” Ánh sáng Chúa Ki-tô ban cho chúng ta một khả năng hoàn toàn mới. Đó là có thể nhìn đúng bản chất của sự vật xuyên qua bề ngoài của nó, như Chúa Ki-tô nhìn chúng. Thánh Phao-lô nói trong bài đọc thứ hai: “Xưa kia anh em là sự tối tăm, nhưng bây giờ, anh em là sự sáng trong Chúa. Anh em hãy ăn ở như con của sự sáng, bởi vì hoa trái của sự sáng ở tại tất cả những gì là tốt lành, là công chính và chân thật.”Chúa Ki-tô nhìn thấy sự tốt lành trong các tội nhân, tiềm năng nơi những người thu thuế, lòng nhiệt thành ở những anh chàng đánh cá thô tục và thất học. Nhờ đó, Ngài đã có những tông đồ nhiệt thành, và đã đưa người tội lỗi trở về với Chúa. “Ta không xem xét theo kiểu của con người, vì chưng con người nhìn xem bên ngoài, còn Thiên Chúa thì nhìn xem tâm hồn”. Người đời thường chỉ nhìn thấy cái xấu nơi người khác. Nghe tin tức, chúng ta chỉ thấy toàn những tin xấu. Nên mới có câu nói: “No news is good news.” Với cái nhìn đức tin, chúng ta có thể nhận biết sự cố gắng đáng khen của những người yếu đuối, sự quãng đại của những người nghèo, lòng tốt của những người vô gia cư. “Trong ánh sáng của Ngài, chúng con nhìn thấy ánh sáng.” (Tv 35)Hoa trái của sự sáng còn giúp chúng ta theo đuổi một cuộc sống công chính và chân thật. Xã hội đương thời lẫn lộn giữa cái tốt và cái xấu. Phá thai trở nên quyền lợi của người phụ nữ; hôn nhân đồng tính được cho là vì tôn trọng tự do và công bình với mọi người. Ý thức về tội bị làm cho lu mờ. Chân lý bị che lấp bởi những lý thuyết sai lạc. Giới truyền thông tìm mọi cách để lung lạc và khống chế tư duy của nhân loại. Thêm vào đó, con người thời nay lười suy nghĩ vì đã có người suy nghĩ giùm họ. Người ta trở nên nghiện ngập với smart phones, computers, TVs. Sống giữa những hỗn loạn đó, ánh sáng đức tin dễ bị mai một. Người tín hữu phải năng tìm đến Chúa Ki-tô. Học hỏi và thực thi Lời Hằng Sống sẽ giúp mài dũa khả năng phán đoán của chúng ta. Nhờ đó, đức tin mỗi ngày một sáng suốt, trưởng thành và vững chắc hơn.

Các Con Hãy Nên Trọn Lành!

Người ta kể lại rằng thánh Antôn ẩn tu đã tìm đến gặp một người thợ giày, vì nghe đồn rằng người thợ giày này có một đời sống đạo đức lạ thường. Ðể hỏi đâu là bí quyết để nên thánh, người thợ giày đáp gọn: “Tôi chỉ biết đóng giày” Ngạc nhiên vô cùng, thánh Antôn hỏi vặn lại: “Nếu chỉ có thế thì làm sao mà gọi là thánh thiện được. Tôi đây, tôi tưởng nghĩ đến Chúa từng phút giây. Ông có bí quyết gì khác nữa không?”. Người thợ giày giải thích: “Tôi làm việc 8 giờ, cầu nguyện 8 giờ và ngủ nghỉ 8 giờ” Thánh Antôn vẫn chưa cho đó là cuộc sống lý tưởng. Ngài cho biết, ngài cầu nguyện từng phút giây. “Vậy ông sống đức khó nghèo như thế nào?”. Người thợ giày bảo: “Tôi cho Giáo hội một phần ba của cải của tôi, một phần ba tôi bố thí cho người nghèo và một phần ba tôi giữ lại cho tôi”. Thánh Antôn chưa cho đó là bí quyết nên thánh trọn hảo, bởi vì chính ngài đã phân phát tất cả của cải của ngài cho Giáo hội và người nghèo…   Thánh nhân vặn hỏi mãi, cuối cùng người thợ giày mới khai ra bí quyết của ông như sau: “Mặc dù tôi phân phát một phần ba tiền lương của tôi cho người nghèo, nhưng đêm ngày tôi không ngủ yên được khi tôi nhìn thấy cảnh nghèo xung quanh tôi, đến độ tôi đã thưa với Chúa: Chúa ơi, thà để con đi hỏa ngục còn hơn nhìn thấy những người khốn khổ này phải triền miên trong cảnh nghèo đói…”. Nghe đến đó, thánh Antôn đã bỏ ra về. ngài chợt hiểu rằng ngài chưa đủ thánh thiện như người thợ giày này đến độ dám hy sinh tất cả chỉ vì người nghèo. Có rất nhiều cách để nên thánh, nhưng dường như không có một mẫu mực thánh thiện chung cho tất cả mọi người. Có người nên thánh ngay trong bậc sống của mình giữa trần gian. Có người chịu tử đạo. Có người sống trong bậc tu trì. Mỗi một vị thánh là một cách sống. Tuy nhiên giữa khung khác biệt đó vẫn có một mẫu số chung cho tất cả mọi cuộc sống thánh thiện: đó là Tình Yêu. Thánh Phaolô trong bài ca đức ái đã nói: “Dù tôi có thể nói được các tiếng lạ lùng, dù tôi có thể làm được phép lạ chuyển núi di sông, dù tôi có làm được không biết bao nhiêu công trình… nếu tôi không có tính đức bác ái, tôi chỉ là một thứ thùng rỗng…”. Không có đức bác ái, không có tình yêu thì tất cả tòa nhà đạo đức của chúng ta chỉ được xây dựng trên hão huyền mà thôi. Chúa Giêsu cũng đã nói với chúng ta: “Các con hãy nên trọn hảo như Cha các con trên trời”. Thiên Chúa là Tình Yêu. Thiên Chúa yêu thương tất cả mọi người không loại trừ ai. Và cuối cùng vì yêu thương con người, Thiên Chúa đã hóa thân làm người như chúng ta… Ðó là tận cùng của Tình Yêu! Người thợ giày trong câu chuyện của thánh Antôn không những dành của cải của mình cho người nghèo, ông còn tưởng nghĩ đễn người nghèo như chính lẽ sống của mình. Thánh Antôn đã nhận ra đó là bí quyết cao cả nhất để nên thánh. Bố thí tất cả của cải của mình, xa lánh tất cả các thú vui của cuộc sống, đêm ngày ăn chay cầu nguyện là điều tốt. Nhưng nếu sống như thế chỉ để tìm cho mình sự thanh thản trong tâm hồn mà phải sợ người khác quấy rầy, thì một cuộc sống như thế chưa phải là lý tưởng nhất. “Hãy nên trọn lành như Cha các con trên trời”. Ðó phải là lý tưởng của người Kitô chúng ta. Cha trên trời yêu thương tất cả mọi người. Cha trên trời đã yêu thương con người đến nỗi đã phó ban chính Con Một của Ngài. Thiên Chúa chỉ được gọi là Cha bởi vì Ngài sống cho con cái của mình… Sự sống Ngài ban cho chúng ta chỉ có thể triển nở và có ý nghĩa nếu nó cũng được sống cho tha nhân.   (Lẽ Sống, Radio Veritas)

Tình Cờ

– Lm. Francis Bùi Ngọc Tỷ Một phụ nữ xứ Samaria đi ra giếng kín nước. Tình cờ, chị gặp một người đàn ông Do thái ngồi nghỉ bên bờ giếng. Người này hỏi xin chị một chút nước. Chị ngạc nhiên, vì điều này quá bất thường. Thế rồi cuộc đối thoại kéo dài, càng lúc càng sâu sắc hơn. Họ nói về nước, về giếng, về quà tặng của Chúa, về nước không bao giờ cạn, về đời tư của chị. Họ tiếp tục nói về đền thờ và về Đấng Cứu Thế sẽ đến. Sau cùng, chị nhận biết Đấng Cứu Thế chính là người đang nói chuyện với chị. Và chị đã tin. Từ đó, chị đã tìm thấy con đường cứu rỗi của mình. Tất cả bắt đầu bằng một cuộc gặp gỡ tình cờ.Có thể nói là tình cờ. Nhưng trong con mắt đức tin, chúng ta thấy được sự sắp đặt kỳ diệu của Thiên Chúa. Tình thương của Chúa luôn bao bọc chúng ta, như đại dương bao la chứa đựng mọi sinh vật đang sống trong nó. Ơn Chúa luôn luôn có sẵn cho ta trên mọi nẽo đường đời. Chỉ cần có một cơ hội nào đó, ơn Chúa sẽ nảy sinh kết quả tốt lành cho những ai biết đón nhận. Cơ hội đã đến với người phụ nữ xứ Samaria. Điều hiển nhiên là người phụ nữ này rất cô đơn và bị coi rẽ. Chị ta đi ra giếng một mình vào giữa trưa, để tránh mặt mọi người. Chị cảm thấy số phận mình thật long đong. Chị đã qua năm đời chồng và hiện đang sống với người thứ sáu. Con số sáu trong Kinh Thánh biểu tượng cho sự bất toàn tột độ. Có thể chồng cũ đã chết. Cũng có thể chị bị chồng ruồng bỏ. Hồng nhan đa truân. Trong nỗi bất hạnh, chị khát khao tìm thấy một tình yêu chân thật. Chị như người lữ hành đang chết khát trong sa mạc, chỉ mong tìm được một nguồn nước. Và chị đã tình cờ gặp Đức Giê-su. Đức Giê-su là người duy nhất không coi rẽ chị, hơn nữa, còn quan tâm trò chuyện với chị. Làm điều đó, Ngài đã phá vỡ mọi hàng rào ngăn cách: hàng rào chủng tộc, tôn giáo, tập quán, và thành kiến của người đời. Người Do thái không bao giờ qua lại với người xứ Samaria, vì giữa hai bên có sự thù ghét kéo dài hàng trăm năm lịch sử. Hơn nữa, theo phong tục thời đó, người đàn ông không bao giờ trò chuyện với phụ nữ ở nơi công cộng. Vì thế, người phụ nữ xứ Samaria đã ngạc nhiên kêu lên: “Ông là một người Do thái, mà lại xin tôi cho uống nước?” Người Do thái đó đã ban cho chị “Nước Hằng Sống”. Ngài cũng sẽ ban cho ta sự sống đời đời.Đó là lời Chúa 

Biến Hình

– Lm. Francis Bùi Ngọc TỷKhông ai có thể nhìn thẳng mặt trời mà không bị hư mắt. Chỉ vì mặt trời quá sáng khiến mắt ta không chịu đựng nổi. Cũng cùng một lý do đó, không ai có thể nhìn thẳng vào Thiên Chúa mà không phải chết. Nhưng Thiên Chúa lại muốn bày tỏ chính mình cho chúng ta, nên Ngài đã sai Ngôi Lời nhận thể. Từ nay, chúng ta có thể nhận biết Thiên Chúa qua Đức Giê-su Ki-tô, Chúa chúng ta.   Trong bài Phúc Âm hôm nay, Thiên Chúa đã xác nhận thân phận và vai trò của Đức Giêsu: “Đây là Con Ta yêu dấu, rất đẹp lòng Ta. Các ngươi hãy nghe Lời Người.” Nghe được Lời Chúa là cả một vấn đề. Thế giới ngày nay tràn ngập âm thanh và hình ảnh. Những tiếng xe, tiếng nhạc, tiếng nói, những hình ảnh phát ra từ TV, radio, phone, internet vang vọng bên tai ta, đập vào mắt ta cả ngày lẫn đêm. Thế giới vật chất hôm nay muốn ta hiểu rằng, uống lon nước ngọt của họ sẽ làm ta sung sướng, lái chiếc xe của họ ta sẽ thấy mình thuộc về giới thượng lưu, uống viên thuốc của họ ta sẽ trở nên cường tráng, và mua bảo hiểm của họ ta sẽ không lo phải chết… “Hãy nghe Lời Người.” Chữ “nghe” trong Kinh Thánh không chỉ có nghĩa là nghe bằng lỗ tai, mà còn nghe bằng tâm hồn và đem ra thực hành. Nghe là vâng lời, là tin tưởng, là tín nhiệm. Ông Abraham trong bài thứ nhất hôm nay là gương mẫu điển hình của một người biết nghe. Chúa nói với ông: “Ngươi hãy lìa bỏ quê cha đất tổ, đi đến một miền đất Ta sẽ chỉ cho.” Lúc đó ông đã 75 tuổi, độ tuổi già dặn, chính chắn và khôn ngoan. Ông đã bỏ lại tất cả và tin tưởng khởi đầu cuộc lữ hành đời mình theo tiếng gọi của Chúa. Abraham đã tìm được “đất hứa” của mình, là biểu tượng của thiên đàng. Ông được tôn phong là cha của những người tin, trong đó có chúng ta. Thánh Phao-lô trong bài thứ hai hôm nay bàn về ơn gọi của chúng ta. Tiếng gọi của Chúa là một đặc ân, không phải do công nghiệp của chúng ta, mà chỉ vì tình thương của Chúa. Hơn nữa, khi chúng ta đi theo tiếng Chúa, chính Ngài sẽ dìu dắt chúng ta trong cuộc lữ hành trần thế, dẫn ta đến ơn cứu rỗi đời đời. Có lẽ lúc đầu ta coi việc vâng phục như một điều gì bó buộc. Nhưng khi ngoan ngoản thực thi Thánh Ý Chúa, dần dần ta sẽ cảm nghiệm được sự thay đổi toàn diện ở nơi mình. Sống theo đức tin, ta sẽ được biến hình với Chúa Kitô Phục Sinh. 

Yêu Thương và Tha Thứ

– Lm. Giuse Maria Nguyễn Tuấn Long Thành thật mà nói nếu biến cố Chúa Giêsu không xảy ra ở Do Thái thì khu vực này cũng chẳng có gì hấp dẫn mấy đối với khách hành hương. Một miền đất khô khan và luôn sống trong tình trạng xung đột căng thẳng giữa chính trị và tôn giáo. Thế giới văn minh với nhân quyền và khoa học ngày nay mà con người còn đối xử với nhau như thế huống chi thời đó con người dã man và kém văn minh. Vậy mà, giáo huấn của Chúa Giêsu lại đầy tính nhân bản bằng cách yêu thương kẻ thù. Trong quá khứ, các nhà tâm linh vĩ đại lẫn Cựu Ước thường có khuynh hướng dạy các tín đồ không làm điều ác, nhưng Chúa Giêsu đi xa hơn một bước là chủ động yêu thương KẺ THÙ. Yêu thương người thân mình đây đã là khó huống chi kẻ thù.Hẳn nhiều người vẫn còn nhớ là cuộc bầu cử tổng thống vừa rồi đã gây ra rất nhiều chia rẽ bất hòa không chỉ đất nước Hoa Kỳ mà rất nhiều người thân trong gia đình từ cha mẹ cho đến anh em họ hàng v.v. Sau hơn hai năm, một số vẫn không nhìn mặt và nói chuyện với nhau. Như thế, Phúc Âm tuần này quả là một bài trắc nghiệm đầy nhiêu khê cho chúng ta. Làm cách nào chúng ta có thể yêu thương kẻ thù mình trong khi đó chúng ta chưa làm hòa được với người thân ngay trong chính gia đình mình? Cuối cùng, đại dịch Covid-19 ập đến cướp đi người thân yêu trước khi làm hòa và tha thứ. Kết luận, nếu bạn chưa làm hòa với bạn bè và người thân yêu trong lúc này, thì bạn có muốn hay không? Nếu muốn, thì bạn còn đợi đến khi nào?  Nguyện xin Chúa ban cho chúng ta thêm sức mạnh và niềm tin để thực hành Lời Chúa khi còn có cơ hội ở đời này.

Khi Kitô Hữu Là Muối và Ánh Sáng

– Lm. Giuse Maria Hoàng Tiến Đoàn, S. J. Anh chị em thân mến,Người Kitô hữu là muối đất không cần phải làm ngay mọi điều đặc biệt, mặc dù đôi khi có thể được gọi để làm vài điều như thế. Họ không phải tham gia tất cả các tổ chức hay hội đoàn, mặc dù đôi khi họ cũng có thể tham gia sinh hoạt trong một hội đoàn, tổ chức hay đảng phái nào đó. Họ không ngay lập tức tổ chức các nhóm cầu nguyện, mặc dù họ nên tham gia cầu nguyện cá nhân hay trong một nhóm nào đó. Thậm chí họ không phải tham gia tất cả các công việc từ thiện hay các hoạt động công ích xã hội, mặc dù một vài điều đó rất hữu ích trong hoàn cảnh và khả năng của riêng mỗi người. Người Kitô hữu là muối đất trước hết phải là người cảm nếm được, và tạo ra hương vị thích hợp đáng quý giữa những con người thực tại trong cuộc sống hôm nay. Muối phải có vị mặn vừa phải làm cho món ăn thêm ngon, đời thêm hương vị. Miễn là không trộn lẫn với thứ gì đó quá chát, quá đắng, quá cay, quá xót xa.Chúa Giêsu nói người Kitô hữu chúng ta được xem như là ánh sáng. Một lần nữa, có nhiều người Kitô hữu sẽ tự cho mình là ánh sáng. Họ đứng trong ánh sáng của riêng mình, giống như ngọn nến trong căn phòng trống rỗng không người không đồ vật! Hoặc như một ngọn đèn bỏ trong thùng không dấu trong góc nhà. Ánh sáng không thể đứng riêng một mình nó, tự tôn vinh sự tỏa sáng của chính nó. Ánh sáng đơn lẻ là vô ích! Nó cần tỏa rạng soi sáng cho những gì và những ai cần đến nó. Ánh sáng trở nên hữu ích khi nó khiến chúng ta nhìn thấy những thứ khác ngoài chính nó. Đó là thế giới xung quanh chúng ta. Nó trở nên hữu dụng như Chúa Giê-su đã nói về nó: “Các ngươi là sự sáng của thế gian.” Chúng ta nên làm cho mọi thứ trở nên tỏ hiện và hữu ích. Anh sáng giúp chúng ta lộ hiện các khả năng và tỏa sáng các tài năng. Ánh sáng nơi chúng ta thúc đẩy chúng ta bắt tay nhau xây dựng một cuộc sống trong nên hòa bình và công chính. Ánh sáng ấy cần tỏa sáng và lan rộng giữa người với người, đem dến cho nhau sự hòa giải, hòa hợp và an vui, chứ không phải để đối chọi trong kình địch, tranh chấp và đối kháng lẫn nhau. Đây là nhiệm vụ chung của mọi người và cũng là nhiệm vụ riêng của từng người trong chúng ta. Khi được rửa tội, mỗi người chúng ta đều nhận được một ngọn nến thắp sáng từ cây nến Phục sinh: “Hãy nhận lấy ánh sáng của Chúa Kitô!” Chúng ta nên là muối, nhưng không đơn độc ướp mặn cho riêng mình. Chúng ta là ánh sáng, nhưng không đơn lẻ soi sáng cho chính mình. Nếu chúng ta sống và hành động như Chúa Giêsu Kitô đã làm. thì chúng ta sẽ là niềm an ủi cho người khác, là sự cứu rỗi, và niềm hy vọng, và là niềm an ủi cho nhau. Đó là muối và ánh sáng mà Đức Kitô nói với chúng ta hôm nay. Xin Thần Khí của Chúa Giêsu tác động và thay đổi chúng ta. Thần Khí đưa chúng ta đi vào trong tình yêu và lòng thương xót của Thiên Chúa.

Tám Mối Phúc Thật: lý tưởng của chúng ta

– Lm. Giuse Maria Hoàng Tiến Đoàn, S. J.   Anh chị em thân mến,Cách đây vài năm, tôi đã viếng thăm Đất Thánh và ở lại đó 3 tháng. Có lẽ tôi đã đi vào thời điểm thật đẹp trong năm, từ những ngày đầu tháng mười đến đầu tháng giêng. Tôi khá ngạc nhiên về vẻ đẹp của đất thánh và đặc biệt là những nơi mà Chúa Giêsu đã chọn cho những chuỗi sự kiện về các phép lạ kèm theo việc rao giảng tin mừng của Ngài đã được ghi lại trong các phúc âm. Vào một buổi sáng đẹp đầy gió mát và ánh nắng, tôi leo lên ngọn đồi Tám Mối Phúc Thật bên bờ hồ Galilêa, và ngồi xuống đọc lại bài Phúc Âm hôm nay và ngẫm nghĩ về những mối phúc ấy. Nhìn khung cảnh chung quanh, lòng tôi chợt bừng tỉnh và bỗng chốc choáng ngợp cảnh sắc rất thanh bình và tuyệt đẹp của cảnh sắc thiên nhiên với nhà nguyện xinh sắn, với đồi cao rung rinh hoa lá, với biển hồ êm đềm thơ mộng. Tôi chợt nhận ra rằng Chúa Giêsu có quả tim rung động thật ngọt ngào khi Ngài rất chân tình và thắm thiết tuyên ngôn những mối phúc kỳ diệu ấy. Tôi hiểu ra rằng: Khi trí lòng mình thanh thản trong tâm tư lắng đọng, người ta mới nhận ra tình thương Thiên Chúa thật kỳ diệu trong cuộc sống với môi trường sống chung quanh mình. Người ta nhận ra Thiên Chúa đã ban phát với những món quà đến với chúng ta một cách hết sức tự nhiên đến nỗi chúng ta, nếu không chú tâm để ý sẽ không nhận ra chúng.  Không phải chỉ khi chúng ta trải lòng mình rộng ra trước cảnh sắc thiên nhiên đẹp đẽ, nhưng ngay cả khi chúng ta đang bước đi giữa phố chợ ồn ào, hay khi đang bận rộn với những công việc hằng ngày. Chúng ta chỉ cần hồi tâm và biết buông bỏ trong thoáng chốc những gì đang chiếm đoạt tâm trí, chúng ta nhận ra bàn tay xếp đặt kỳ diệu và tấm lòng nhân hậu của Thiên Chúa. Tuy nhiên, bạn hãy tưởng tượng một người cha hoặc người mẹ đưa ra một danh lời khuyên như những lời Tám Mới Phúc Thật cho đứa con trai hoặc con gái đang trưởng thành và bước vào nhịp sống tranh dành bon chen trong xã hội hôm nay. Chắc con cái và những người trẻ của chúng ta sẽ tưởng chúng ta là già rồi hóa lẫn, đã làm lụng quá vất vả “over loaded,” nên đang bị “burn out,” nên bây giờ muốn buông bỏ tất cả !!! Chúng sẽ nói thẳng với chúng ta là: nếu cứ ôm ấp những ý tưởng có tâm hồn nghèo khó, phải có tính hiền lành,  phải biết thương xót, phải khát khao công chính, phải có tâm hồn trong sạch, phải biết yêu địch thù, phải biết chịu đựng sự bách hại … thì, “Ôi thôi còn gì nhiệt tâm để cầu tiến, để phát minh và sáng tạo, để đấu tranh và đổi mới.” Họ sẽ cười vào mặt chúng ta và bảo rằng: “các cụ ơi, thôi đi dưỡng già đi … đã đến lúc các bác các cụ cần nghỉ ngơi và thanh thản cầu nguyện cho các bác và cho chúng cháu, rồi … đợi ngày Chúa gọi về!” May thay, lịch sử cho chúng ta thấy có những người đang giầu có với dầy quyền lực bỗng chốc bỏ tất cả lên núi tu tiên như các vị thầy hay các vị chân tu trong các tôn giáo. Họ là những người có lý tưởng, những người biết đấu tranh miệt mài không phải cho họ những cho một đất nước, một dân tốc, nhưng cho một xã hội tốt hơn, một thế giới con người tốt hơn. Họ luôn ấp ú trong tim, trong hồn và trong lối sống của họ những lời khuyên Tám Mối Phúc Thật! Họ là Mahatma Gandhi, Nelson Mandela, Andrei Sakharov, hoặc như Mục Sư Martin Luther King, thánh Francis Assisi và gần đây: Mẹ Teresa Calcutta, và Giáo Hoàng Gioan Phaolo II. Họ là những người rất hăng nồng, mạnh mẽ kiên trì sống Tám Mối Phúc Thật một cách quả cảm và dũng mãnh. Mà trong cuộc sống ấy, cũng có những lúc gian truân khó nhọc, bị tù đầy, bị bách hại, bị công kích, hoặc bị hiểu lầm và chống đối. Sức mạnh tinh thần của họ ở dâu? Chính là Tám Mối Phúc Thật trong Phúc Âm. Tám Mối PhúcThật là Hiến Chương Nước Trời và là lý tưởng của chúng ta. Thánh Phaolo trong thư của ngài qua bài đọc thứ hai hôm nay nói với những người mang trong lòng Tám Mối Phúc Thật ấy rằng: “Những gì thế gian cho là điên dại, thì Thiên Chúa đã chọn để hạ nhục những kẻ khôn ngoan, và những gì thế gian cho là yếu kém, thì Thiên Chúa đã chọn để hạ nhục những kẻ hùng mạnh; những gì thế gian cho là hèn mạt không đáng kể, là không có, thì Thiên Chúa đã chọn để huỷ diệt những gì hiện có, hầu không một phàm nhân nào dám tự phụ huyênh hoang trước mặt Thiên Chúa.” I Corintô 1:27-29. Ai dám báo những người biết sống với niềm tin vào Tám Mối Phúc Thật như thế là những người mất trí, chán sống, muốn bỏ cuộc?

Tìm kiếm Chúa: Sự khôn ngoan đích thực

  – Lm. Phêrô Nguyễn Huy Bảo Hôm nay Giáo Hội mừng Lễ Chúa Hiển Linh. Qua mầu nhiệm Ngôi Lời Nhập Thể, Thiên Chúa tỏ mình ra cho các dân tộc. Lễ này cũng nôm na được gọi là Lễ Ba Vua, Ba Vị Đạo Sĩ, hay Ba Nhà Thông Thái.   Nhưng khi chúng ta suy niệm, dưới thước đo của con người, chúng ta sẽ thấy những việc các vị đến từ phương Đông này làm, chẳng có gì thông thái cả. Không thể là thông thái khi tự ý rời xa gia đình, quê hương, xứ sở. Không thể là thông thái khi gạt đi danh vọng, quyền lực. Không thể là thông thái khi cuộc hành trình băng rừng, vượt núi, đầy gian nan, hiểm trở, nguy hiểm đến cả tính mạng mình. Càng không thể là đặc điểm của người khôn ngoan khi họ bỏ lại tất cả đằng sau để theo dấu chỉ duy nhất: một ngôi sao lạ. Với cách lý luận trên, theo não trạng của trần gian, thì việc ba vị làm không những không được cho là thông thái nhưng phải liệt kê là dại khờ.Ba vị có thể làm khác với tư tưởng của số đông, nhưng số đông không định nghĩa chân lý. Chỉ có Thiên Chúa định nghĩa chân lý. Hay nói cách khác, chỉ có Thiên Chúa là Chân Lý. Ba Vua đã liều mình để lại những gì chóng qua để kiếm sự trường tồn. Ba Vị Đạo Sĩ đã can đảm từ bỏ những gì trần tục để tìm những sự thánh thiên. Và tìm kiếm chính Thiên Chúa để nhận thức tình yêu thương vô điều kiện của Ngài là sự thông thái đích thực!Ba vị đã không chỉ theo ngôi sao, nhưng họ theo ngôi sao chỉ họ đến Thiên Chúa.Trong cuộc sống bon chen hằng ngày, chúng ta tìm kiếm gì? Chúng ta tất bật, đầu tắt, mặt tối, để làm công cho việc gì hay cho ai? Những việc này hay người này có dẫn chúng ta đến gần Chúa không hay ngày càng xa Chúa và Giáo Hội của Ngài? Chúng ta phục vụ cho vật chất, chức vụ tạm thời, hay tình yêu có giá trị vĩnh cửu? Cho thế gian hay cho Thiên Chúa? Hy vọng vào Chúa và bạn sẽ không bao giờ thất vọng! Bậc Đáng Kính, Đức cố Hồng y Nguyễn Văn Thuận dạy rằng: “Đã ra đi, phải bất chấp lưỡi thiên hạ đàm tiếu. Ba đạo sĩ ra đi, hy vọng gặp Chúa Cứu Thế, họ đã gặp; Phanxicô Xaviê ra đi, hy vọng cứu các linh hồn, ông đã gặp; Gôrétti ra đi, thoát chước cám dỗ, hy vọng gặp được Chúa, chị đã gặp. Mất để được, chết để sống, từ để gặp. Ba đạo sĩ liều hiểm nguy, chế nhạo; Phanxicô liều xa cha mẹ, mất của cải, chức tước, thú vui; Gôrétti liều mạng sống.” (Đường Hy Vọng, #7-8). Những ai tìm kiếm Chúa và giá trị thiên đàng có sự khôn ngoan đích thực!