Khi Kitô Hữu Là Muối và Ánh Sáng

– Lm. Giuse Maria Hoàng Tiến Đoàn, S. J. Anh chị em thân mến,Người Kitô hữu là muối đất không cần phải làm ngay mọi điều đặc biệt, mặc dù đôi khi có thể được gọi để làm vài điều như thế. Họ không phải tham gia tất cả các tổ chức hay hội đoàn, mặc dù đôi khi họ cũng có thể tham gia sinh hoạt trong một hội đoàn, tổ chức hay đảng phái nào đó. Họ không ngay lập tức tổ chức các nhóm cầu nguyện, mặc dù họ nên tham gia cầu nguyện cá nhân hay trong một nhóm nào đó. Thậm chí họ không phải tham gia tất cả các công việc từ thiện hay các hoạt động công ích xã hội, mặc dù một vài điều đó rất hữu ích trong hoàn cảnh và khả năng của riêng mỗi người. Người Kitô hữu là muối đất trước hết phải là người cảm nếm được, và tạo ra hương vị thích hợp đáng quý giữa những con người thực tại trong cuộc sống hôm nay. Muối phải có vị mặn vừa phải làm cho món ăn thêm ngon, đời thêm hương vị. Miễn là không trộn lẫn với thứ gì đó quá chát, quá đắng, quá cay, quá xót xa.Chúa Giêsu nói người Kitô hữu chúng ta được xem như là ánh sáng. Một lần nữa, có nhiều người Kitô hữu sẽ tự cho mình là ánh sáng. Họ đứng trong ánh sáng của riêng mình, giống như ngọn nến trong căn phòng trống rỗng không người không đồ vật! Hoặc như một ngọn đèn bỏ trong thùng không dấu trong góc nhà. Ánh sáng không thể đứng riêng một mình nó, tự tôn vinh sự tỏa sáng của chính nó. Ánh sáng đơn lẻ là vô ích! Nó cần tỏa rạng soi sáng cho những gì và những ai cần đến nó. Ánh sáng trở nên hữu ích khi nó khiến chúng ta nhìn thấy những thứ khác ngoài chính nó. Đó là thế giới xung quanh chúng ta. Nó trở nên hữu dụng như Chúa Giê-su đã nói về nó: “Các ngươi là sự sáng của thế gian.” Chúng ta nên làm cho mọi thứ trở nên tỏ hiện và hữu ích. Anh sáng giúp chúng ta lộ hiện các khả năng và tỏa sáng các tài năng. Ánh sáng nơi chúng ta thúc đẩy chúng ta bắt tay nhau xây dựng một cuộc sống trong nên hòa bình và công chính. Ánh sáng ấy cần tỏa sáng và lan rộng giữa người với người, đem dến cho nhau sự hòa giải, hòa hợp và an vui, chứ không phải để đối chọi trong kình địch, tranh chấp và đối kháng lẫn nhau. Đây là nhiệm vụ chung của mọi người và cũng là nhiệm vụ riêng của từng người trong chúng ta. Khi được rửa tội, mỗi người chúng ta đều nhận được một ngọn nến thắp sáng từ cây nến Phục sinh: “Hãy nhận lấy ánh sáng của Chúa Kitô!” Chúng ta nên là muối, nhưng không đơn độc ướp mặn cho riêng mình. Chúng ta là ánh sáng, nhưng không đơn lẻ soi sáng cho chính mình. Nếu chúng ta sống và hành động như Chúa Giêsu Kitô đã làm. thì chúng ta sẽ là niềm an ủi cho người khác, là sự cứu rỗi, và niềm hy vọng, và là niềm an ủi cho nhau. Đó là muối và ánh sáng mà Đức Kitô nói với chúng ta hôm nay. Xin Thần Khí của Chúa Giêsu tác động và thay đổi chúng ta. Thần Khí đưa chúng ta đi vào trong tình yêu và lòng thương xót của Thiên Chúa.

Tám Mối Phúc Thật: lý tưởng của chúng ta

– Lm. Giuse Maria Hoàng Tiến Đoàn, S. J.   Anh chị em thân mến,Cách đây vài năm, tôi đã viếng thăm Đất Thánh và ở lại đó 3 tháng. Có lẽ tôi đã đi vào thời điểm thật đẹp trong năm, từ những ngày đầu tháng mười đến đầu tháng giêng. Tôi khá ngạc nhiên về vẻ đẹp của đất thánh và đặc biệt là những nơi mà Chúa Giêsu đã chọn cho những chuỗi sự kiện về các phép lạ kèm theo việc rao giảng tin mừng của Ngài đã được ghi lại trong các phúc âm. Vào một buổi sáng đẹp đầy gió mát và ánh nắng, tôi leo lên ngọn đồi Tám Mối Phúc Thật bên bờ hồ Galilêa, và ngồi xuống đọc lại bài Phúc Âm hôm nay và ngẫm nghĩ về những mối phúc ấy. Nhìn khung cảnh chung quanh, lòng tôi chợt bừng tỉnh và bỗng chốc choáng ngợp cảnh sắc rất thanh bình và tuyệt đẹp của cảnh sắc thiên nhiên với nhà nguyện xinh sắn, với đồi cao rung rinh hoa lá, với biển hồ êm đềm thơ mộng. Tôi chợt nhận ra rằng Chúa Giêsu có quả tim rung động thật ngọt ngào khi Ngài rất chân tình và thắm thiết tuyên ngôn những mối phúc kỳ diệu ấy. Tôi hiểu ra rằng: Khi trí lòng mình thanh thản trong tâm tư lắng đọng, người ta mới nhận ra tình thương Thiên Chúa thật kỳ diệu trong cuộc sống với môi trường sống chung quanh mình. Người ta nhận ra Thiên Chúa đã ban phát với những món quà đến với chúng ta một cách hết sức tự nhiên đến nỗi chúng ta, nếu không chú tâm để ý sẽ không nhận ra chúng.  Không phải chỉ khi chúng ta trải lòng mình rộng ra trước cảnh sắc thiên nhiên đẹp đẽ, nhưng ngay cả khi chúng ta đang bước đi giữa phố chợ ồn ào, hay khi đang bận rộn với những công việc hằng ngày. Chúng ta chỉ cần hồi tâm và biết buông bỏ trong thoáng chốc những gì đang chiếm đoạt tâm trí, chúng ta nhận ra bàn tay xếp đặt kỳ diệu và tấm lòng nhân hậu của Thiên Chúa. Tuy nhiên, bạn hãy tưởng tượng một người cha hoặc người mẹ đưa ra một danh lời khuyên như những lời Tám Mới Phúc Thật cho đứa con trai hoặc con gái đang trưởng thành và bước vào nhịp sống tranh dành bon chen trong xã hội hôm nay. Chắc con cái và những người trẻ của chúng ta sẽ tưởng chúng ta là già rồi hóa lẫn, đã làm lụng quá vất vả “over loaded,” nên đang bị “burn out,” nên bây giờ muốn buông bỏ tất cả !!! Chúng sẽ nói thẳng với chúng ta là: nếu cứ ôm ấp những ý tưởng có tâm hồn nghèo khó, phải có tính hiền lành,  phải biết thương xót, phải khát khao công chính, phải có tâm hồn trong sạch, phải biết yêu địch thù, phải biết chịu đựng sự bách hại … thì, “Ôi thôi còn gì nhiệt tâm để cầu tiến, để phát minh và sáng tạo, để đấu tranh và đổi mới.” Họ sẽ cười vào mặt chúng ta và bảo rằng: “các cụ ơi, thôi đi dưỡng già đi … đã đến lúc các bác các cụ cần nghỉ ngơi và thanh thản cầu nguyện cho các bác và cho chúng cháu, rồi … đợi ngày Chúa gọi về!” May thay, lịch sử cho chúng ta thấy có những người đang giầu có với dầy quyền lực bỗng chốc bỏ tất cả lên núi tu tiên như các vị thầy hay các vị chân tu trong các tôn giáo. Họ là những người có lý tưởng, những người biết đấu tranh miệt mài không phải cho họ những cho một đất nước, một dân tốc, nhưng cho một xã hội tốt hơn, một thế giới con người tốt hơn. Họ luôn ấp ú trong tim, trong hồn và trong lối sống của họ những lời khuyên Tám Mối Phúc Thật! Họ là Mahatma Gandhi, Nelson Mandela, Andrei Sakharov, hoặc như Mục Sư Martin Luther King, thánh Francis Assisi và gần đây: Mẹ Teresa Calcutta, và Giáo Hoàng Gioan Phaolo II. Họ là những người rất hăng nồng, mạnh mẽ kiên trì sống Tám Mối Phúc Thật một cách quả cảm và dũng mãnh. Mà trong cuộc sống ấy, cũng có những lúc gian truân khó nhọc, bị tù đầy, bị bách hại, bị công kích, hoặc bị hiểu lầm và chống đối. Sức mạnh tinh thần của họ ở dâu? Chính là Tám Mối Phúc Thật trong Phúc Âm. Tám Mối PhúcThật là Hiến Chương Nước Trời và là lý tưởng của chúng ta. Thánh Phaolo trong thư của ngài qua bài đọc thứ hai hôm nay nói với những người mang trong lòng Tám Mối Phúc Thật ấy rằng: “Những gì thế gian cho là điên dại, thì Thiên Chúa đã chọn để hạ nhục những kẻ khôn ngoan, và những gì thế gian cho là yếu kém, thì Thiên Chúa đã chọn để hạ nhục những kẻ hùng mạnh; những gì thế gian cho là hèn mạt không đáng kể, là không có, thì Thiên Chúa đã chọn để huỷ diệt những gì hiện có, hầu không một phàm nhân nào dám tự phụ huyênh hoang trước mặt Thiên Chúa.” I Corintô 1:27-29. Ai dám báo những người biết sống với niềm tin vào Tám Mối Phúc Thật như thế là những người mất trí, chán sống, muốn bỏ cuộc?

Gạt Bỏ Hiềm Khích Để Tìm Kiếm Bình An

– Lm. Giuse Hoàng Tiến Đoàn, S.J.Anh chị em thân mến,  Trong phúc âm hôm nay, Chúa Giê-su đã tiên đoán về thời kỳ cuối cùng dành cho tất cả mọi người chúng ta, những người đang sống và cùng nhau bước đi trên giải đất của hành tinh này. Hai ngàn năm trước những người vào thời Chúa Giê-su đã hỏi ngài: “Thưa Thầy, khi nào điều này sẽ xảy ra; và những gì sẽ là dấu hiệu cho biết điều ấy sắp sảy đến?”   Chúa Giê-su không trả lời rõ ràng và cụ thể nhưng tiên báo cho họ về một số dấu hiệu như là những cảnh báo về sự cánh chung và là kết thúc lịch sử nhân loại sẽ đến sớm hơn người ta mong đợi! Chúng ta thường nghĩ ngay về ngày tận thế sẽ sảy đến vào thời gian và trong một khung cảnh không gian nào đó.   Thời gian mà chúng ta có thể dự đoán ra là … vào những ngày, tuần, tháng và năm nào đó. Nhưng cũng có một thời gian khác mà chúng ta cần nhận định: Đó là thời gian tâm lý của chính chúng ta. Thời gian mà chúng ta đang sống, trong đó một ngày chúng ta cảm tưởng dài đến hàng thế kỷ, và một giờ cũng có thể thoáng qua nhanh như một giây. Ví dụ như khi bạn đi đến một bữa tiệc vui chơi với bạn bè trong không khí hoan hỉ sôi động với ca nhạc, múa hát và ăn uống vui vẻ thân tình. Bạn đến nơi tham gia trò chuyện và tận hưởng những giây phút hân hoan khoái lạc. Thế rồi một người bạn đến nói với bạn, “Đã đến giờ chúng ta nên về nhà thôi vì đã 2 giờ sáng rồi còn gì! Anh/Chị không biết sao?” Lúc ấy, bạn ngẩn người ra, “Ủa, cái gì? Đã 2 giờ sáng rồi à? Lại chẳng phải là: tôi vừa đến đây mới chỉ mấy phút sao?” Bạn đã quên mất thời gian. Đó là thời điểm tâm lý mà các Kitô hữu xa sưa đã nói đến. Thời điếm mà người ta bị choáng ngợp trước những sự kiện và biến cố dồn dập sảy đến mà họ đã không thể tiên liệu trước, và cũng đã không ngờ nó sẽ xảy đến nhanh như thế. Hôm nay cũng thế, người giáo hữu chúng ta có thể bị choáng ngợp trước những biến cố dồn dập sảy đến mà chúng ta đã không thể biết, mà cũng không thể hình dung ra trước được. Lúc ấy chúng ta mong mỏi Chúa Kitô mau đến để đem lại công chính và bình an, hòa giải giữa các dân tộc và đem lại an cư lạc nghiệp cho mọi người ở khắp mọi nơi. Các Kitô tiên khởi sống trong thời bách hại cách đây gần 2 ngàn năm đã mòn mỏi trông mong như thế trong hoàn cảnh xã hội và thế giới họ đã sống. Ngày hôm nay, chúng ta cũng có những cảm tưởng như thế khi đang phải đối diện trước những khủng hoảng về chiến tranh, kinh tế, xã hội và chính trị vào thời điểm và hoàn cảnh mà chúng ta đang sống. Chúng ta cầu mong Chúa đến và sớm can thiệp vào những biến động đang dồn dập sảy đến giữa chúng ta. Xin Chúa cứu giúp mang lại bình an và thịnh vượng cho mọi người. Tuy nhiên, riêng về phận sự của mình, chúng ta đã và đang nỗ lực làm những gì? Có thật sự sẵn sàng thực hành thánh ý Chúa, nỗ lực hòa giải, gạt bỏ những hiềm khích và xung khắc để cùng nhau tìm kiếm sự hòa giải chân thực chưa, hay chỉ biết khoanh tay chờ đợi ? 

Ai Là Kẻ Bất Xứng Trước Mặt Chúa?

– Lm. Giuse Hoàng Tiến Đoàn, S.J. Anh chị em thân mến,Trong phúc âm hôm nay, Chúa Giê-su kể cho chúng ta một câu chuyện về hai người nọ đi đến đền thờ. Họ là hai người khác nhau. Một người biệt phái đang đứng giữa đám đông trong ngôi đền. Anh biệt phái rất tự hào về bản thân khi anh khoe khoang về chính mình trong lời cầu nguyện. Bởi vì anh thấy mình tốt một cách rất chân thành, ở một khía cạnh nào đó, thậm chí có thể nói là quá tốt. Anh ta đã không bao giờ cướp bóc, hay ăn quịt của ai; không bao giờ đối xử bất công với bất cứ người nào. Anh ta không bao giờ vi phạm điều răn thứ sáu; anh ta lại nhịn ăn một tuần hai lần để giúp vào việc quyên góp bố thí cho kẻ nghèo. Anh ta trả một phần mười trên toàn bộ thu nhập của mình để đóng góp dâng cúng vào đền thờ. Anh ta đã rất chắc chắn về sự trung thành và chân thực của chính mình; đặc biệt là không tham lam và bất công như người thu thuế kia. Một kẻ đã và đang ẩn mình nơi góc đền thờ. Anh biệt phái đã và đang sống đúng theo lý tưởng tôn giáo của mình! Tuy nhiên, nép mình trong một góc ở phía sau đền thờ là một người khác, một người thu thuế. Anh này có vẻ như là một tên trộm cướp, một kẻ bất công, tham lam, và ngoại tình. Một người không bao giờ nên bước chân đến nơi thánh thiêng đền thờ này. Hắn là một tên đạo đức giả; một kẻ bất xứng! Anh ta đang làm gì ở đó? Anh nghĩ mình là ai chứ nhỉ? Cút! … Xéo ngay! Tuy nhiên, Chúa Giê-su không phán xét như thế. Chúa Giêsu đã lắng nghe lời cầu nguyện của anhthu thuế. Chúa Giê-su nhận ra chính lời cầu nguyện của anh đã được khởi sự bộc phát như trong Thánh Vịnh số 51: “Xin thương xót con, lạy Chúa là Đức Chúa của con, vì Chúa luôn yêu thương con. Và bởi vì lòng xót thương bao la của Ngài! Xin hãy xóa sạch tội lỗi của con! Xin hãy rửa sạch con khỏi mọi tội lỗi và mọi điều gian ác, …” Làm sao một người cầu nguyện như thế lại có thể bị coi là là kẻ đạo đức giả, một người bất xứng trước mặt Chúa? Chúa Giêsu đã không phán xét như thế. Chúa Giêsu không nói rằng anh thu thuế này không nên đến đền thờ. Ngược lại, Ngài bảo, “Người thu thuế ấy về nhà và trở nên một người tốt hơn! Anh ta đã thay đổi và có cuộc sống mới: Anh đã được ơn thánh hóa; chứ không phải như người biệt phải kia tự phụ, tự đắc về chính mình.” Nếu chúng ta biết cầu nguyện theo cách này, ai sẽ có thể gọi chúng ta là những kẻ đạo đức giả, hay những kẻ bất lương, bất xứng trước mặt Chúa?

Kiên Định Cầu Nguyện

– Lm. Giuse Hoàng Tiến Đoàn, S.J.Anh chị em thân mến,Trong phúc âm hôm nay, Chúa Giê-su nói về sự nhất quán cần thiết trong lời cầu nguyện, về sự kiên định cần thiết. Một góa phụ muốn công lý được thực hiện cho cô ấy, nên hết lần này đến lần khác tiếp tục gặp quan tòa, người đã coi thường cô ấy và không muốn giúp cô ấy vì cô ấy nghèo và không có đủ tiền trang trải các phí tổn kiện tụng.   Cô ấy vẫn cứ tiếp tục đến, … một lần một ngày, rồi hai lần một ngày, ba lần một ngày, trong một tuần, tuần thứ hai, tuần thứ ba, tuần thứ tư. Cô ấy cứ tiếp tục lấp đầy tâm trí của người thẩm phán bất công đó với ý tưởng rằng công lý cần phải được thực hiện. Mỗi ngày, cô ấy lại thêm một lý do mới, một khía cạnh mới, cho đến khi tâm trí của thẩm phán hoàn toàn bị chìm ngụp với những suy nghĩ về cô ấy. Cho đến mức người này nhức đầu nhức óc cả sáng, lẫn chiều và cả lúc đêm khuya. Đến độ anh ta phải quyết định xứ án công bình như cô ấy muốn có và xứng đáng được. Bạn cần phải cầu nguyện như đường được hòa tan trong ly nước. Bạn thêm một thìa đường, bạn khuấy, đường tan, bạn lại thêm đường, và khuấy hòa tan, lại thêm nữa và khuấy nữa cho đến khi ly nước ngọt lịm thành ly chè theo ý muốn. Đây là điều sẽ xảy ra khi chúng ta cầu nguyện đủ cho những vấn đề thực sự của thời đại chúng ta. Các vấn đề nếu được giải quyết, sẽ đáp ứng được rất nhiều lời qua lới cầu nguyện xin ơn của chúng ta liên hệ đến gia đình, đến việc làm, sức khỏe, thức ăn, đồ uống và sự nghiệp của chúng ta. Đó là điều sẽ xảy ra nếu tất cả chúng ta, giơ tay đủ cao và đủ lâu, cầu nguyện cho công lý, hòa bình, cho yêu thương và bình an được thế hiện. Cầu nguyện như vậy, chúng ta đang điều hòa tâm trí và tinh thần của mình với những ước muốn thiêng liêng đó, và nhiều hơn nữa, cho đến thời điểm mà chúng ta sẽ bất ngờ cảm nhận được sự giúp đỡ của Ơn Thánh Chúa. Đó là những gì Chúa Giêsu nói với chúng ta ngày hôm nay, cùng với lời cảnh báo: Liệu niềm tin vào Thiên Chúa với Ơn Trợ Giúp của Ngài còn được tìm thấy trên quả đất này không? Vâng, vẫn còn phải được tiếp tục chứ, … cho đến ngày tận mạt, đến ngày chung cục của lịch sử ơn cứu độ.

Phục Vụ Trong Tâm Tình Mến Yêu

– Lm. Giuse Maria Hoàng Tiến Đoàn, S.J.Anh chị em thân mến,    Mời bạn đọc hãy cùng đọc và suy ngẫm về bài phúc âm hôm nay:   Chúa Giêsu bước vào trong nhà và ngồi xuống, rồi lấy đồ uống của mình ra, và rất vui khi được ở nơi bóng mát trong ngôi nhà giây lát.   Martha vào bếp và mang thức ăn ra. Có tiếng xoong nồi, mùi bánh mì nướng, mùi thơm rau hoa quả, rượu vang và tiếng nước sôi trong lò bếp lửa. Nó bình dị, rất dễ chịu với tiếng mèo kêu trong một góc. Martha bận, và Mary em gái của cô cũng vậy. Cả hai đều muốn chào đón Chúa Giêsu một cách thân tình nhất, có thể được. Chúa Giêsu để cả hai phục vụ Ngài theo cách thức riêng của họ. Ngài đánh giá cao Martha khi thấy cô ấy đang lật đật từ bếp chạy lên chạy xuống. Những cuống quýt lật đật ấy cho thấy rõ lòng thương yêu quý mến mà cô dành cho Ngài. Tuy nhiên, Martha lại tỏ ra khó chịu và bực dọc với cô em gái Maria vì cô ấy đã không biết phục vụ theo cách thức của mình. Cô Maria lại bình thản và vui vẻ ngồi bên chân Chúa mà nghe lời Ngài. Và Martha tự hỏi: “Sao Maria không biết cất nhắc chân tay mà phụ giúp cho mình một chút nhỉ? Sao em ấy có thể thờ ơ đến thế nhỉ.” Chúng ta có thể chọn để phục vụ Chúa như Maria, người đã thêm vào những gì Martha đã và đang làm, nhưng vẫn còn thiếu. Mặt khác, chúng ta cũng nên làm theo như Martha, thể hiện đức tin và lòng mến của mình bằng các công việc phục vụ. Sống đức tin là thể hiện niềm tin của mình một cách cụ thể và hiện thực. Là sẵn sàng giúp đỡ người khác, là sánh vai cùng họ phấn đấu, là cùng làm việc và học tập để đem lại hiệu năng tốt hơn cho cuộc sống. Sống đức tin cũng có nghĩa là biết lắng nghe Chúa, cầu nguyện và chăm chú thực hành theo ơn Thánh Thần Chúa soi dẫn, để chúng ta có thể phục vụ và giúp đỡ lẫn nhau trong tinh thần tương thân tương ái trong Vương Quốc Chúa Kitô. Đúng vậy, chúng ta phải phục vụ người lân cận như Martha, và chúng ta cũng phải biết lắng nghe lời Chúa như Maria. Đôi khi chúng ta thấy không có đủ những người như Martha góp công và góp sức hợp tác trong công việc tông đồ, nhưng chúng ta cũng cảm thấy thiếu nhiều hơn những bạn đường cầu nguyện như Maria. Cầu nguyện để đem lại sức sống và ánh sáng cho mọi công việc mình đang phục vụ. Không có Ánh Sáng soi dẫn và Sức Nóng Tình Yêu Chúa thúc đẩy, mọi công việc sẽ dễ trở nên nhàm chán, mất phương hướng và không đem lại hiệu quả lâu dài. Xin Chúa chúc phúc và giúp chúng ta tâm niệm điều đó để cùng nhau luôn hăng say bước trên con đường phục vụ. 

Tìm Lại Chính Mình với Quả Tim Biết Thương Yêu

– Lm. Giuse Maria Hoàng Tiến Đoàn, S.J. Anh chị em thân mến, Trong bài đọc thứ nhất hôm nay, chúng ta đã được nghe Môise nhắc nhở: “Luật pháp này không nằm ngoài tầm sức của con người. Nó không ở trên trời, và nó không ở dưới biển. Nó ở ngay cận kề bên bạn. Nó ở trong miệng, trong tim của bạn! ” Trong bài đọc phúc âm, chúng ta biết có một luật sư đến gặp Chúa Giêsu và hỏi: “Thưa Ngài, tôi phải làm gì để được hưởng sự sống đời đời?” Người đàn ông này không đưa ra một câu hỏi mông lung, nhưng là một thắc mắc rất hiện thực từ bên trong những giới luật của Môise, mà ông đã học hỏi. Bởi thế Chúa Giêsu hỏi ngược lại ông, “Ông đã đọc thấy gì trong sách Luật?” Và ông trả lời ngay vào những điểm trọng yếu trong luật Môise mà ông biết rõ: “Ngươi phải hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn và hết sức lực ngươi mà kính mến Chúa là Đức Chúa Trời của ngươi, và thương yêu giúp đỡ người thân cận như chính mình.” Chúa Giê-xu xác nhận và nói với ông, “Ông đã trả lời đúng, hãy làm điều các điều này và ông sẽ được sống đời đời.” Tuy nhiên, sau đó ông luật sư đã đưa ra một câu hỏi khác thật hóc búa: “Vậy ai là người thân cận của tôi?” Đây là một câu hỏi khó và nguy hiểm vì Chúa Giê-su đã bị buộc tội là đã đi vượt xa hơn Luật Môise, Luật thánh không thể thay đổi đối với người Do Thái. Tuy nhiên, phải chăng đi xa hơn Luật có nghĩa là chống lại Luật? Chúa Giê-su, người được xem như là đã phạm luật vì đã chữa bệnh cho cả người La Mã lẫn người ngoại giáo, giống như đã chữa bệnh cho người Do Thái, mà lại chữa bệnh ngay cả trong Ngày Hưu Lễ (Sabath) nữa! Như thế thì … Đức Giêsu sẽ phải trả lời thế nào đây? Ngài đã không trả lời trực tiếp, nhưng kể một câu chuyện. Đó là câu chuyện kể về một người Do Thái đi bộ từ Giêrusalem đến Giêricô. Trên đường đi, anh Do Thái này đã bị cướp đánh đập tàn nhẫn, đến nỗi què quặt, và máu chảy lênh láng đến nguy tử. Một người Do Thái là tư tế đi qua, rồi lại một người Do Thái khác là thầy thông luật cũng đã đi qua. Nhưng tất cả những người này đều làm lơ tránh qua một bên mà đi. Lý do, vì họ hiểu rõ về Luật và không muốn dây mình vào một kẻ lâm nạn sắp chết. Vì theo Luật, ai giây mình vào xác chết thì thành kẻ nhơ không được vào đền thánh mà cầu nguyện và tế tự. Tuy nhiên, một người Samaria – mà người Do Thái vẫn coi khinh như một người ngoại, không phải người thân cận. Anh Samaria này đã bị đánh động vì lòng thương cảm. Anh ta dừng lại  băng bó các vết thương, đổ dầu và rượu vào để băng bó giúp cho cầm máu lại, rồi đưa kẻ lâm nạn đến một quán trọ ở nông thôn để điều trị, đồng thời cam kết với người chủ quán trọ bảo đảm thanh toán tất cả các khoản chi phí liên quan. Kết thúc câu chuyện, Chúa Giê-su hỏi luật sư: “Vậy ai là người thân cận của người bị đánh bên đường?” Luật sư suy nghĩ về luật pháp, một luật thành văn như thường lệ vẫn được giải thích một cách rất hạn chế; và rồi sau đó, ông thốt ra từ chính lòng mình, từ quả tim biết rung cảm thương yêu vượt lên trên tất cả mọi ràng buộc của Luật: “Đó chính là người đã biết yêu thương cứu giúp kẻ lâm nạn!” Từ chính trong tâm tư lòng dạ mình, vượt xa hơn tất cả những gì luật pháp cho phép, ông luật sư đã hiểu ra và tìm lại được chính bản thân mình. Ông đã nói tiếng nói của quả tim, và tìm lại được chính mình mà tưởng chừng ông đã quên mất vì quá chú tâm đến Luật. Qua câu chuyện để trả lời ông luật sư, Chúa Giêsu đã giúp ông tìm lại được chính mình! Bạn đang nghĩ gì và cảm thấy gì về chính mình khi đọc và suy nghĩ về câu chuyện này trong phúc âm?

Sự Hiển Thắng Của Tình Yêu Qua Bước Đường Khổ Giá

– Lm. Giuse Maria Hoàng Tiến Đoàn, S.J. Dõi theo Phúc Âm Lu-ca theo chu kỳ phụng vụ năm C, chúng ta có thể nhận ra chính mình ngay giữa đám đông với những kẻ bước theo chân Đức Giêsu vào thành thánh Giêrusalem. Chúng ta đã khóc òa trong hân hoan, hòa mình theo tiếng reo vui của dân Do Thái thời ấy, “Alleluia, Alleluia … Hosanna! Chúc tụng Đấng nhân danh Chúa mà đến!” để cùng chào đón Ngài vào Thành Thánh Jerusalem, … Nhưng rồi sau đó Chúng ta lại báng bổ hét vào mặt Ngài, “đóng đinh nó đi, đóng đinh nó đi” trong phiên tòa tại dinh Philatô.   Bị bao vây và bị vùi dập giữa những náo động vinh nhục đầy xúc cảm đó, Đức Giêsu đã chiến đấu một cách anh dũng. Ngài đã kiên cường trả lời và để vâng theo số phận mình, theo đúng ý muốn của Chúa Cha, và hoàn thành sứ mệnh của mình. Ngài đã rửa chân và ôm hôn họ, ngay cả với Giuđa. Ngài đã chữa lành vết thương nơi tai của Malchus, kẻ đã nhào đến tấn công và muốn tóm bắt Ngài. Ngài đã minh nhiên trả lời một cách rành mạch các câu hỏi của Philatô. Ngài cũng đã lặng lẽ nhìn Hêrôđê huyên thuyên cười nói! Trên đường vác khổ giá lên đồi chịu tử hình, Ngài đã đứng lại bảo ban an ủi những người phụ nữ khóc bước theo Ngài. Ngài cảm ơn Simon người Cyrene, kẻ đã gánh vai giúp vác thập giá với Ngài. Ngài đã tha thứ và cầu nguyện cho những tên lính đã hành hung đánh đập, lăng mạ và đóng đinh tử hình Ngài. Ngài đã khích lệ và động viên tinh thần cho tên cướp cùng chịu đóng đinh trên thập tự bên cạnh Ngài. Cuối cùng Ngài đã gục đầu và trút bỏ hơi thở cuối cùng! Phải chăng Ngài đã quỵ ngã và không còn đứng lên được nữa? Chúng ta còn có lời nào nữa để nói về Ngài, Đấng đã hòa mình sống trọn vẹn với chúng ta trong suối dòng lịch sử của nhân loại, và trong lịch sử cuộc sống của mỗi người chúng ta?  Khi Cleopas và bạn của ông hỏi một Người Khách Lạ đang cùng bước đi với họ trên con đường đến Emmaus. Họ hỏi, “Chẳng phải Ngài chính là nguồn hy vọng cuối cùng, và duy nhất của hết thảy mọi người chúng ta sao? Phải chăng cùng với Ngài, mọi sự tốt lành trên quả đất này đã tan biến? Hôm nay như các môn đệ hai nghìn năm trước, chúng ta hét vang lên với một niềm vui vỡ bờ: Không phải thế Ngài đã sống lại và còn đang sống … Sống một cách tràn trề đầy sung mãn. Vì chính Thiên Chúa đã giải cứu Ngài, đã làm cho Ngài sống lại! Thiên Chúa đã chứng thực cuộc sống của Ngài. Sự khổ nạn và cái chết nơi Ngài thực ra là một bằng chứng tột cùng đầy sống động về sự hiển thắng của tình yêu. Tình Yêu Thiên Chúa đã chiến thắng sự tội và sự chết ngay nơi bi thương cùng khốn nhất. Ngài đã sống lại cho hết thảy chúng ta! Ngài đã sống lại để kéo chúng ta lên theo cùng với Ngài đi vào cõi sống vĩnh cửu trong hân hoan bất tận nơi Thiên Chúa như lời Ngài đã hứa trước, “Khi nào Ta được giương cao, Ta sẽ kéo hết thảy các ngươi lên cùng Ta.” Thật vậy, cùng tột của cuộc sống con người không phải là chết, mà là sống! Một cuộc sống sung mãn và tuôn tràn từ sự sống lại nơi Ngài. Sự sống đã vượt thắng sự chết. Nơi Ngài, chúng ta được yêu thương trong một tình yêu bất tận. Tình yêu đã chiến thắng sự tội và sự chết. Thiên Chúa đã giải phòng toàn diện chúng ta trong Đức Kitô. Vì Ngài đã Sống Lại thật rồi! ALLELUIA! Thế giới cũ cuộc sống cũ đã qua đi. Cái cũ đã kết thúc rồi! Một thế giới mới, một cuộc sống mới sinh động đã khai mở và tuôn tràn! Với Ngài và trong Ngài, tất cả đã đổi thay! Không gì còn có thể tiêu diệt, ngay cả sự tội, sự dữ và sự chết. Ngài đã sống lại và còn đang sống sung mãn trong quang vinh và thương yêu bất tận. Tạ ơn Thiên Chúa! Ngài đã sống lại rồi và còn đang sống giữa chúng ta. AMEN, ALLELUIA!

Hy Vọng Đã Vươn Lên Giữa Âu Lo Cùng Khổ

– Lm. Giuse Maria Hoàng Tiến Đoàn, S.J. Khi bước vào Mùa Chay với hai năm đại dịch Covid vừa qua, chúng ta đã rơi vào một tình cảnh khó khăn, hầu như cho tất cả mọi người, đặc biệt là cho trẻ em. Ngoài việc gây ra bệnh tật, đại dịch còn gây ra sự cô đơn, lo lắng và nghi ngại. Giờ đây trong sự giảm nhẹ của cơn đại dịch, chúng ta thấy mình đang chờ đợi – tuy mệt mỏi nhưng đầy háo hức và hy vọng – về một cuộc sống đầy đủ hơn, và sinh hoạt cộng đồng sung túc hơn. Ai trong chúng ta cũng có thể cảm nhận được sự nhẹ nhõm của mình trước những dấu hiệu đầy phấn khởi và hy vọng. Vì vậy, chúng ta sẽ làm những gì tốt nhất có thể để biến những điều này thành hiện thực. Chúng ta cần niềm hy vọng để an ủi nhau trong  những lúc như thế này, khi tương lai vẫn còn mờ mịt chưa được rõ ràng lắm. Và cần phải tin rằng chúng ta sẽ vượt qua cơn đại dịch để tiến đến một bình minh mới. Khi hướng tới Tam Nhật Thánh và Lễ Trọng Phục sinh, chúng ta biết rằng việc tụ tập trong nhà thờ vào những ngày thánh này, với sự thận trọng cao độ có lẽ là điều nghi ngại đối với một số người. Tuy nhiên, chúng ta cũng biết rằng cảm giác đó phản ánh rõ nét nơi các môn đệ của Chúa Kitô trước những lời mời gọi của Ngài rằng mọi người cần phải yêu thương nhau vào chiều Thứ Năm Tuần Thánh; và thông điệp về sự hy sinh hiến thân mình vào ngày Thứ Sáu Tuần Thánh phản ánh qua cái chết khổ nạn thương đau của Ngài. Sự khổ đau qua việc hiến mình chịu chết đã biểu hiện rõ nét về tình yêu bao la của Ngài dành cho tất cả mọi người chúng ta. Chúa Nhật Phục Sinh tỏ hiện tình yêu đã chiến thắng sự dữ và sự chết.Sau cùng, những Sứ Điệp Lời Chúa trong suốt mùa Phục Sinh sẽ đem lại cho chúng ta những trải nghiệm thực sự về một cuộc sống hoàn toàn đổi mới trong ơn phúc dồi dào! Kèm với những lời cảm tạ dâng lên Thiên Chuá và tâm tình tri ân lẫn nhau qua sự dấn thân phục vụ nhau trong tin tưởng và hy vọng, mỗi người chúng ta đang được Chúa kêu mời chia sẻ sứ mệnh của Ngài  trong thế giới hôm nay. Chúng ta khẩn khoản cầu xin Chúa lấp đầy quả tim và tâm trí mình bằng ánh sáng hy vọng, cùng nhau đón chờ một bình minh mới, để cùng nhau khởi đầu sức sống mới dạt dào trong Tin – Yêu – Hy Vọng. Chúng ta hãy cùng nhau cảm nhận, và hân hoan đón mừng cuộc sống mới! Vì Chúa Kitô sẽ sống lại và Ngài đang sống giữa chúng ta. Chúc mừng Lễ Chúa Phục sinh đến với tất cả mọi người ! 

Ý Nghĩa Đích Thật Của Luật

– Lm. Giuse-Maria Hoàng Tiến Đoàn, S.J. Như bạn đã nghe trong phúc âm hôm nay, những người từ Giêrusalem chăm chú quan sát và phân tích, để bắt gặp một số môn đồ của Chúa không rửa tay trước khi dùng bữa. Họ đã tức giận với Ngài, “Tại sao ông đã không quở trách họ; tại sao ông lại làm ngơ mà không nói một lời nào? ”   Nhiều người Do Thái thời Chúa Giêsu huênh hoang tự đắc về sự hiểu biết và tôn trọng luật pháp của họ. Thực ra họ chỉ chủ ý tạo thêm uy danh cá nhân và quyền lực của họ. Rõ ràng họ đặt ra luật không phải để tạo ổn định cuộc sống trong trật tự và niềm vui. Họ nại đến pháp luật để kiện tụng và tố cáo lẫn nhau, để tìm cách trục lợi và tham quyền cố vị. Chúa Giêsu nhìn họ, nhìn vào thâm sâu trong tâm tư lòng dạ tham-sân-si đầy giả tạo và  tham lam của họ, rồi Ngài kết luận: “Phải chăng tiên tri Isaia đã xác thực khi nói tiên tri về các ngươi là những kẻ đạo đức giả.  Như đã có lời chép rằng: “Dân này môi miệng thì tôn kính Ta, nhưng lòng dạ lại xa Ta. Họ tôn thờ Ta, nhưng lại giảng dạy những tín điều, giáo luật con người vô ích.” Các ngươi đã coi thường huấn lệnh của Chúa, để bám chặt vào những truyền thống loài người “(Máccô 7: 6-8). Đức Giêsu đã không nói rằng luật pháp là không tốt và nên bị bãi bỏ. Ngài nhấn mạnh tính cách thực dụng của Luật nhằm phục vụ con người. Người ta không được dùng luật pháp để trục lợi một cách ích kỷ. Trong bài đọc thứ nhất theo sách Đệ Nhị Luật, Môise đã nói với dân chúng rằng Luật của Chúa là một món quà giúp thông hiểu và khôn ngoan cho những ai biết vâng nghe và thực hành (ĐNL 4:1-2+6-8). Trong bài đọc thứ hai, thánh Giacôbê nhấn mạnh tính cách thiết thực của luật khi ông nói rằng đức tin không có việc làm là đức tin chết tận gốc rễ. “Chúng ta phải là người biết thực hành Lời Chúa, chứ không phải chỉ biết lắng nghe.” (Giacôbê 1:17-18, 21b-22, 27). Trong phúc âm hôm nay, sự phản đối của Chúa Giêsu về vấn đề rửa tay còn đi xa hơn nữa với ý nghĩa đích thật của nó. Ngài nhắc nhủ rằng: khi ăn với những ẩn ý bên trong các thức ăn có thể khiến người ta bất xứng trước mặt Chúa. Như chúng ta đều biết, theo Luật Do Thái đã ấn định một số loại thực phẩm như thịt heo và một số động vật thì người Do Thái không được phép ăn, vì có thể làm người ta ra nhơ uế. Nhân dịp này, Chúa Giê-su đã thẳng thắn tuyên bố rằng luật ăn kiêng sẽ không còn ràng buộc nữa. “Không gì từ bên ngoài xâm nhập vào cơ thể, có thể làm cho người ta ra nhơ uế! nhưng những gì từ bên trong xuất ra mới làm cho người ta ra nhơ uế, (Mác 7:15). Chúa Giêsu không nói về các thức ăn hay những món ăn, nhưng Ngài đưa ra một danh sách dài những khuynh hướng tội lỗi xuất ra từ lòng dạ con người. Đó là: “từ trong thâm tâm lòng dạ người ta, xuất ra những ý nghĩ xấu xa, gian manh hiểm độc, trộm cướp, giết người, ngoại tình, kiêu căng, đố kỵ, điên rồ và mọi thứ xấu xa, ”(Mác 7: 21-22). Chính những thứ này mới làm cho người ta ra nhơ uế trước mặt Thiên Chúa. Vào thời Chúa Giê-su không có tạp chí, sách báo, phim ảnh hay internet như ngày nay. Vì vậy, nếu Chúa Giê-su sống trong thời đại của chúng ta hôm nay, chắc hẳn Chúa sẽ lên án khắt khe các trang mạng hay báo chí đồi trụy khiêu dâm, bài bạc, sách động kỳ thị và đàn áp, đưa tin giả và ngụy tạo nhằm lung lạc niềm tin nơi quần chúng và gây bạo loạn, tạo ra những chia rẽ, hiềm thù gây ra tội ác và bất ổn trong xã hội. Đó là mầm mống của mọi thứ tội ác, người ta cần cảnh giác và loại trừ một cách dứt khoát và mãnh liệt. Chúa Giêsu đã cảnh báo chúng ta, và Ngài không ngừng nhắc nhở giúp chúng ta cần phải quyết liệt tránh xa những tâm ý tồi tệ xấu xa đó, … để là một môn đệ Chúa Kitô có một tình yêu chân thực. Chân thực trong tình yêu với Chúa và với nhau.