Ai dám theo Chúa?

  – ĐÔ. Phaolô Phan Văn HiềnNước Mỹ đang bước vào giai đoạn vận động tranh cử nội bộ đảng phái, để mỗi đảng tìm ra một ứng viên thích hợp cho cuộc bầu cử tổng thống vào ngày 5 tháng 11 năm 2024. Đây sẽ là cuộc bầu cử Tổng Thống lần thứ 60, kể từ khi quốc gia này được thành lập. Và cũng như mọi lần, các ứng viên tranh cử luôn đưa ra những lời hứa hẹn về tương lai sáng lạng cho đất nước và toàn dân. Tất nhiên, những người tích cực ủng hộ cho các ứng viên tổng thống này, càng được hứa hẹn những chức vụ quan trọng, đầy quyền lực, một khi ứng viên thắng cử.   Thật ra, từ xưa đến nay, và bất kỳ ở đâu, người lãnh đạo trên đường tìm kiếm quyền lực, bao giờ cũng hứa ban những chức vụ quan trọng, gắn liền với tiền bạc, danh vọng, quyền quý cao sang, cho những người đi theo ủng hộ mình. Chỉ có Đức Giê-su Ki-tô, Đấng được xức dầu, Vị Lãnh Đạo được toàn dân mong đợi sẽ giải cứu đất nước khỏi ách đô hộ của Đế Quốc Roma, lại không hứa hẹn gì cho các môn đệ, những kẻ đã bỏ nhà bỏ cửa, bỏ hết mọi sự để theo mình trong nhiều năm, mà lại còn đòi hỏi các ông nhiều hơn nữa, nếu muốn tiếp tục theo Ngài đến cùng. Ngài nói với các ông một cách công khai và rõ ràng: “Nếu ai muốn theo Thầy, thì hãy từ bỏ mình đi, và vác thập giá mình mà theo Thầy. Vì chưng, ai muốn cứu mạng sống mình, thì sẽ mất; còn ai đành mất mạng sống mình vì Thầy, thì sẽ được sự sống. Nếu ai được lợi cả thế gian mà thiệt hại sự sống mình, thì được ích gì?” Hóa ra, mặc dù Ngài là “Đức Ki-tô, Con Thiên Chúa hằng sống”, Đấng đầy quyền năng, đúng như lời tuyên xưng của Phê-rô, khi được hỏi về căn tính của Ngài, Chúa Giê-su đã không hứa những của cải vật chất hay quyền lực, danh vọng chóng qua, mà chỉ bảo đảm cho các ông được sự sống hạnh phúc đời đời. Mà sự sống này phải được trả giá bằng việc hy sinh từ bỏ chính những đam mê khát vọng của mình, và đi vào con đường hẹp của thập giá gian khổ, để có thể theo Chúa một cách trọn vẹn. Và giống như Thầy của mình là Đức Giê-su, con đường thập giá này sẽ dẫn các ông đến vinh quang phục sinh.Đấng Đáng Kính Đức Hồng Y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận, đã đi trên con đường hẹp của thập giá trong hơn 13 năm tù, cũng chỉ vì muốn vâng phục ý muốn của Đức Giáo Hoàng Phaolô VI, khi được chỉ định làm Tổng Giám Mục Phó Giáo Phận Sài Gòn, hơn là tìm sự dễ dãi cho bản thân mình, khi hèn nhát làm theo những tính toán của người khác. Với kinh nghiệm sống này, Ngài để lại cho chúng ta “linh đạo gian khổ” sau đây:Trong gian khổ, có 3 điều con nên tránh:–  Đừng điều tra “tại ai”? Hãy cám ơn dụng cụ nào đó Chúa dùng để thánh hóa con.–  Đứng than thở với bất cứ ai. Chúa Thánh Thể, Đức Mẹ là nơi con tìm tâm sự trước hết.–  Khi đã qua. Đừng nhắc lại và trách móc, hận thù. Bỏ quên đi. Không bao giờ nhắc lại và nói: Alleluia! (ĐHV 700) Và Đức Hồng Y xác tín “Thử thách gian khổ là giấy phép theo Chúa để hưởng hạnh phúc hân hoan với Chúa: “Ai muốn theo Thầy, hãy bỏ mình, vác thánh giá…” (ĐHV 714) Mỗi người chúng ta hãy tự hỏi: “Mình đã đủ can đảm để tìm “Giấy phép theo Chúa” này chưa?”

Chúa Tin Con

– ĐÔ. Phaolô Phan Văn Hiền Người ta kể chuyện rằng, khi Chúa Giê-su hoàn tất công trình cứu chuộc Chúa Cha giao phó, Ngài khải hoàn về trời. Các thiên thần vui mừng ra nghênh đón Ngài, và xin Ngài kể lại những công việc của Ngài dưới trần thế. Chúa Giê-su kiên nhẫn thuật lại cho các thiên thần về những biến cố quan trọng trong cuộc đời mình, từ khi sinh ra, sống ẩn dật ở Nazaret, công khai giảng dạy 3 năm cuối đời, rồi chịu chết và sống lại quang vinh. Các thiên thần hỏi tiếp: “Nhưng thưa Chúa, bây giờ Chúa trở về Trời rồi, thì ai sẽ đứng ra tiếp tục cộng việc của Ngài ở trần gian?” Chúa Giê-su trả lời: “Khi còn ở dưới thế, Ta có tụ tập được một nhóm người tin tưởng và yêu mến Ta thật sự. Những người này sẽ tiếp tục công việc rao giảng Tin Mừng và điều hành mọi việc trong Giáo Hội của Ta” Lập tức, Tổng Lãnh Thiên Thần Gabriel ấp úng hỏi: “Có phải Chúa muốn nói đến Phê-rô, kẻ chối Chúa 3 lần, và cả nhóm của ông ta cũng đã tháo chạy khi Chúa bị bắt không? Chúa vẫn tin tưởng giao cho nhóm này công việc trọng đại này sao? Và giả sử kế hoạch này thất bại thì Chúa tính như thế nào đây?” Chúa Giê-su trả lời: “Ta không có kế hoạch nào khác cả – Kế hoạch này phải thành công thôi.” Thật vậy, Chúa Giê-su không có kế hoạch nào khác ngoài việc tin tưởng vào những nỗ lực, và cố gắng của các môn đệ của mình. Sự tin tưởng này của Chúa Giê-su, được Ngài công khai bày tỏ trong bài Tin Mừng của Thánh Mattheo hôm nay, khi Chúa sai 12 tông đồ của Ngài, đến những làng mạc xa xôi để rao giảng và chữa lành bệnh tật cho dân nghèo. Thấy họ như đàn chiên bơ vơ, không được ai chăm sóc, Ngài truyền lệnh và nhắc nhỡ các ông: “Lúa chín đầy đồng, mà thợ gặt thì ít. Các con hãy xin chủ ruộng sai thợ đi gặt lúa”. Và các Tông Đồ đã hoàn tất lệnh truyền này trong thế kỷ đầu tiên của Giáo Hội. Thế nhưng, lệnh truyền này vẫn tiếp tục được mọi người Ki-tô hữu trong hơn 2000 năm qua, cưu mang và thực hiện. Nói cách khác, tất cả những ai tin vào Chúa Giê-su, trong đó có chúng ta, đều có chung một sứ mạng là rao giảng sứ điệp của Chúa, tùy theo khả năng và môi trường của riêng mình. Từ môi trường gia đình, đến học đường, công sở văn phòng… bât cứ nơi nào, người Ki-tô hữu vẫn có thể thực hiện mệnh lệnh rao truyền sứ điệp yêu thương cứu độ của Chúa, bằng chính lối sống yêu thương tha thứ, quảng đại, cảm thông và chia sẻ của mình. Chúa Giê-su chi muồn nhắc chúng ta rằng: “Các ngươi đã không công mà được, thì cũng hãy cho không công” (Mt 10,8)  Và trong khi thực hiện sứ mệnh tông đồ, hãy luôn ghi nhớ duy trì sự hợp tác và đoàn kết với nhau. Bằng không việc tông đồ càng làm cho Hội Thánh chia rẽ và trở thành gương xấu cho những người chung quanh, như lời Đức Cồ Hồng Y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận khuyến cáo: “Việc tông đồ nhằm đưa người ta vào Hội Thánh, không phải để lập những Hội Thánh riêng của nhóm này nhóm nọ, dòng này, dòng kia. Chưa rối đạo, nhưng rối việc đạo lắm.” (ĐHV 320) Chúa tin các tông đồ của Ngài và giờ đây tin mỗi người chúng ta. Đừng để Ngài thất vọng.

“Hãy ra đây”: Niềm hy vọng lấp đầy

– ĐÔ. Phaolô Phan Văn HiềnAi trong chúng ta đã từng chứng kiến cái chết của người thân trong gia đình, đều cảm nghiệm được niềm đau và nỗi thất vọng gặm nát tâm hồn mình. Càng thân thiết, càng thương mến, thì nỗi đau càng cao và thất vọng càng dày. Đó chính là tâm trạng của Mat-ta và Maria khi em mình là Lazarô từ giã cõi đời. Thật ra, hai chị em trước đó vẫn còn môt chút hy vọng là em mình có thể được chữa lành, vì tin vào tình thương và quyền năng của Đức Giêsu, một người rất thân với ba chị em: “Thưa Thầy, nếu Thầy có mặt ở đây thì em con không chết…”Nhưng điều đáng nói là ngay khi Lazarô đã qua đời và táng vào mồ đá rồi, niềm hy vọng đó vẫn không tàn phai: “Tuy nhiên, ngay cả bây giờ, con biết Thầy xin gì cùng Thiên Chúa, Thiên Chúa cũng sẽ ban cho Thầy”. Một niềm hy vọng có thể bị xem là hoang tưởng, nhưng với hai chị em, đó vẫn là một niềm hy vọng tròn đầy, vì được đặt trền nền tảng đức tin sắt son vào Thiên Chúa, Đấng có thể làm được những điều không thể.  Và cuối cùng Đức Giêsu đã biến niềm hy vọng của hai chị em Mat-ta và Maria thành hiện thực: Lazarô sống lại. “Lazarô! Hãy ra đây”. Và Lazarô từ từ bước ra khỏi mồ, chân tay còn quấn những mảnh vải, và trên mặt còn quấn khăn liệm. Đúng là Lazarô, em ruột của Mat-ta và Maria. Không phải một người nào khác được đánh tráo như trong trò ảo thuật ở Las Vegas ngày nay. Mọi người ngạc nhiên, sửng sốt, vui mừng. Còn Mat-ta và Maria, niềm hy vọng lấp đầy hạnh phúc. Niềm hy vọng của Mat-ta và Maria cũng chính là niềm hy vọng của mỗi người chúng ta trong cái thế giới đầy chết chóc vì chiến tranh, bạo lực, khủng bố, phá thai, giết người… Thánh Phêrô đã khuyên bảo các tín hữu sơ khai: “Anh em hãy hiểu Ðức Kitô là Chúa nơi lòng anh em, luôn luôn sẵn sàng đáp lời với mọi người hỏi anh em về mối hy vọng có trong anh em” (1Pet 3, 15). Mối hy vọng đó chính là sự sống của Thiên Chúa mà chúng ta được Ngài thương cho chung phần: “Ta là sự sống lại và là sự sống, ai tin Ta, dầu có chết cũng sẽ được sống.” Năm 1982, tại đám tang của nhà lãnh đạo Liên Bang Xô Viết Leonid Brezhnev, bà quả phụ vị lãnh đạo được phép đến gặp chồng mình lần cuối trước khi đóng nắp hòm. Bà đứng bất động thật lâu bên cạnh quan tài, khuôn mặt vô cảm. Nhưng ngay trước khi quan tài đóng lại, bà đã làm một hành động khiến cho những ngươi vô thần ở đất nước này sửng sốt. Đó là bà đã làm dấu Thánh Giá trên ngực chồng bà. Một hành động đầy can đảm nói lên sự sai lạc của chồng bà khi chối bỏ Thiên Chúa, và đồng thời cũng nói lên niềm hy vọng của bà về sự phán xét nhân lành của Đức Giêsu, để chồng bà được hưởng cuộc sống hạnh phúc với Ngài.  Bà quả phụ Brezhnev hơn ai hết đã hiểu được niềm hy vọng của Mat-ta và Maria, và cũng là tấm gương cho chúng ta như lời khuyên của Đức Cố Hồng Y Nguyễn Văn Thuận: “ Người Công Giáo là ánh sáng giữa đen tối, là muối sống giữa thối nát, và là hy vọng giữa một nhân loại thất vọng” ( ĐHV 950).

Tò Mò

  – ĐÔ. Phaolô Phan Văn Hiền                   Từ xưa đến này, tò mò hay là tính thích tìm hiểu gắn liền với bản tính con người. Nhờ có tính tò mò này mà văn minh nhân loại được thành hình và ngày càng phát triển. Thật vậy, đứng trước những hiện tượng thiên nhiên hoặc khi phải đương đầu với những nhu cầu của cuộc sống, con người thường đặt câu hỏi về nguồn gốc, mục đích… và rồi tự tìm cách trả lời. Những câu hỏi bình dân như “Tại sao mưa? Bão từ đâu đến? Làm sao săn bắt chim trời, cá biển? Làm sao có lửa để nấu ăn và sưởi ấm?…”  là những khởi đầu cho óc tò mò và sáng tạo của con người. Tính tò mò đồng thời cũng giúp con người hiểu nhau, tôn trọng nhau và thông cảm nhau hơn. Tuy nhiên, tính tò mò này cũng có thể mang lại những hậu quả tai hại, nhiều khi làm tan vỡ tương quan tình cảm gắn bó giữa những người thân, bạn bè, hay đối tượng làm ăn, nếu sử dụng theo ý hướng xấu.   (tiếp theo trang 1) Bài Tin Mừng hôm nay của Thánh Luca thuật lại câu chuyện Chúa Giê su vào dự tiệc tại nhà một người Biệt Phái quyền thế. Ông ta cũng mời rất nhiều người thân thích, đồng nghiệp, bạn bè làm ăn trong giới thượng lưu quý tộc của mình và tất cả đều đến dự tiệc, chỉ vì tò mò muốn gặp Đức Giê-su thành Nazareth, một nhân vật mới nổi tiếng và đang lôi cuốn mọi người khắp nơi.  Được mời lần này, họ cảm thấy rất phấn khích vì muốn tận mắt thấy Đức Giê-su bằng xương bằng thịt, muốn chứng kiến cách hành xử của Ngài, và nhất là muôn nghe tận tai lời Ngài nói ra. Họ tự hỏi Đức Giê-su này có gì đặc biệt mà thiên hạ lại chạy theo như chưa từng thấy trước đây, và điều này có ảnh hưởng đến tiếng tăm và quyền lợi của họ không. Vì thế, họ càng để ý quan sát Ngài một cách kỹ lưỡng hơn. Không một cử chỉ, một lời nói nào của Ngài lọt ra khỏi tầm kiểm soát của họ. Mục đích của sự quan sát này là để đánh giá con người của Ngài, và nếu cần sẽ bôi nhọ, vu khống Ngài như một cách để bảo vệ giai cấp và lối sống của mình. Thật không may cách sống khoe khoang, háo danh của họ lần này lại rơi vào tầm ngắm của Đức Giê-su. Tới dự tiệc, họ tìm chỗ ngồi danh dự vì nghĩ rằng mình xứng đáng được vinh dự đó. Và điều này đã trở thành đề tài Đức Giê-su nhắm tới. Ngài khuyên họ hãy sống khiêm tốn, vì khiêm tốn giúp mình tự nhận ra giá trị đích thực của mình, và nhất là giúp mình tin tưởng vào Thiên Chúa, Đấng thông ban mọi sự tốt lành cho con người. Nói cách khác, với khiêm tốn họ mới có thể nhận ra khuôn mặt thật của Đức Giê-su, Đấng “hiền lành và khiêm nhượng trong lòng”, và từ đó thay đổi cuộc sồng để tìm gặp ơn cứu độ. Như vậy, tò mò không thật sự là hoàn toàn xấu. Trong đời sống thiêng liêng, tò mò có thể đem lại những hậu quả tốt lành, nếu chúng ta biết sử dụng nó để nhận ra sự thật về mình và về người khác, nhờ đó chúng ta không còn tự kiêu, phách lối về mình, và không phán đoán về người khác một cách bất công, sai sự thật, nhằm hạ thấp hay bôi nhọ danh dự của người khác. Đó chính là bản chất của khiêm nhường mà Chúa muốn nhắc nhỡ chúng ta trong Tin Mừng hôm nay. Nhưng thế nào là khiêm nhường thật? Đức Cố Hồng Y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận chia sẻ: Khi con tự hạ mình, chưa hẳn con khiêm nhượng. Khi người ta hạ con, chưa hẳn con khiêm nhượng. Khi người ta hạ con, mà con vui lòng chấp nhận vì Chúa, lúc ấy con khiêm nhượng thật. (ĐHV 509)

Điều Kiện Theo Chúa

– ĐÔ. Phaolô Phan Văn HiềnSự sống là điều quý giá nhất trong cuộc đời người. Ai cũng muốn kéo dài tuổi thọ. Tuy nhiên vẫn có một số người tình nguyện hy sinh mạng sống mình vì một lý tưởng cao quý nào đó, khiến cho mọi người khâm phục. Bài Tin Mừng hôm nay cho ta thấy Đức Giê-su chính là người hùng cao quý đó, ở một mức độ tuyệt đỉnh, vì Ngài có thể tự mình thoát khỏi cái chết. Là Thiên Chúa, Ngài biết quá rõ các Biệt Phái, Luật Sĩ và kỳ hào ở Giê-ru-sa-lem đang tìm mọi cách để hủy diệt Ngài, nhưng Ngài vẫn cương quyết đi đến đó, sẵn sàng chấp nhận bị hành hạ và chết trên thập giá, để thực hiện chương trình và công cuộc cứu rỗi mà Chúa Cha giao phó cho Ngài. Sự cương quyết này cũng đồng thời nói lên sự can đảm và lòng yêu mến của Chúa Giê-su đối với Chúa Cha, Đấng mà Chúa Giê-su luôn vâng phục và làm đẹp lòng Ngài. Thái độ can đảm và cương quyết này nơi Chúa Giê-su cũng chính là điều kiện căn bản cho những ai muốn theo Ngài, để tiếp tục công việc rao giảng Tin Mừng cho mọi người. Câu trả lời của Chúa Giê-su cho những người xin đi theo Ngài trong Tin Mừng hôm nay, một lần nữa nhấn mạnh đến thái độ cương quyết của những ai muốn theo Chúa, là phải từ bỏ của cải vật chất, từ bỏ tình cảm gia đình, và từ bỏ tất cả những gì sâu xa nhất trong chính mình. Có thể nhiều người tự hỏi: tình cảm gia đình tự nhiên hay của cải vật chất có gì xấu đâu mà Chúa bắt phải từ bỏ. Không lý Chúa Giê-su muốn những ai theo Ngài phải trở thành cô độc và nghèo túng hết hay sao? Thật ra, về vấn đề của cải vật chất, Chúa Giê-su chỉ muốn cảnh báo chúng ta về cách thức tìm kiếm và sử dụng nó, vì thông thường “của cải tiền bác của ngươi ở đâu thì lòng ngươi ở đó”. Và một khi tâm trí đã dành hết cho của cải, con người khó có thể theo Chúa hết mình được. Đàng khác, tham lam của cải dễ sinh ra ích kỷ làm tôn thương người khác, nên càng không thể xứng đáng làm môn đệ của Chúa. Cũng vậy, tình yêu gia đình là điều đáng trân trọng. Nhưng người môn đệ đích thực phải chọn Chúa trên tình cảm gia đình.Và cuối cùng, Chúa mời gọi người môn đệ chân chính hãy từ bỏ chính mình. Từ bỏ của cải hay tình cảm gia đình vẫn còn là những gì bên ngoài. Nhưng với đòi hỏi từ bỏ mình, Chúa muốn người môn đệ từ bỏ tất cả những gì sâu xa trong chính bản thân, để hoàn toàn thuộc về Chúa và trọn vẹn thực thi ý của Ngài, như Ngài đã từ bỏ tất cả để thực hiện ý muốn của Chúa Cha. Lời mời gọi từ bỏ để theo Chúa và tiếp tục sứ mạng rao giảng Tin Mừng của Chúa Giê-su, không phải chỉ dành riêng cho một số người mà cho tất cả chúng ta, những người đã thực sự trở nên môn đệ của Chúa nhờ Bí Tích Rửa Tội và Bí Tích Thêm Sức. Hơn nữa, tất cả mọi người tín hữu đều có bổn phận truyền giáo vì bản chất của Giáo Hội là truyền giáo. Vì thế, Lời Chúa hôm nay nhắc nhỡ cho chúng ta về bổn phận cao quý này, và kiên trì thực hiện sứ mạng rao giảng Tin Mừng trong môi trường sống của mình trong suốt cuộc đời, như Đức Cố Hồng Y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận đã khuyên bảo: “Quyết định theo Chúa của con không phải chỉ là một chữ ký, không phải là một lời tuyên thệ thôi. Nhưng là một sự hiến dâng liên lỉ thực hiện trong cả cuộc sống.” (ĐHV 69).

Lòng Chúa Thương Xót

– ĐÔ. Phaolo Phan Văn HiềnNgày 18 tháng 4 năm 1993, tại Quảng Trường Thánh Phê-rô ở Roma, Đức Giáo Hoàng Gioan Phao-lô II, đã long trọng cử hành lễ phong chân phước cho nữ tu Faustina Kowalska, một người Ba Lan, có tâm hồn sùng kính Lòng Thương Xót Chúa một cách triệt để. Chính trong dịp lễ này, Đức Giáo Hoàng Gioan Phao-lô đã thực hiện ý muốn của nữ tu Faustina là chọn ngày Chúa Nhật Thứ 2 Phục Sinh hằng năm, làm ngày lễ tôn kính Lòng Thương Xót Chúa trong toàn thể Giáo Hội, để nhắc nhỡ mọi người Ki-tô hữu về tình thương bao la của Thiên Chúa dành cho con người.   Và kể từ đó, tức là gần 30 năm nay, phong trào Lòng Thương Xót Chúa của Thánh nữ Faustina, đã phát triển khắp nơi trên toàn thế giới một cách mạnh mẽ, với nhiệm vụ loan truyền và khẩn nài Lòng Thương Xót Chúa cho toàn thế giới, và giúp mỗi thành viên đạt đến sự toàn thiện qua tinh thần sống phó thác hoàn toàn cho Chúa và sống bác ái với mọi người chung quanh. Thật ra, Lòng Chúa Thương Xót không phải là điều gì mới mẽ, bởi vì lịch sử nhân loại, và nhất là lịch sử cứu độ, được đánh dấu rõ nét bằng tình thương bao la của Thiên Chúa. Thiên Chúa là Tình Yêu nên ở bất kỳ đâu, thời điểm nào, cũng đầy dẫy dấu ấn yêu thương của Ngài. Và tình yêu này đã được tỏ hiện một cách rõ rệt nhất nơi Đức Giê-su Ki-tô, Ngôi Hai Thiên Chúa xuống thế làm người, theo chương trình của Thiên Chúa Cha, để cứu nhân loại, qua cái chết và phục sinh vinh hiển của Ngài. Thánh Gioan nhận ra điều này và ghi lại: “Thiên Chúa quá yêu thương thế gian đến nỗi ban chinh Con Một của mình” (Ga 3: 16). Một tình yêu thật lạ lùng như bài Công Bố Tin Mừng Phục Sinh diễn giải trong lễ Vọng Phục Sinh: “Để cứu đầy tớ, Chúa đã hy sinh chính người Con yêu”. Và nhờ đó, Đức Giê-su đã trở nên nguồn ơn cứu độ cho tất cả những ai tin vào Ngài. Những lần Đức Giê-su hiện ra với các môn đệ, sau khi từ cõi chết sống lại, càng nói lên tình thương của Ngài dành cho các ông. Ngài quên hết những lần chối Thầy của Phê-rô, quên sự hèn nhát trốn chạy của các ông, quên sự ngu muội cố chấp của các ông về Nước Trời; và ngay cả  sự cứng lòng của Tô-ma trong bài Tin Mừng hôm nay, Ngài cũng bỏ qua…  . Tất cả chỉ còn lại yêu thương và tha thứ. Đây là đỉnh cao của Lòng Thương Xót. Một cách cụ thể, Lòng Thương Xót của Thiên Chúa được biểu lộ qua Bí Tích Giải Tội do chính Ngài thiết lập: “Các con tha tội cho ai, thì tội người ấy được tha; các con cầm tội ai, thì tội người ấy bị cầm lại” (Ga 20: 19-23). Như vậy, với đức tin và sự hoán cãi, tất cả chúng ta đều có thể mở cửa kho tàng Lòng Thương Xót của Ngài.

Kitô Hữu Đích Thực

– ĐÔ. Phaolo Phan Văn HiềnPhê phán tiêu cực về người khác là một tật xấu gắn liền với bản tính con người từ ngàn xưa cho đến ngày nay. Tật xấu này bắt nguồn từ tính tự kiêu, muốn mình nổi bật, nên tìm mọi cách để đè bẹp, hạ bệ người khác, dù phải nói sai sự thật, vu khống bất công, vì nghĩ rằng làm như vậy mình sẽ được nâng cao lên.   Bài đọc I của sách Huấn Ca trong Chúa Nhật hôm nay đã khuyến cáo dân chúng nên phân biệt người tốt xấu qua chính lời nói của họ: “Nết xấu của một người cũng xuất hiện trong lời nói… Xem trái liền biết cây thế nào, thì nghe lời nói cũng biết tư tưởng lòng người như thể ấy”.  Lời chỉ dạy của sách Huấn Ca trên đây phản ảnh một phần nào giáo huấn của Chúa Giêsu trong bài Tin Mừng của Thánh Luca hôm nay. Chúa Giêsu lên án những ai phê phán một cách bất cẩn, bất công, vội vàng với hậu ý xấu về thái độ, cảm xúc, ý hướng và hành động của người khác. Ngài dùng hình ảnh hai người mù dẫn đường cho nhau, và hình ảnh một người tìm cách lấy cọng rác trong mắt người khác mà quên trước hết phải lấy cái đà lớn ra khỏi mắt mình, để nói lên kiểu sống giả dối, lố bịch của hạng người này.Một cách cụ thể, đây chính là hạng người chuyên nói hành nói xấu, bịa đặt phao tin, ngồi lê đôi mách. Và như vậy, họ hủy hoại danh dự của người khác một cách trầm trong đến nỗi không thể nào hàn gắn lại được. Chúa Giêsu đã ví họ như những cây xấu, suốt đời không thể sinh trái tốt. Và tất nhiên, đó không phải là cách sống của người Ki tô hữu. Vậy đâu là cách sống của người Ki tô hữu đích thực. Người Ki tô hữu đích thực là người biết dùng lời nói của mình để đem lại bình an, hiệp nhất, niềm vui và hy vọng cho những người chung quanh. Cuộc đời họ gắn liền với Đức Ki tô qua việc cầu nguyện và sống theo lời Ngài chỉ dạy, nên họ nhận ra được tất cả mọi người đều là anh chị em của mình, thật tâm yêu mến, và muốn cho nhau những điều tốt đẹp nhất. Chính nhờ đó, họ luôn tôn trọng người khác, và để quyền phán xét cho một mình Thiên Chúa.Cuộc đời Đức Hồng Y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận là một mẫu gương của người Ki tô hữu đích thực. Ngài xem 13 năm tù như là một cuộc tĩnh tâm dài, không hề oán hận, than trách bất kỳ một ai. Trái lại, Ngài luôn yêu thương mọi người, kể cả những kẻ canh gác Ngài, vì Ngài nhận ra được chính những người có thái độ thù nghịch này cũng là con cái của Thiên Chúa, và đáng được yêu thương hơn. Ngài tin hoàn toàn vào Chúa. Kinh nghiệm này được Ngài viết lại trong cuốn sách Đường Hy Vọng: “Giữa những đau khổ, oan ức, những giả dối, bất công, con hãy vững vàng tuyên xưng với toàn thể dân Chúa: “Và người sẽ trở lại trong vinh quang, để phán xét kẻ sống và kẻ chết, nước Người sẽ không bao giờ cùng.” (ĐHV 679) Và để trở thành Ki tô hữu đích thực, Ngài khuyến khích mỗi người chúng ta: “Hãy nhìn mọi sự với con mắt của Thiên Chúa, con sẽ thấy giá trị khác, kích thước khác” ĐHV 111). 

Từ Bỏ Để Sống Yêu Thương

– ĐÔ. Phaolô Phan Văn HiềnĐức Cố Hồng Y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận, trong thời gian mất tự do, đã suy nghĩ về những lối sống làm cản trở đời sống thiêng liêng của người Ki tô hữu, được Ngài xem như là những bệnh thiêng liêng cần phải được chữa trị. Có tất cả 10 bệnh, được gọi là Thập Đại Bệnh; và một trong số 10 căn bệnh đó chính là “Bệnh Phô Trương”. Bệnh này được nhìn thấy nơi các luật sĩ trong bài Tin Mừng hôm nay. Chúa Giê-su khuyến cáo dân chúng: “Các ngươi hãy coi chừng bọn luật sĩ. Họ thích đi lại trong bộ áo thụng, ưa được bái chào ngoài công trường, chiếm những ghế nhất trong hội đường và trong đám tiệc.”   Bệnh phô trương gắn liền với bản tính con người từ xưa đến nay. Bệnh này còn có một tên gọi khác đó là háo danh. Đây chỉ là mặt nổi của tính kiêu ngạo, đứng đầu trong 7 mối tội đầu. Và người kiêu ngạo vì luôn thấy mình trổi vượt hơn người khác, và cảm thấy quá đầy đủ, nên không cần ai phụ giúp. Họ có thể ví như một tách trà mà nước đã đầy ngang miệng, không còn có thể thêm nước trà vào được nữa. Đây chính là lý do khiến người phô trương và háo danh không cần ơn Chúa trợ giúp, và dần dần sống xa Chúa. Như vậy, muốn thăng tiến trong đời sống thiêng liêng, người Ki-tô hữu trước hết phải loại bó thói phô trương và háo danh, và khiêm tốn thú nhận sự yếu kém, bất toàn của mình, rồi tin tưởng xin Chúa giúp đỡ. Trong khi người phô trương và háo danh đặt niềm tin vào của cải và tài năng khéo léo của mình, người Ki-tô chân chính lại đặt trọn vẹn niềm tin vào Chúa và tình thương quan phòng của Ngài. Niềm tin tuyệt đối này được chứng tỏ qua cách dâng cúng của bà góa trong bài Tin Mừng hôm nay. “Thầy nói thật với các con: Trong những người đã bỏ tiền vào hòm, bà goá nghèo này đã bỏ nhiều hơn hết. Vì tất cả những người kia bỏ của mình dư thừa, còn bà này đang túng thiếu, đã bỏ tất cả những gì mình có để nuôi sống mình“.  Và đây cũng chính là niềm tin của bà góa thành Sarephta, khi bà nghe theo lời tiên tri Elia, đã dùng nắm bột và ít dầu cuối cùng để làm chiếc bánh cho tiên tri. Và Thiên Chúa đã không thua lòng quảng đại của bà: “Từ ngày đó hũ bột không cạn và bình dầu không vơi như lời Chúa đã dùng Êlia mà phán.” Con người ngày nay thường đánh giá nhau trên sự giàu có, thành công và nổi tiếng. Nhưng đó chỉ là những giá trị tạm thời chóng qua, và càng không phải là điều Chúa mong muốn vì những điều này dễ dàng đưa con người xa Chúa và xa anh em đồng loại. Điều quan trọng trong đời sống Ki tô hữu chính là sống yêu thương. Thật vậy, Mẹ Thánh Têrêsa khi được hỏi về những thành công trong công việc của Mẹ, Mẹ đã suy nghĩ trong chốc lát và trả lời một cách cương quyết: “Tôi không nhớ có chỗ nào Chúa nói về thành công cả. Ngài chỉ nói về việc trung thành yêu thương. Và đó mới là thành công duy nhất đáng kể”. Ước mong mỗi người trong chúng ta đều thực hiện được mong ước của Đức Hông Y F.X. Thuận: “Mỗi chiều tối, trước lúc lên giường ngủ, con phải nói được rằng: “Suốt ngày nay tôi đã yêu thương.” (ĐHV 781) 

Lòng thương xót Chúa tồn tại muôn đời

– ĐÔ. Phaolô Phan Văn Hiền                                     Bệnh tật từ xưa đến này vẫn luôn là một điều không ai mong muốn. Ai cũng mong sống khỏe vì sức khỏe có thể nói là gia tài quý nhất của đời người, và là điều kiện cần thiết để làm cho cuộc đời thêm vui vẻ và hứng thú. Trong suốt cả cuộc đời, mỗi người đều có nhiều ước mong, nhưng đến khi mang bệnh thì mong ước quan trọng nhất đó là được lành bệnh.   Vì thế không lạ gì, trong ba năm công khai rao giảng Tin Mừng, vô số những người với đủ thứ bệnh tật khác nhau đã tuôn đến với Chúa Giê-su để xin được chữa lành. Dân chúng tin vào quyền năng chữa bệnh của Ngài, và quan trọng hơn là tin vào thương xót của Ngài. Họ tin Ngài luôn yêu thương họ và sẵn sàng chữa họ được lành bệnh. Ngài không đòi hỏi họ một điều kiện nào cả. Chỉ cần tin vào Ngài. Người câm điếc được chữa lành trong bài Tin Mừng hôm nay là một thí dụ điển hình. Với niềm tin tuyệt đối vào Chúa Giê-su, những người thân đã đưa người nhà bị câm điếc đến xin Ngài chữa lành.                            Người câm điếc được chữa lành trong bài Tin Mừng hôm nay là một thí dụ điển hình. Với niềm tin tuyệt đối vào Chúa Giê-su, những người thân đã đưa người nhà bị câm điếc đến xin Ngài chữa lành.                            “Ép-pha-ta” (hãy mở ra”), và ngay lập tức tai và miệng của người câm điếc được khai thông. Mọi người có mặt đều thán phục. Nhưng đều quan trọng hơn là họ thêm niềm tin vào Ngài. Điểm nhấn trong câu chuyện chữa lành này, không phải là người câm điếc được chữa lành, nhưng chính là lòng thương xót của Chúa. Và lòng thương xót của Ngài không bao giờ bị ràng buộc bởi không gian và thời gian. Nói cách khác, Ngài vẫn tiếp tục yêu thương và chữa lành, bao lâu thế giới này còn có người bệnh tật, bao lâu còn có người cần được chữa lành. Điều kiện chữa lành vẫn không thay đổi: tin tuyệt đối vào Chúa, và tin vào tình thương không bờ bến của Ngài. Đức Hồng Y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận, mặc dù phải sống cơ cực về thể xác cũng như tinh thần trong hơn 13 năm tù, cũng đã cảm nghiệm được tình thương lạ lùng này. Ngài ghi lại trong tập suy niệm viết trong tù mà Ngài đặt tên là Cầu Nguyện Hy Vọng như sau:  “Lòng thương xót Chúa trước sau như một. Hôm qua, hôm nay và mãi mãi, lòng thương xót của Ngài vẫn luôn nguyên vẹn, không bao giờ giảm bớt cường độ. Đó là niềm an ủi, khuyến khích, và là hy vọng của chúng ta” (ĐHY Thuận, CNHV 8, bài 15). Xin Chúa chữa lành chứng mù lòa thiêng liêng của chúng ta, để chúng ta thấy được tình thương tràn đầy của Chúa nơi cuộc đời của mỗi người chúng ta, nơi những người anh chị em chúng ta gặp gỡ, và trong mọi biến cố xảy ra trên toàn thế giới này.

Ai đến với Ta sẽ không hề đói

-ĐÔ. Phaolô Phan Văn HiềnNỗi lo thiếu ăn vẫn luôn là một thao thức hàng đầu của con người từ xưa đến nay, vì nó đụng đến bản năng sinh tồn của con người. Không có lương thực đồng nghĩa với sự chết. Vì vậy không lạ gì khi dân Do Thái đã chống đối Môi Sen và Aaron một cách dữ dội, dù hai ông đã có công đưa dân ra khỏi cảnh sống nô lệ ở Ai Cập và bảo đảm sẽ dẫn họ về miền đất hứa màu mỡ. “Tại sao các ông dẫn chúng tôi lên sa mạc này, để cả lũ phải chết đói như vậy?” Và Thiên Chúa đã ra tay can thiệp, qua lời cầu xin của Môi Sen, cho họ được no nê bánh thịt mỗi ngày. Nhờ đó Môi sen mới được yên thân.   Nói cách khác, đối với dân chúng, người nào có thể lo cho họ có đủ cơm bánh, thì họ sẵn sàng chọn người đó làm lãnh đạo của mình. Và đó chính là điều đã xảy ra với Chúa Giê-su, sau khi Ngài làm phép lạ hóa bánh và cá ra nhiều cho năm ngàn người ăn no nê thỏa thích. Lập tức, dân chúng muốn bắt ép Ngài làm vua của họ. Cũng như Thiên Chúa thời Môi sen, Chúa Giê-su luôn quan tâm tới đời sống của con người: vật chất cũng như tinh thần. Nhưng điều quan trọng không phải là cung cấp lương thực chỉ giúp họ no bụng, nhưng lười biếng, và kết quả chỉ làm cho thân xác nở bề dọc, bề ngang. Ngài muốn mọi người mở rộng tầm nhìn cao hơn, tìm kiếm của ăn không hư nát, của ăn mang lại sự sống đời đời. Đó chính là mình và máu Ngài, bánh ban sự sống thật. Và bánh hằng sống được Ngài để lại trong Bí tích Thánh Thể và nhờ đó lưu truyền cho mọi thế hệ đến muôn đời. Bánh hằng sống này chính là năng lực giúp người Ki-tô hữu sống đức tin mạnh mẽ trong mọi hoàn cảnh và sống hạnh phúc. Đức Hồng Y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận với kinh nghiệm 13 năm tù, đã quả quyết: “Đèn không sáng nếu hết dầu; xe không thể chạy nếu cạn xăng; hồn tông đồ sẽ suy mạt nếu không đến với Thánh Thể” (Đường Hy Vọng 360). Nhưng với những ai tha thiết yêu mến Thánh Thể, cuộc đời họ sẽ tràn đầy niềm vui, dù phải sống trong cảnh tù đày, mất tự do. Kinh nghiệm của Đức Hồng Y Thuận và các sĩ quan học tập cải tạo sau 1975 tại quê nhà, đã giúp chúng ta xác quyết điều đó: “Con thiếu tất cả, con mất tất cả; nhưng con còn Thánh Thể là còn tất cả, vì con còn có Chúa Thiên Đàng dưới đất” (ĐHV 363). Thế giới ngày nay với chủ trương đề cao khoa học, khuyến khích tiêu thụ vật chất, đang làm đảo lộn các giá trị tinh thần và loại trừ tôn giáo. Nhiều người Ki-tô cảm thấy lạc lỏng và lung lay đức tin. Làm sao để tìm lại và củng cố đức tin của mình? Làm sao cảm nhận được Thiên Chúa gần gũi với mình, quan tâm đến mình? Câu trả lời đã được Đức Hồng Y xác quyết, kinh qua năm tháng tù đày của minh: “Muốn tin, phải nuôi dưỡng bằng Thánh Thể, vì Thánh Thể chứa đựng ‘mầu nhiệm đức tin’ và ban sức mạnh đức tin cho con” (ĐHV 373). Chúa đã tiên liệu và cung cấp cho chúng ta mọi phương thế để sống hạnh phúc và sống đời đời. Được vậy hay không là tùy ở quyết định và quyết tâm của mỗi người chúng ta.