Chiếc Quan Tài Con

Tại chùa Tô Châu bên Tàu có một nhà sư tên gọi là Viên Thủ Trung, nổi tiếng là tu hành đắc đạo. Nhà sư thường bày trên án thư, trước chỗ ngồi, một cái quan tài con bằng gỗ bạch đàn, dài độ 3 tấc, có một cái nắp đậy, mở được. Khách đến chơi trông thấy thường tò mò tra hỏi, nhà sư trả lời: “Người ta sống tất có chết, mà chết thì vào ngay cái này. Tôi thực lấy làm lạ, người đời ai cũng chỉ biết có phú quý, công danh, tài sắc thị hiếu, lo buồn, vất vả suốt đời, chẳng biết đến cái chết là gì… Mỗi khi có việc không được như ý, tôi cầm lấy cái quan tài mà ngắm, tức khắc tôi cảm thấy được yên ổn trong tâm hồn ngay”. Con người sở dĩ chạy theo tiền tài danh vọng đến độ chà đạp trên người khác là bởi vì con người không nghĩ đến cái chết đang rình rập sau lưng. Khi tử thần xuất hiện, thì con người không kịp mang theo bất cứ một tài sản nào. Cái chết chỉ trở thành đáng sợ khi con người còn quá nhiều dính bén đối với trần thế này. Trái lại, được ôm ấp suy gẫm mỗi ngày, cái chết sẽ trở thành một người bạn đồng hành giúp con người vượt qua được mọi chán chường, bận tâm thái quá… Trong tất cả mọi sự, người không ngoan đích thực luôn nghĩ đến cùng đích.  (Lẽ Sống, Radio Veritas)

Luật Yêu Mến

– TGM. Giuse Ngô Quang Kiệt Người Do Thái có quá nhiều luật lệ. Họ lại có thái độ duy Lề Luật. Nên tỉ mỉ tuân giữ tất cả mọi điều. Không còn biết điều nào là chính điều nào là phụ nữa. Hôm nay, nhân một câu hỏi. Chúa Giêsu đã cho ta biết chỉ có một điều luật quan trọng: LUẬT YÊU MẾN. Luật này có 2 khía cạnh. 1) Yêu mến Thiên Chúa hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn. Nghĩa là yêu mến hết khả năng, hết sức lực. Ta phải yêu mến Chúa như thế thật hợp tình hợp lý vì Chúa đáng yêu đáng mến vô cùng. Chúa là nguồn mạch mọi sự thiện hảo. Ngài là toàn chân, toàn thiện, toàn mỹ. Nơi Ngài không có một tì vết, khuyết điểm nào. Trong đời sống ai cũng yêu thích những gì tốt đẹp. Chúa là Đấng vô cùng tốt đẹp. Yêu mến Ngài là điều tự nhiên. Ai hiểu biết cũng đều yêu mến Chúa.Hơn nữa Chúa còn là Đấng sinh thành ra ta. Chính Chúa ban cho ta tất cả. Ta có mặt ở đời này là do ý định của Chúa. Tất cả nhừng gì chúng ta có và chúng ta là đều bởi Chúa. Chúa là vị ân nhân lớn nhất của ta. Yêu mến Chúa là việc làm không những tự nhiên mà còn là bổn phận nữa. 2) Yêu người thân cận như chính mình. Đó là điều răn thứ hai mà Chúa Giêsu nói cũng giống như điều răn thứ nhất. Thực ra đó chỉ là một điều răn vì những lý do sau: Yêu Chúa và yêu người là hai khía cạnh của một tình yêu. Tình yêu chân thật là tình yêu không có giới hạn, không có loại trừ. Vì thế đã yêu Chúa thì phải yêu người. Nếu tình yêu bị giới hạn, có loại trừ thì sẽ trở thành giả tạo. Tình yêu đối với tha nhân kiểm chứng tình yêu đối với Thiên Chúa. Thánh Gioan Tông đồ đã nói: “Nếu ai nói: Tôi yêu mến Thiên Chúa mà lại ghét anh em mình, người ấy là kẻ nói dối; vì ai không yêu thương người anh em mà họ trông thấy, thì không thể yêu mến Thiên Chúa mà họ không trông thấy. Đây là điều răn mà chúng ta nhận được từ nơi Người: Ai yêu mến Thiên Chúa, thì cũng yêu thương anh em mình” (1Ga 4,20-21). Còn hơn thế nữa. Ai yêu anh em là yêu chính Chúa. Vì Chúa ở trong anh em. Hơn thế nữa, Chúa ẩn thân trong những anh em bé mọn nhất. Vì thế trong ngày phán xét Chúa nói với ta rằng: “Ta bảo thật cho các người: mỗi lần các người làm như thế cho một trong những anh em bé nhỏ nhất của Ta đây, là các người đã làm cho chính Ta vậy” (Mt 25-40). Tất cả mọi điều răn khác đều quy về hai điều răn này. Nếu ta giữ trọn vẹn giới răn này, không những ta chu toàn Lề Luật mà còn góp phần xây dựng một thế giới mới, thế giới chan hòa yêu thương, chan hòa tình người. Và đó chính là khởi điểm của thiên đàng mai sau.

Hãy Đến Với Ta

Tại Roma có một ngôi thánh đường cổ tên là Dominus sub aquis, nghĩa là Chúa ở dưới nước… Du khách đến Roma thường đến viếng thăm ngôi thánh đường này, vì phía trên bàn thờ, có một tượng thánh giá rất đặc biệt: bất cứ ai đến quỳ trước tượng thánh giá và cầu nguyện với tất cả thành tâm đều nhận được sức mạnh và niềm an ủi thâm sâu… Người ta kể lại rằng tác giả của tượng thánh giá bằng cẩm thạch này đã mát rất nhiều năm mới hoàn thành được tác phẩm. Hơn hai lần, mỗi khi treo bức tượng lên để ngắm nhìn, ông lại cho kéo xuống và đập phá đi vì ông cho rằng tác phẩm vẫn chưa diễn đạt được điều ông mong muốn… Sau nhiều năm bỏ dở, ông lại bắt tay vào công trình lần thứ ba. Nhưng chính lúc ông miệt mài chú tâm vào công việc thì cũng là lúc ông gặp nhiều thử thách nhất. Nhiều người ganh tỵ nên tìm cách hạ uy tín của ông. Vợ con ông qua đời trong những hoàn cảnh thật đau thương. Người nghệ sĩ chỉ còn biết kêu cầu xin Chúa giúp ông chịu đựng được mọi gian lao thử thách. Ai cũng tưởng rằng cơn thử thách đã khiến ông bỏ cuộc. Trái lại, ông càng miệt mài chú tâm vào công trình. Người nghệ sĩ dồn tất cả niềm đau của mình lên khuôn mặt của Ðức Kitô. Bức tượng của Chúa Giêsu trên thập giá không là một phiến đá lạnh lùng, xa lạ, mà trở thành niềm đau đậm nét của một tâm hồn. Bức tượng đã trở nên sống động và có sức thu hút do chính tâm tình mà người nghệ sĩ đã muốn tháp thập vào đó. “Hỡi tất cả những ai gồng gánh nặng nề, hãy đến với Ta và Ta sẽ nâng đỡ bổ sức cho”. Lời mời gọi trên đây của Chúa Giêsu hẳn phải đem lại cho chúng ta an ủi đỡ nâng, nhất là trong những lúc chúng ta gặp đau khổ, thử thách. Chúa Giêsu như muốn nói với chúng ta rằng Ngài đang có đó, Ngài có mặt trong từng phút giây của cuộc sống chúng ta, Ngài mang lấy tất cả những sầu đau, buồn tủi của chúng ta. Mãi mãi, Ngài vẫn là Ðấng Cứu Chuộc chúng ta. Mãi mãi, Ngài đến với chúng ta như đến với những người phong hủi, những kẻ bệnh tật, kẻ tội lỗi, phường thu thuế… Ngài đón nhận tất cả mọi khổ nhọc, khó khăn của chúng ta. Và bởi vì Ngài mang lấy mọi khổ đau của con người, cho nên Ngài cũng tự đồng hóa với con người, nhất là những người nghèo khổ, bất hạnh. Trên những khuôn mặt gần như không còn hình tượng của con người nữa, chúng ta phải nhận diện được chính Ngài. Ngài đã từng nói với chúng ta: “Ai cho những kẻ bé mọn nhất, dù chỉ một chén nước lã thôi, họ đã cho chính Ta vậy”. Trút lên Ngài tất cả gánh nặng của khổ đau, được ngài nâng đỡ bổ sức, chúng ta cũng hãy mang lại an ủi đỡ nâng cho mọi người xung quanh. (Theo Lẽ Sống, Radio Veritas)    

Nụ Hôn Của Đứa Bé

Người Ả Rập thường kể câu chuyện ngụ ngôn như sau: Một ông lão tên là Bi Quan, đãng trí và vô tình đến độ không còn nhớ được mình đã một lần trải qua tuổi hoa niên. Kỳ thực, cả cuộc sống, dường như ông chưa bao giờ biết sống là gì. Ông đã không học biết sống, cho nên cũng không học chết cách nào cho hợp lý, cho xứng đáng với con người… Ông không có hy vọng, cũng chẳng có ưu tư. Ông không biết cười cũng chẳng biết khóc. Không gì trên trần gian này có thể gây được sự chú ý và ngạc nhiên cho ông. Suốt ngày, ông ngồi trước cửa lều, nhìn trời mà không biết trời xanh hay trời đục… Ngày kia, có người tìm đến vấn kế vì nghĩ rằng tuổi đời chồng chất, ông hẳn phải là bậc thông thái khôn ngoan. Không mấy chốc, thiên hạ tuôn đến căn lều để tham khảo ý kiến… Những người thanh niên hỏi ông: “Làm thế nào để có được niềm vui?”. Ông trả lời: “Niềm vui là một bày vẽ của những kẻ ngu dốt”. Những người có tâm huyết phục vụ đến xin ông chỉ giáo để trở nên người hữu dụng cho xã hội. Họ hỏi ông: “Làm thế nào để xả thân phục vụ người anh em một cách hữu hiệu?”. Ông trả lời: “Ai xả thân hy sinh cho nhân loại, người đó là một thằng điên”. Các bậc phụ huynh đến hỏi ông: “Làm thế nào để hướng dẫn con cái trên đường ngay nẻo chính?”. Ông trả lời: “Con cái chỉ là loài rắn độc. Chúng chỉ có thể phun ra nọc độc mà thôi” Các nghệ sĩ, thi sĩ cũng đến xin chỉ giáo để diễn tả được những gì là cao quý nhất trong tâm hồn, ông trả lời: “Tốt nhất là nên thinh lặng”. Những lời chỉ giáo của con người chưa biết sống, biết yêu, biết chết ấy không mấy chốc được quảng bá trên khắp thế giới. Tình yêu, lòng thiện hảo, nghệ thuật không mấy chốc biến khỏi Trái đất. Cuộc sống con người chìm ngập trong ảm đạm buồn thảm… Nhận thấy những tai hại do những lời chỉ giáo của ông lão Bi Quan gây ra trên mặt đất, cho nên Thượng đế mới tìm cách chữa trị. Thì ra, suốt cả đời, ông lão này chưa hề nhận được một cái hôn nào. Thế là Thượng đế mới sai một em bé đến với ông lão. Ðứa bé đã vâng lệnh Thượng đế, nó tìm đến với ông lão Bi Quan, bá lấy cổ ông và đặt lên gò má sần sù của ông một nụ hôn… Ông lão như sực tỉnh. Lần đầu tiên trong đời, ông biết ngạc nhiên và ngây ngất. Ông mở mắt nhìn đứa bé, nhìn vào cuộc đời, rồi nhắm mắt xuôi tay mà nụ cười vẫn còn tươi nở trên môi nhờ nụ hôn của đứa bé. Cô đơn là nguyên nhân làm cho con người bi quan. Người cô đơn không những không cảm nhận được tình yêu mà cũng không biết yêu.
Tín hữu Kitô phải là người lạc quan bởi vì họ cảm nhận được Tình Yêu của Chúa và được mời gọi để loan báo và san sẻ tình yêu ấy cho người khác. Có biết bao nhiêu tâm hồn già nua vì không cảm nhận được tình yêu, vì không tìm thấy ý nghĩa cho cuộc sống. Có biết bao nhiêu tâm hồn khô cằn, chai đá vì không hề nhận được một nghĩa cử yêu thương của những người xung quanh… Người tín hữu Kitô không những sống lạc quan, nhưng còn có sứ mệnh mang lại tinh thần lạc quan cho những người xung quanh. Có biết bao nhiêu người xung quanh đang chờ đợi một cái mỉm cười, một nụ hôn, một cái bắt tay, một lời chào hỏi, một cử chỉ an ủi, đỡ nâng… (Lẽ Sống, Radio Veritas)  

Các Con Hãy Nên Trọn Lành!

Người ta kể lại rằng thánh Antôn ẩn tu đã tìm đến gặp một người thợ giày, vì nghe đồn rằng người thợ giày này có một đời sống đạo đức lạ thường. Ðể hỏi đâu là bí quyết để nên thánh, người thợ giày đáp gọn: “Tôi chỉ biết đóng giày” Ngạc nhiên vô cùng, thánh Antôn hỏi vặn lại: “Nếu chỉ có thế thì làm sao mà gọi là thánh thiện được. Tôi đây, tôi tưởng nghĩ đến Chúa từng phút giây. Ông có bí quyết gì khác nữa không?”. Người thợ giày giải thích: “Tôi làm việc 8 giờ, cầu nguyện 8 giờ và ngủ nghỉ 8 giờ” Thánh Antôn vẫn chưa cho đó là cuộc sống lý tưởng. Ngài cho biết, ngài cầu nguyện từng phút giây. “Vậy ông sống đức khó nghèo như thế nào?”. Người thợ giày bảo: “Tôi cho Giáo hội một phần ba của cải của tôi, một phần ba tôi bố thí cho người nghèo và một phần ba tôi giữ lại cho tôi”. Thánh Antôn chưa cho đó là bí quyết nên thánh trọn hảo, bởi vì chính ngài đã phân phát tất cả của cải của ngài cho Giáo hội và người nghèo…   Thánh nhân vặn hỏi mãi, cuối cùng người thợ giày mới khai ra bí quyết của ông như sau: “Mặc dù tôi phân phát một phần ba tiền lương của tôi cho người nghèo, nhưng đêm ngày tôi không ngủ yên được khi tôi nhìn thấy cảnh nghèo xung quanh tôi, đến độ tôi đã thưa với Chúa: Chúa ơi, thà để con đi hỏa ngục còn hơn nhìn thấy những người khốn khổ này phải triền miên trong cảnh nghèo đói…”. Nghe đến đó, thánh Antôn đã bỏ ra về. ngài chợt hiểu rằng ngài chưa đủ thánh thiện như người thợ giày này đến độ dám hy sinh tất cả chỉ vì người nghèo. Có rất nhiều cách để nên thánh, nhưng dường như không có một mẫu mực thánh thiện chung cho tất cả mọi người. Có người nên thánh ngay trong bậc sống của mình giữa trần gian. Có người chịu tử đạo. Có người sống trong bậc tu trì. Mỗi một vị thánh là một cách sống. Tuy nhiên giữa khung khác biệt đó vẫn có một mẫu số chung cho tất cả mọi cuộc sống thánh thiện: đó là Tình Yêu. Thánh Phaolô trong bài ca đức ái đã nói: “Dù tôi có thể nói được các tiếng lạ lùng, dù tôi có thể làm được phép lạ chuyển núi di sông, dù tôi có làm được không biết bao nhiêu công trình… nếu tôi không có tính đức bác ái, tôi chỉ là một thứ thùng rỗng…”. Không có đức bác ái, không có tình yêu thì tất cả tòa nhà đạo đức của chúng ta chỉ được xây dựng trên hão huyền mà thôi. Chúa Giêsu cũng đã nói với chúng ta: “Các con hãy nên trọn hảo như Cha các con trên trời”. Thiên Chúa là Tình Yêu. Thiên Chúa yêu thương tất cả mọi người không loại trừ ai. Và cuối cùng vì yêu thương con người, Thiên Chúa đã hóa thân làm người như chúng ta… Ðó là tận cùng của Tình Yêu! Người thợ giày trong câu chuyện của thánh Antôn không những dành của cải của mình cho người nghèo, ông còn tưởng nghĩ đễn người nghèo như chính lẽ sống của mình. Thánh Antôn đã nhận ra đó là bí quyết cao cả nhất để nên thánh. Bố thí tất cả của cải của mình, xa lánh tất cả các thú vui của cuộc sống, đêm ngày ăn chay cầu nguyện là điều tốt. Nhưng nếu sống như thế chỉ để tìm cho mình sự thanh thản trong tâm hồn mà phải sợ người khác quấy rầy, thì một cuộc sống như thế chưa phải là lý tưởng nhất. “Hãy nên trọn lành như Cha các con trên trời”. Ðó phải là lý tưởng của người Kitô chúng ta. Cha trên trời yêu thương tất cả mọi người. Cha trên trời đã yêu thương con người đến nỗi đã phó ban chính Con Một của Ngài. Thiên Chúa chỉ được gọi là Cha bởi vì Ngài sống cho con cái của mình… Sự sống Ngài ban cho chúng ta chỉ có thể triển nở và có ý nghĩa nếu nó cũng được sống cho tha nhân.   (Lẽ Sống, Radio Veritas)

Lễ Các Thánh Tử Đạo Việt Nam

Theo lịch Công giáo Chúa Nhật thứ 33 Thường Niên, được kính trọng thể Các Thánh Tử Đạo Việt Nam, năm nay vào ngày 14/11. Cộng Đồng Công Giáo Việt Nam – TGP Los Angeles đã tổ chức Đại lễ Các Thánh Tử Đạo Việt Nam – Bổn mạng của Cộng Đồng tại Nhà Thờ Chính Toà – Cathedral of Our Lady of the Angels. Chương trình bắt đầu với nghi thức rước hình các thánh, cung nghinh Thánh tích và tưởng niệm do các cộng đoàn, các ban ngành đoàn thể TGP thực hiện. Điểm mới năm nay là có phần tĩnh huấn trước thánh lễ do Linh mục Nguyễn Khắc Hy, Dòng Xuân Bích, và ngài cũng chính là Cha giảng lễ. Thánh lễ đại trào do Đức Giám mục Marc Trudeau, Giám mục Phụ tá TGP Los Angeles, chủ tế, cùng sự hiện diện của các Linh mục Việt Nam. Cha Đại diện  Liên lạc Nguyễn Quân làm MC cho Thánh lễ. Tham dự thánh lễ còn có quý Thầy Phó tế , quý Tu sĩ Nam – Nữ , quý Chức Cộng đồng, Cộng đoàn và đông đảo giáo dân. Ca đoàn tổng hợp Tổng Giáo phận, với những ca viên đến từ các ca đoàn trong cộng đồng đã giúp cho thánh lễ thêm phần sốt sắng. Năm nay cũng bắt đầu cho nhiệm kỳ 2021 – 2024 của Ban Thường vụ Cộng Đồng Công Giáo Việt Nam – TGP Los Angeles do Ông Ryan Bùi Thế Lữ làm Chủ tịch. Nguyện xin các Thánh Tử Đạo Việt Nam luôn đồng hành, nâng đỡ Cộng Đồng Công Giáo Việt Nam trong mọi hoàn cảnh.

Thánh Têrêxa Avila, Ðồng Trinh – Tiến Sĩ Hội Thánh (1515-1582)

                                    Kính ngày 15 thang 10 Thánh nữ Têrêxa sinh ngày 18/3/1515 tại Avila nước Tây Ban Nha, trong một gia đình quý phái. Sống giữa bầu khí đạo hạnh nên ngài sớm trưởng thành trên đường nhân đức. Ngài thích đọc sách các thánh tử đạo và các sách viết về cuộc khổ nạn của Chúa Giêsu. Tuy bị gia đình ngăn cản, năm 1535, ngài đã can tâm gạt bỏ tất cả để vào dòng Carmêlô, lúc đó được 20 tuổi. Ngài đã góp công rất nhiều trong việc cải tổ dòng này và đã để lại nhiều tư tưởng thần học giá trị. Ngài có lòng kính mến Ðức Mẹ cách đặc biệt. Với tinh thần nhiệm nhặt, ngài lập một tu viện mới ở Avila và tiếp tục xây thêm nhiều nhà khác nữa. Ngài dâng mọi đau khổ tinh thần cũng như thể xác để cầu cho những người tội lỗi. Tuy bận rộn với công việc nhà dòng, ngài vẫn dành nhiều thời giờ để ghi lại những tư tưởng thiêng liêng, suy gẫm và phổ biến việc giữ luật dòng Carmêlô cho các tín hữu nam nữ (1562-1568). Ngài dâng các việc hãm mình hy sinh và đánh tội trong suốt cả đời để cầu nguyện cho anh em ly giáo và lạc giáo. Với một lòng tin tưởng sâu xa, ngài luôn nói: “Lạy Chúa, dù thành công hay thất bại, con vẫn một lòng tin tưởng vào Chúa” Thánh nữ qua đời tại Alba năm 1582, hưởng thọ 67 tuổi. Ngài được nổi tiếng vì ơn nói tiên tri và nhiều ơn lạ khác. Năm 1614, Ðức Thánh Cha Paul V đã phong ngài lên bậc Chân Phước. Dưới triều Ðức Giáo Hoàng Grêgoriô XIV, ngài được vinh thăng Hiển Thánh năm 1622. (Theo nhóm truyền giáo Châu, Kiên Long, Đà Lạt)

Thánh Têrêsa Hài Ðồng Giêsu (1873-1897) – Kính ngày 1 tháng 10

Thánh Têrêsa chào đời ngày 02/01/1873 tại Alancon nước Pháp. Song thân là cụ Louis Martin và bà Maria Guérin. Khi Têrêsa chưa tròn 4 tuổi, bà Guérin đã vội ra đi để lại một tang buồn cho gia đình, nhất là đối với Têrêsa. Thánh nữ được cha già và các chị dìu dắt trên đường đạo đức và ngài tiến triển rất mau. Năm 10 tuổi, Têrêsa rước lễ vỡ lòng và chịu phép Thêm Sức. Cùng năm đó, ngài bị một cơn bệnh trầm trọng và được Ðức Mẹ chữa khỏi một cách lạ lùng. Lễ sinh nhật 1887, ngài quyết định đi theo tiếng Chúa gọi. Ngài được Ðức Giáo Hoàng ban đặc ân nhận vào dòng Kín khi mới 15 tuổi. Ở đây, thánh nữ chăm chú cầu nguyện, nung đốt lửa mến Chúa và giúp đỡ chị em trong nhà. Những nhân đức nổi bật nhất nơi thánh nữ là lòng đơn sơ phó thác vào Chúa, bác ái với mọi người và yêu mến các linh hồn. Với sự hy sinh chịu đựng, ngài chu toàn bổn phận và được chị Pauline khuyến khích ghi lại cuốn “Một tâm hồn”. Ngày 14/6/1895, thánh nữ cảm thấy vết thương tình yêu mở lớn trong khi viếng Ðàng Thánh Giá. Ngày 08/7/1897, thánh nữ lâm bệnh nặng và ngày 01/10/1897, sau khi lãnh của ăn đàng, thánh nữ đã trút hơi thở sau cùng. Năm 1925, Ðức Thánh Cha Piô XI đã phong ngài lên bậc Hiển Thánh và đặt ngài làm quan thầy các xứ truyền giáo. Ngày lễ kính thánh Têrêxa, chúng ta hãy xin Chúa, qua lời cầu bàu của thánh nữ, cho chúng ta luôn chấp nhận sự đau khổ Chúa gửi trong tinh thần đơn sơ và phó thác.

Chúc Mừng Linh mục Nguyễn Huy Bảo!

Thay mặt các linh mục Việt nam trong TGP Los Angeles và Cộng Đồng Công Giáo Việt Nam kính chúc mừng Cha đã hoàn thành chương trình Tiến Sĩ Giáo luật tại Roma và đã trở về Hoa kỳ. Hiện giờ Cha bắt đầu công việc mục vụ tại Toà án Hôn phối của TGP Los Angeles. Sơ lượt tiểu sử của Lm. Nguyễn Huy Bảo 6/5/2010: Thụ phong Linh mục, Cathedral of Our Lady of the Angels, Los Angeles 07/2010 – 7/2013: Phó xứ St Margaret Mary, Lomita, CA  08/2013 – 7/2014: Giám quản St. Gregory the Great, Whittier, CA 07/2014 – 7/2016: Phó xứ Our Lady of Perpeptual Help, Santa Clarita, CA Năm 2016: Tổng Giáo Phận gửi sang du học Roma, chuyên ngành Giáo Luật Năm 2019: Tốt nghiệp Cao Học Giáo Luật (Juris Canonici Licentiata, J.C.L.) Năm 2021: Tốt nghiệp Tiến Sĩ Giáo Luật (Juris Canonici Doctor, J.C.D.) hạng danh dự xuất sắc bậc nhất, summa cum laude Mục vụ hiện tại: Thẩm phán và luật sư bảo hệ tại Tòa Án Hôn Phối của Tổng Giáo Phận Los Angeles Liên lạc Linh mục Nguyễn Huy Bảo: St. Mariana De Paredes Parish 7922 Passons Blvd Pico Rivera, CA 90660 (562) 949-8240 Rev. Joseph Quân Nguyễn Lm. Đại Diện Liên Lạc

LHQ cảnh báo về những tác động không thể đảo ngược của việc biến đổi khí hậu do con người gây ra

(9/8/2021)– Ủy ban Liên Chính phủ về Biến đổi Khí hậu (IPCC) của LHQ đã nhóm một buổi họp báo vào thứ Hai (9/8/2021) để trình bày báo cáo mới nhất và toàn diện nhất về cuộc khủng hoảng khí hậu… Theo 200 nhà khoa học đã soạn thảo ra bản báo cáo về khí hậu nhà kính trong khí quyển đã đạt đến mức có thể phá vỡ bầu khí quyển trong nhiều thập kỷ, nếu không muốn nói là hàng thế kỷ nay… Con người là nguyên nhân Đứng đầu phần kết luận của bản báo cáo dài hơn 3.000 trang là lời khẳng định rằng con người đang gây ra sự biến đổi khí hậu. Ngay từ dòng đầu tiên của bản tóm lược đã viết: “Rõ ràng là ảnh hưởng của con người đã làm bầu khí quyển ấm lên, phá hủy đại dương và trái đất!”… Nhiệt độ gia tăng Một điểm mấu chốt khác mà báo cáo của Ủy ban Liên Chính phủ về Biến đổi Khí hậu (IPCC) là các kết quả có thể đạt được từ việc cắt giảm lượng khí thải carbon ở các mức độ khác nhau. Nhiệt độ trung bình có thể tăng lên 2 độ C so với đà công nghiệp vào cuối thế kỷ này trừ khi các chính phủ ngay lập tức đưa ra các biện pháp cắt giảm khí thải… Thời tiết xấu hơn Thời tiết khắc nghiệt là một mối lo ngại khác được các tác giả của bản báo cáo cảnh báo. Họ cho rằng các hiện tượng thời tiết từng được coi là hiếm hoặc chưa từng xảy ra, giờ đây trở nên phổ biến hơn và xu hướng này sẽ trở nên tồi tệ hơn ngay cả khi hiện tượng khí hậu toàn cầu chỉ nóng lên ở mức 1,5 ° C. Những đợt nắng nóng chết người đang xảy ra vào mỗi thập kỷ, thay vì 50 năm một lần, thì nay xả ra thường xuyên hơn với các trận cuồng phong mạnh hơn và nhiều nơi có lượng mưa hoặc tuyết rơi nhiều hơn mỗi năm… Băng tan và mực nước biển dâng Ngay cả bản bá cáo lạc quan nhất cũng phải cho biết là những tảng băng ở các vùng cực bắc hay nam cực đã tan ra vào mùa hè và rồi sẽ biến mất hoàn toàn vào năm 2050. Ngay cả khí hậu toàn cầu nóng lên được dừng lại ở 1,5 ° C, thì mực nước biển trung bình có thể tăng lên từ 2 đến 3 mét, nếu không muốn nói là cao hơn… (Lược theo Thanh Quảng, Vietcatholic News)