Man-na

– Lm. F.X. Bùi Ngọc Tỷ  Ngày xưa, ông Mô-sê dẫn dân Do thái đi trong sa mạc tìm kiếm Đất hứa. Dân chúng bị đói vì không còn lương thực. Lúc đó, Chúa cho manna như sương sớm từ trời rơi xuống. Họ ăn và sống sót suốt 40 năm lữ hành nhờ lương thực kỳ diệu đó. Có điều lạ ở cái tên. Theo nguyên ngữ, “manna” nghĩa là “cái gì vậy?” Họ hỏi nhau vì món ăn lạ mà “cha ông các ngươi chưa từng biết tới.” Thông thường, sau một thời gian ăn món ăn lạ, người ta sẽ đặt cho nó một cái tên. Thí dụ bánh mì là thứ bánh du nhập từ Pháp. Chúng ta gọi nó là “bánh mì”, vì bánh đó làm bằng bột mì; còn gọi “trái bơ” (avocado) vì trái đó béo và thơm như bơ; gọi “chè ba màu” vì nó có ba màu. Nhưng sao thức ăn kia vẫn mang tên kỳ lạ: “cái gì vậy?”!!!Có lẽ tên gọi “manna” không chỉ nói về bản thân thức ăn, nhưng về Đấng ban thức ăn. Không phải lương thực đó nuôi dưỡng dân Do thái, nhưng Thiên Chúa mới là Đấng nuôi dưỡng và cho họ sức mạnh để tiếp tục lên đường tìm về Đất hứa. Sách Đệ nhị luật có câu: “Người… ban cho các ngươi manna làm của ăn… để tỏ cho các ngươi thấy rằng: Con người sống không nguyên bởi bánh, mà còn bởi mọi lời do miệng Thiên Chúa phán ra.” Trên đường tìm về quê trời, chúng ta cũng cần lương thực bởi trời đích thực. Lương thực đó chính là Mình Máu Thánh Chúa Ki-tô. “Ta là bánh hằng sống từ trời xuống; ai ăn bánh này, thì sẽ sống đời đời. Và bánh Ta sẽ ban, chính là thịt Ta, để cho thế gian được sống”. Bánh này không phải là thức ăn cho thể xác, nhưng là “cái gì vậy?” cho linh hồn. Nhiều khi chúng ta rước lễ như ăn một miếng bánh thông thường. Nuốt xuống rồi; xong; coi như tự nó phải tiêu hóa và đem lại chất dinh dưỡng nào đó trong cơ thể chúng ta. Thánh Augustinô giải thích tác dụng đặc biệt của bí tích Thánh Thể như sau: Thức ăn thường ngày chúng ta ăn sẽ bị tiêu hóa và biến thành máu thịt của chúng ta. Nhưng Mình Máu Thánh Chúa chúng ta lãnh nhận sẽ biến đổi chúng ta nên giống Chúa Kitô. Chúa Ki-tô tự biến mình thành thức ăn, hòa tan trong ta. Nếu chúng ta không tự hòa tan, chúng ta không thể trở nên một với Ngài. “Ai ăn thịt Ta và uống máu Ta, thì ở trong Ta, và Ta ở trong kẻ ấy. Cũng như Cha là Ðấng hằng sống đã sai Ta, nên Ta sống nhờ Cha, thì kẻ ăn Ta, chính người ấy cũng sẽ sống nhờ Ta.”

Tình Cha

– Lm. F.X. Bùi Ngọc Tỷ                    Chúa Giê-su dạy chúng ta gọi Thiên Chúa là Cha: “Khi anh em cầu nguyện, hãy nói: ‘Lạy Cha chúng con ở trên trời.’” Cách gọi quen thuộc này thật không đơn giản, nếu không nói là bất kính và đầy ngạo mạn. Làm sao những thụ tạo nhỏ bé thấp hèn như chúng ta lại dám gọi Đấng Tạo Hóa, là Thượng Đế và là Chủ Tể trời đất muôn vật là Cha của mình! Thật ra, tình nghĩa giữa Thiên Chúa và loài người còn sâu đậm hơn tình phụ tử của loài người.   Cha là đấng sinh thành dưỡng dục. Thiên Chúa chính là cha vì Người đã dựng nên ta “theo hình ảnh của Người.” Người còn dựng nên vũ trụ với đầy đủ mọi sự cần thiết để ta sinh sống. “Công cha như núi Thái sơn.” Những ơn lành Thiên Chúa ban thật lớn lao như trời biển, không sao kể xiết. Núi Thái sơn hùng vĩ và vững bền còn tượng trưng cho người cha là cột trụ cho cả gia đình. Nhưng, “thái sơn” của loài người đến một lúc nào đó sẽ “ngã bóng cuối trời”. Còn Thiên Chúa là “núi đá muôn đời đứng vững.” Người là nơi nương tựa vững chắc nhất. Không có bảo hiểm nào trên đời an toàn hơn. Người cha còn là biểu tượng của tình yêu. Cha mẹ nào không thương con. Nhưng người cha ít khi biểu lộ tình thương của mình. Cha thương con, sẽ dùng mọi cách, đôi khi nghiêm khắc, để đào tạo cho con nên người. “Cha chúng ta ở trên trời” cũng yêu thương ta cách kín đáo, khôn ngoan, nhằm đưa chúng ta đến sự cứu rỗi, tức là được sống đời đời với Người trên thiên đàng. Sự cứu rỗi không phải đơn giản là dời chỗ ở, như đi định cư ở một nơi tốt nhất gọi là thiên đàng. Khoảng  cách giữa trời và đất không phải do độ dài rộng của không gian. Vì Thiên Chúa là thần linh; còn loài người là xác phàm. Nên con người phải lột bỏ xác phàm, hoặc biến đổi nó cho phù hợp với điều kiện sinh sống trong Nước Thiên Chúa. Trong việc này, Cha trên trời đã có sự sắp đặt. “Thiên Chúa đã yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một Người để tất cả những ai tin ở Con của Người thì không phải hư mất, nhưng được sống đời đời.” (Gioan 3:16) Thiên Chúa cho Con Một Người nhập thể làm người ở giữa chúng ta. Ai tin tưởng, yêu mến và vâng theo những điều Ngài dạy, Cha trên trời sẽ thông ban sự sống thần linh – Chúa Thánh Thần – nhờ đó họ được biến đổi nên con người mới. Mầu nhiệm Một Chúa Ba Ngôi mở ra cho chúng ta con đường đạt tới ơn cứu rỗi đời đời. 

Ánh Sáng Đức Tin

– Lm. Francis Bùi Ngọc Tỷ Ánh sáng là biểu tượng của đức tin. Trong nghi thức Rửa tội, vị chủ lễ thắp ngọn nến của người tân tòng bằng lửa lấy từ nến Phục Sinh, rồi đưa cho họ và nói: “Hãy nhận lấy ánh sáng Chúa Ki-tô”. Ngài khuyên nhủ họ: “Hãy sống như con cái sự sáng.” Ánh sáng Chúa Ki-tô ban cho chúng ta một khả năng hoàn toàn mới. Đó là có thể nhìn đúng bản chất của sự vật xuyên qua bề ngoài của nó, như Chúa Ki-tô nhìn chúng. Thánh Phao-lô nói trong bài đọc thứ hai: “Xưa kia anh em là sự tối tăm, nhưng bây giờ, anh em là sự sáng trong Chúa. Anh em hãy ăn ở như con của sự sáng, bởi vì hoa trái của sự sáng ở tại tất cả những gì là tốt lành, là công chính và chân thật.”Chúa Ki-tô nhìn thấy sự tốt lành trong các tội nhân, tiềm năng nơi những người thu thuế, lòng nhiệt thành ở những anh chàng đánh cá thô tục và thất học. Nhờ đó, Ngài đã có những tông đồ nhiệt thành, và đã đưa người tội lỗi trở về với Chúa. “Ta không xem xét theo kiểu của con người, vì chưng con người nhìn xem bên ngoài, còn Thiên Chúa thì nhìn xem tâm hồn”. Người đời thường chỉ nhìn thấy cái xấu nơi người khác. Nghe tin tức, chúng ta chỉ thấy toàn những tin xấu. Nên mới có câu nói: “No news is good news.” Với cái nhìn đức tin, chúng ta có thể nhận biết sự cố gắng đáng khen của những người yếu đuối, sự quãng đại của những người nghèo, lòng tốt của những người vô gia cư. “Trong ánh sáng của Ngài, chúng con nhìn thấy ánh sáng.” (Tv 35)Hoa trái của sự sáng còn giúp chúng ta theo đuổi một cuộc sống công chính và chân thật. Xã hội đương thời lẫn lộn giữa cái tốt và cái xấu. Phá thai trở nên quyền lợi của người phụ nữ; hôn nhân đồng tính được cho là vì tôn trọng tự do và công bình với mọi người. Ý thức về tội bị làm cho lu mờ. Chân lý bị che lấp bởi những lý thuyết sai lạc. Giới truyền thông tìm mọi cách để lung lạc và khống chế tư duy của nhân loại. Thêm vào đó, con người thời nay lười suy nghĩ vì đã có người suy nghĩ giùm họ. Người ta trở nên nghiện ngập với smart phones, computers, TVs. Sống giữa những hỗn loạn đó, ánh sáng đức tin dễ bị mai một. Người tín hữu phải năng tìm đến Chúa Ki-tô. Học hỏi và thực thi Lời Hằng Sống sẽ giúp mài dũa khả năng phán đoán của chúng ta. Nhờ đó, đức tin mỗi ngày một sáng suốt, trưởng thành và vững chắc hơn.

Tình Cờ

– Lm. Francis Bùi Ngọc Tỷ Một phụ nữ xứ Samaria đi ra giếng kín nước. Tình cờ, chị gặp một người đàn ông Do thái ngồi nghỉ bên bờ giếng. Người này hỏi xin chị một chút nước. Chị ngạc nhiên, vì điều này quá bất thường. Thế rồi cuộc đối thoại kéo dài, càng lúc càng sâu sắc hơn. Họ nói về nước, về giếng, về quà tặng của Chúa, về nước không bao giờ cạn, về đời tư của chị. Họ tiếp tục nói về đền thờ và về Đấng Cứu Thế sẽ đến. Sau cùng, chị nhận biết Đấng Cứu Thế chính là người đang nói chuyện với chị. Và chị đã tin. Từ đó, chị đã tìm thấy con đường cứu rỗi của mình. Tất cả bắt đầu bằng một cuộc gặp gỡ tình cờ.Có thể nói là tình cờ. Nhưng trong con mắt đức tin, chúng ta thấy được sự sắp đặt kỳ diệu của Thiên Chúa. Tình thương của Chúa luôn bao bọc chúng ta, như đại dương bao la chứa đựng mọi sinh vật đang sống trong nó. Ơn Chúa luôn luôn có sẵn cho ta trên mọi nẽo đường đời. Chỉ cần có một cơ hội nào đó, ơn Chúa sẽ nảy sinh kết quả tốt lành cho những ai biết đón nhận. Cơ hội đã đến với người phụ nữ xứ Samaria. Điều hiển nhiên là người phụ nữ này rất cô đơn và bị coi rẽ. Chị ta đi ra giếng một mình vào giữa trưa, để tránh mặt mọi người. Chị cảm thấy số phận mình thật long đong. Chị đã qua năm đời chồng và hiện đang sống với người thứ sáu. Con số sáu trong Kinh Thánh biểu tượng cho sự bất toàn tột độ. Có thể chồng cũ đã chết. Cũng có thể chị bị chồng ruồng bỏ. Hồng nhan đa truân. Trong nỗi bất hạnh, chị khát khao tìm thấy một tình yêu chân thật. Chị như người lữ hành đang chết khát trong sa mạc, chỉ mong tìm được một nguồn nước. Và chị đã tình cờ gặp Đức Giê-su. Đức Giê-su là người duy nhất không coi rẽ chị, hơn nữa, còn quan tâm trò chuyện với chị. Làm điều đó, Ngài đã phá vỡ mọi hàng rào ngăn cách: hàng rào chủng tộc, tôn giáo, tập quán, và thành kiến của người đời. Người Do thái không bao giờ qua lại với người xứ Samaria, vì giữa hai bên có sự thù ghét kéo dài hàng trăm năm lịch sử. Hơn nữa, theo phong tục thời đó, người đàn ông không bao giờ trò chuyện với phụ nữ ở nơi công cộng. Vì thế, người phụ nữ xứ Samaria đã ngạc nhiên kêu lên: “Ông là một người Do thái, mà lại xin tôi cho uống nước?” Người Do thái đó đã ban cho chị “Nước Hằng Sống”. Ngài cũng sẽ ban cho ta sự sống đời đời.Đó là lời Chúa 

Biến Hình

– Lm. Francis Bùi Ngọc TỷKhông ai có thể nhìn thẳng mặt trời mà không bị hư mắt. Chỉ vì mặt trời quá sáng khiến mắt ta không chịu đựng nổi. Cũng cùng một lý do đó, không ai có thể nhìn thẳng vào Thiên Chúa mà không phải chết. Nhưng Thiên Chúa lại muốn bày tỏ chính mình cho chúng ta, nên Ngài đã sai Ngôi Lời nhận thể. Từ nay, chúng ta có thể nhận biết Thiên Chúa qua Đức Giê-su Ki-tô, Chúa chúng ta.   Trong bài Phúc Âm hôm nay, Thiên Chúa đã xác nhận thân phận và vai trò của Đức Giêsu: “Đây là Con Ta yêu dấu, rất đẹp lòng Ta. Các ngươi hãy nghe Lời Người.” Nghe được Lời Chúa là cả một vấn đề. Thế giới ngày nay tràn ngập âm thanh và hình ảnh. Những tiếng xe, tiếng nhạc, tiếng nói, những hình ảnh phát ra từ TV, radio, phone, internet vang vọng bên tai ta, đập vào mắt ta cả ngày lẫn đêm. Thế giới vật chất hôm nay muốn ta hiểu rằng, uống lon nước ngọt của họ sẽ làm ta sung sướng, lái chiếc xe của họ ta sẽ thấy mình thuộc về giới thượng lưu, uống viên thuốc của họ ta sẽ trở nên cường tráng, và mua bảo hiểm của họ ta sẽ không lo phải chết… “Hãy nghe Lời Người.” Chữ “nghe” trong Kinh Thánh không chỉ có nghĩa là nghe bằng lỗ tai, mà còn nghe bằng tâm hồn và đem ra thực hành. Nghe là vâng lời, là tin tưởng, là tín nhiệm. Ông Abraham trong bài thứ nhất hôm nay là gương mẫu điển hình của một người biết nghe. Chúa nói với ông: “Ngươi hãy lìa bỏ quê cha đất tổ, đi đến một miền đất Ta sẽ chỉ cho.” Lúc đó ông đã 75 tuổi, độ tuổi già dặn, chính chắn và khôn ngoan. Ông đã bỏ lại tất cả và tin tưởng khởi đầu cuộc lữ hành đời mình theo tiếng gọi của Chúa. Abraham đã tìm được “đất hứa” của mình, là biểu tượng của thiên đàng. Ông được tôn phong là cha của những người tin, trong đó có chúng ta. Thánh Phao-lô trong bài thứ hai hôm nay bàn về ơn gọi của chúng ta. Tiếng gọi của Chúa là một đặc ân, không phải do công nghiệp của chúng ta, mà chỉ vì tình thương của Chúa. Hơn nữa, khi chúng ta đi theo tiếng Chúa, chính Ngài sẽ dìu dắt chúng ta trong cuộc lữ hành trần thế, dẫn ta đến ơn cứu rỗi đời đời. Có lẽ lúc đầu ta coi việc vâng phục như một điều gì bó buộc. Nhưng khi ngoan ngoản thực thi Thánh Ý Chúa, dần dần ta sẽ cảm nghiệm được sự thay đổi toàn diện ở nơi mình. Sống theo đức tin, ta sẽ được biến hình với Chúa Kitô Phục Sinh. 

Cuộc Sống Đời Sau

– Lm. F.X. Bùi Ngọc Tỷ                      Dưới đáy một hồ sâu, có mấy con ấu trùng bàn bạc với nhau. Chúng băn khoăn tự hỏi tại sao trong bọn chúng, tất cả những ai leo dọc thân cây sen lên trên mặt nước đều không bao giờ trở lại nữa. Và chúng đồng ý với nhau là rồi đây ai trong bọn chúng trèo lên trên mặt nước trước, sẽ trở lại để kể cho những ai còn ở lại biết được trên mặt nước có gì.   Ít hôm sau, một con ấu trùng cảm thấy như có gì thúc đẩy. Nó trèo lên cây sen, và bắt đầu cuộc mạo hiểm ly kỳ tiến lên mặt nước. Vừa ló đầu khỏi mặt nước, mắt nó liền hoa lên vì những ngạc nhiên mới lạ. Rồi hình như nó đang thay hình đổi dạng. Từ trên thân thể mềm nhũn của con ấu trùng, nó trở nên một con chuồn chuồn có đôi cánh màu sắc rực rỡ. Nó bay qua lượn lại trong không gian. Nó nhìn xuống dưới đáy hồ và trông thấy chúng bạn. Nó muốn đi xuống để kể cho chúng bạn nghe về thế giới mới lạ này. Nhưng vô hiệu. Hơn nữa, cho dù nó có trở xuống, thì chúng bạn sẽ không thể nào nhận ra nó vì nó đã hoàn toàn biến đổi. Nó đã trở thành một tạo vật mới như chưa từng nghĩ ra trước đó.               Câu chuyện của con ấu trùng là câu chuyện của mỗi người chúng ta. Không ai còn đang sống mà có hiểu biết xác thực về đời sau. Khi chết, chúng ta bước vào một thế giới hoàn toàn khác. Có người tin có kiếp sau. Người khác nói chết là hết. Những người Sa-đu-sê-ô chế nhạo những ai tin có đời sau. Kitô-hữu chúng ta tin “xác loài người ngày sau sống lại”, vì Chúa Kitô đã phục sinh. Qua kinh nghiệm của Đấng Phục Sinh, chúng ta tin rằng chết không phải là hết. Chúng ta cũng tin rằng thân thể mình sẽ hoàn toàn biến đổi, tuy mình vẫn là mình. Chúng ta cũng tin rằng, nếu kiên quyết đi theo Đức Kitô và cố gắng sống như Người đã sống, chúng ta sẽ được phục sinh vinh hiển. “Nếu anh em cùng chết với Đức Kitô, anh em sẽ cùng được sống lại với Người.” Niềm tin vào Thiên Chúa hằng sống đã đem lại sức mạnh cho các thánh tử đạo khi đối diện với cái chết. Gương sáng đó khuyến khích chúng ta kiên nhẫn chịu đựng mọi thử thách ở đời này, và đặt tất cả nghị lực vào việc thực thi Lời Chúa. Chúa Kitô đã tuyên bố: “Ta là sự sống lại và là sự sống. Ai tin Ta thì dù có chết cũng sẽ sống. Còn ai sống mà tin Ta sẽ được sống đời đời.”                 

Tạ Ơn

– Lm. F.X. Bùi Ngọc Tỷ    Phong hủi là một chứng bệnh không có thuốc chữa. Hơn nữa, nó rất hay lây. Người mắc bệnh cùi bị coi như đã chết, vì thế họ bị đuổi ra khỏi làng xóm, sống xa xã hội loài người. Lời Chúa hôm nay nhắc đến những người mắc chứng bệnh khủng khiếp này; nhưng không nói về sự tuyệt vọng mà là niềm vui được chữa lành. Ông Na-a-man được ngôn sứ Ê-li-sê-u chữa lành. Nhờ tỏ lòng biết ơn, ông đã nhận được một ơn còn quý trọng hơn thân xác lành lặn. Đó là ơn đức tin. Mười người phong hủi trong bài Phúc Âm cũng được chữa lành. Nhưng trong nhóm họ, chỉ có một người được ơn đức tin nhờ biết quay lại tạ ơn Chúa.   Tạ ơn là một nhân đức quan trọng giúp gia tăng sức sống cho đức tin. Tạ ơn chia ra làm hai giai đoạn: biết ơn và cám ơn.Nhiều người cho rằng, tất cả những gì mình có đều do tự mình kiếm được: bằng cấp, nghề nghiệp, tiền bạc, nhà cửa, xe cộ, thức ăn… Họ quên rằng, ai đã cho họ đôi tay và trí óc để kiếm tiền. Ai cho họ mắt để nhìn, tai để nghe, miệng lưỡi để nói, chân để đi? Họ đã trả cho Chúa bao nhiêu để được sắc đẹp và trí khôn hơn người? Họ có tồn tại hay không thì trái đất vẫn quay, mặt trời vẫn mọc và mưa vẫn rơi. Nhưng Chúa cho họ sống và còn chuẩn bị cho họ một chỗ vĩnh viễn trên trời. Chúng ta quen coi những gì mình có như tự nhiên phải có. Chúng ta quên rằng, mình chẳng có làm gì để xứng đáng được những thứ mà mình đang hưởng thụ. Chỉ khi nhận biết đó là ơn lành Chúa ban nhưng không (gratis = free) chúng ta mới có được lòng biết ơn (gratitude). Có lẽ ông Na-a-man và người cùi xứ Sa-ma-ri-a dễ có lòng biết ơn nhờ nghĩ rằng, vì là người ngoại giáo, họ đã không làm gì đáng để được chữa lành. Thánh nữ Tê-rê-sa Hài Đồng Giêsu đã nói: “tất cả là hồng ân”. Lòng biết ơn được biểu lộ bằng sự cầu nguyện, nhất là bằng việc cử hành thánh lễ. Thánh lễ, Eucharist, nguyên nghĩa là lễ Tạ Ơn. Chúa Giêsu thay cho loài người tạ ơn Thiên Chúa bằng cách tự hiến mạng sống mình như một của lễ. Giờ đây, chúng ta hợp nhất với Ngài, trở thành hiến lễ, để tạ ơn và thờ phượng Chúa bằng chính cuộc đời mình. Thánh Phaolô trong thư Rôma khuyên nhủ chúng ta: “Anh em hãy hiến dâng thân mình làm của lễ sống động, thánh thiện và đẹp lòng Thiên Chúa. Đó là cách thức xứng hợp để anh em thờ phượng Người.” (Rm 12:1)

Đừng Sợ

– Lm. F.X. Bùi Ngọc TỷĐức Giêsu thường xử dụng câu chào quen thuộc của người Do thái: “Shalom”, nghĩa là chúc bình an cho anh em. Sau khi sống lại, Ngài cũng chào các môn đệ “Shalom”, nhưng với một ý nghĩa đặc biệt. Ngài muốn nói: “Hỡi đoàn chiên bé nhỏ, anh em đừng sợ hãi”, vì Ta đã thắng thế gian. Tội lỗi và sự chết đã bị chinh phục. Hãy an tâm, vì dầu cho sự ác có hoành hành mạnh mẽ tới đâu, chúng cũng không thể hủy diệt được kẻ đặt niềm tin nơi Chúa.   “Đức Tin là bảo đảm cho những điều ta hy vọng, là bằng chứng cho những điều ta không trông thấy”(Do thái 11:1) Nhờ đức Tin, ông Abraham đã được Đất Hứa làm gia nghiệp.  Nhờ đức Tin, bà Sara đã có thể thụ thai và sinh con nối dòng khi tuổi đã cao. Đức Tin đem lại cho chúng ta sự sống đời đời. Nhờ đức Tin, chúng ta vượt qua ranh giới của thực tại hữu hình, để tiếp xúc với mầu nhiệm vô hình trong Nước Thiên Chúa. Nước Thiên Chúa đã được khai mở ở trần gian, nhưng không thuộc về thế gian. Bởi đó, chúng ta không thể xử dụng giác quan để nhận biết; cũng không thể dùng trí khôn để hiểu thấu. Nhiều lúc, người tín hữu phải lần mò bước đi trong bóng tối đức Tin. Người ta thường sợ hãi bóng tối, vì không biết cái gì sẽ xãy ra cho mình. Chúa Kitô nói với chúng ta: anh em đừng sợ, hãy đi theo Ta, vì “Ta biết Cha Ta và Cha Ta biết Ta”. Nhờ Chúa Kitô, chúng ta được tham dự vào Nước Thiên Chúa. Nhưng không phải ta muốn thế nào thì Thiên Chúa phải làm theo thế đó. Hành động của Thiên Chúa không theo quy luật của loài người chúng ta. Bất ngờ như kẻ trộm đến vào lúc ta không ngờ, vào giờ ta không biết. Vì thế, chúng ta phải trung thành với bổn phận hằng ngày của mình, như người đầy tớ tỉnh thức đợi chủ về. Giữ mình trong sạch, siêng năng cầu nguyện, chăm chỉ lắng nghe Lời Chúa, hết lòng yêu mến và phục vụ tha nhân. Hơn nữa, theo Chúa là một lựa chọn lớn lao. Ông Abraham đã chọn ra đi theo tiếng gọi của Chúa, bỏ lại quê cha đất tổ của mình. Chọn lựa nào cũng gây đau khổ và mất mát. Đó là cái giá phải trả của người môn đệ. Nhiều lúc, chúng ta phải hy sinh từ bỏ những giá trị mà trần thế coi trọng như tiền bạc của cải, danh vọng, quyền lực… vì Nước Trời. Chúa Kitô nói với chúng ta: anh em đừng sợ mất, vì anh em sẽ được lại gấp trăm ở đời này, và sẽ được Nước Thiên Chúa làm gia nghiệp.

Làm Giàu Trước Mặt Chúa

– Lm. F.X. Bùi Ngọc TỷMột ông nhà giàu sắp chết. Ông ta kêu vợ đem tất cả tiền bỏ vào trong một cái va-li và đặt ở trần nhà ngay trên giường bệnh. Bà vợ hỏi tại sao. Ông ta nói: “Để khi lên trời, tôi sẽ cầm nó theo.” Đó là một thí dụ nực cười về sự đam mê của cải. Sách Giảng viên nói về của cải trần gian: “Phù vân, quả là phù vân. Tất cả chỉ là phù vân.” Đức Giêsu cảnh cáo các môn đệ của Ngài: “Anh em phải coi chừng, phải giữ mình khỏi mọi thứ tham lam, vì không phải hể ai được dư giả, thì mạng sống người ấy nhờ của cải mà được bảo đảm đâu.”   Đức Giêsu không nói của cải là xấu. Ngài dạy chúng ta: sự tham lam hay sự đam mê của cải là xấu, vì người đam mê của cải sẽ ảo tưởng rằng tiền bạc và chỉ có tiền bạc mới bảo đảm cho cuộc sống.Đức Giêsu giải thích giáo huấn của Ngài bằng câu chuyện về một nhà phú hộ. Ông này có nhiều của cải. Hơn nữa, của cải càng ngày càng sinh lợi khiến ông sung sướng và tự nhủ: “Hồn ta hỡi, mình bây giờ ê hề của cải, dư xài nhiều năm. Thôi, cứ nghỉ ngơi, cứ ăn uống vui chơi cho đã!” Nhưng Thiên Chúa bảo ông ta: “Đồ ngốc! Nội đêm nay người ta sẽ đòi lại mạng ngươi, thì những gì ngươi sắm sẵn đó sẽ về tay ai?”Ông phú hộ làm sai ở chỗ nào? Ông không làm gì xấu. Sự ngu dại của ông là để cho của cải vật chất ám ảnh mình, khiến ông bỏ qua mục đích tối hậu của cuộc sống là hạnh phúc đời đời. Chúa Kitô dạy chúng ta: “Ấy kẻ nào chỉ lo thu tích của cải cho mình, mà không lo làm giàu trước mặt Chúa, thì số phận cũng sẽ như vậy.” Thế nào là làm giàu trước mặt Thiên Chúa? Chuyện kể, trong thế chiến thứ hai, trên chiến hạm U.S.A.T. Dorchester có bốn vị tuyên úy. Một vị là linh mục công giáo, hai vị là mục sư tin lành, vị thứ tư là một rabbi do thái. Vào ngày 3 tháng 2 năm 1943, một trái ngư lôi của Đức bắn chìm chiếc Dorchester. Thủy thủ tìm cách leo lên những chiếc xuồng cấp cứu. Nhưng phần đông đều chết cóng trên mặt biển đông đá. Một thủy thủ kể lại, từ xa anh nhìn thấy bốn bóng người đứng thẳng trên boong tàu, cầm tay nhau và hát to những bài thánh ca. Tiếng la-tinh, tiếng do thái, và tiếng anh hòa lẫn với tiếng sóng đem lại niềm an ủi cho các thủy thủ trước giờ chết. Đó đã những người biết làm giàu trước mặt Chúa.  

Cầu Nguyện

– Lm. F.X. Bùi Ngọc TỷCó một thương gia bước vào nhà thờ. Ông đang cần gấp 1 triệu đô la để ký kết một thương vụ. Ông quỳ trước bàn thờ, bên cạnh lại có một người đang cầu nguyện. Người này xin Chúa giúp, vì đang cần 100 đô la để trả nợ. Nghe thấy vậy, vị thương gia bèn đưa cho người đó 100 đô la. Ông này mừng rỡ, cám ơn rồi ra về. Sau đó vị thương gia nói với Chúa: “Lạy Chúa, bây giờ không còn ai quấy rầy nữa, xin Chúa nghe con trình bày mối làm ăn này rất có lợi…”   Thương gia mà cũng cầu nguyện! Nhưng lời cầu nguyện của ông ta sặc mùi tiền. Có nhiều người cầu nguyện theo kiểu vị thương gia này. Thí dụ: “Lạy Chúa, xin cho con trúng số, con hứa sẽ bố thí cho kẻ nghèo…” Nghe như chuyện mua bán. Thái độ đó hoàn toàn sai lầm. Đức Giêsu hôm nay dạy chúng ta cầu nguyện bằng kinh Lạy Cha. Ngài còn giải thích thêm bằng hai dụ ngôn nói về sự kiên trì khi cầu nguyện. Trong bài đọc Cựu Ước, chúng ta cũng học được cách cầu nguyện của ông Môsê cho dân thành Sôđôma. Bằng kinh Lạy Cha, Đức Giêsu dạy chúng ta phải có tâm tình Tin Cậy Mến của người con đối với Chúa là Cha: “Lạy Cha chúng con ở trên trời.” Là con thì phải tin tưởng nơi Cha. Thiên Chúa là Đấng toàn năng, toàn tri, toàn thiện. Ngài là nền tảng của sự công chính, thánh thiện, tốt lành. Là con, chúng ta phải nguyện cho Ý Cha được thực hiện, Nước Cha trị đến, Danh Cha cả sáng. Nếu không có nền tảng vững chắc đó, tất cả những gì chúng ta xây dựng cho đời mình chỉ như nhà xây trên cát. Chúa cũng là người Cha hằng thương yêu con cái mình. Người sẽ ban cho ta những gì tốt đẹp nhất. Người cũng không chấp nhất với những lầm lỗi của chúng ta, nếu chúng ta thật lòng ăn năn và quyết tâm chừa cải. Tuy nhiên, chúng ta có thật lòng ăn năn không? Chúng ta có thật sự tin tưởng cậy trông và yêu mến Cha không? Nhiều khi Chúa từ chối hoặc làm ngơ trước điều ta cầu xin, vì Người muốn cho ta thời gian để suy nghĩ lại và thanh lọc trái tim của mình. Dùng những lời cầu nguyện của các thánh, nhất là những lời trong Kinh Thánh, lòng chúng ta sẽ thắm đuợm tâm tình tin cậy mến. Gia tài thánh thiện này sẽ uốn nắn và cải hóa lòng ta. Nhờ năng đắm mình trong những tâm tình đó, chúng ta sẽ trở nên giống Chúa Kitô và sẽ nên một với Cha, vì “Cha Ta và Ta là một.”