Lễ Mình và Máu Thánh Chúa Kitô

Chúa Giêsu nói với người Do-thái: “Tôi là bánh hằng sống từ trời xuống. Ai ăn bánh này sẽ được sống muôn đời. Và bánh tôi sẽ ban tặng, chính là thịt tôi đây, để cho thế gian được sống.”  Nhiều người Do-thái và nhiều môn đệ Chúa Giêsu nói: “Lời này chướng tai quá! Ai mà nghe nổi?” nên bỏ Chúa mà đi. Chúa Giêsu hỏi Nhóm Mười Hai: “Cả anh em nữa, anh em cũng muốn bỏ đi hay sao?” Thánh Phêrô liền đáp: “Thưa Thầy, bỏ Thầy, chúng con biết đến với ai, Thầy mới có những lời đem lại sự sống đời đời. Phần chúng con, chúng con tin và nhận biết chính Thầy là Đấng Thánh của Thiên Chúa.” (Ga 6:51-69). Nhờ đức tin, chúng ta tin thật Chúa Giêsu lấy chính Mình và Máu Thánh Người mà nuôi sống linh hồn chúng ta. Khi lập Bí tích Thánh Thể, Chúa Giêsu đã muốn thông ban tất cả tình yêu phong phú khôn lường của Người cho chúng ta. “Trong đêm bị nộp, Chúa Giêsu cầm lấy bánh, dâng lời chúc tụng tạ ơn, rồi bẻ ra mà nói: “Anh em cầm lấy mà ăn, đây là Mình Thầy, hiến tế vì anh em.” (1 Cr 11: 23-24). Thánh Bernadin de Sienne nói: “Vì quá yêu thương chúng ta nên ngay trước khi chịu chết Chúa Giêsu đã làm một phép lạ lớn lao là Người ban cho ta chính Thân Mình Người làm của ăn.” Điều mà người ta cảm thấy “chướng tai” và không thể tin được thì tình yêu của Chúa Giêsu đã thực hiện: “Hãy cầm lấy mà ăn, này là Mình Thầy.” Chúa Giêsu muốn vào tâm hồn chúng ta nhờ Bí tích Thánh Thể. Cùng với huấn lệnh “Hãy cầm lấy mà ăn” Chúa còn ban cho chúng ta lời hứa hạnh phúc muôn đời: “Ai ăn thịt và uống máu tôi thì có sự sống đời đời, và tôi sẽ cho kẻ ấy sống lại trong ngày sau hết.” Vì sao Chúa Giêsu lại muốn chúng ta đón nhận Người nơi Bí tích Thánh Thể? Thánh Denis nói rằng: “Tình yêu luôn khát khao và kiến tạo hợp nhất.” Chúa trao hiến chính mình cho chúng ta trong nhập thể, thương khó, nhưng Người chưa cho là đủ, Người còn muốn thiết lập Bí tích Thánh Thể để kết hiệp với từng người tín hữu: “Ai ăn thịt tôi và uống máu tôi thì lưu lại trong tôi và tôi ở trong người ấy” (Ga 6:56). Rước Chúa Giêsu Thánh Thể vào linh hồn ta mang lại cho ta lợi ích thật lớn lao. Thánh Denis dạy rằng Bí tích Thánh Thể là phương dược quyền năng nhất để thánh hoá các linh hồn. Thánh Francois de Sales nói: “Có hai hạng người cần phải siêng năng rước lễ: hạng thánh thiện và hạng chưa thánh thiện. Hạng thánh thiện cần phải rước lễ để bảo vệ sự thánh thiện. Hạng chưa thánh thiện cần phải rước lễ để sống thánh thiện.” Chúa Giêsu dạy thánh nữ Mechtilde: “Khi con rước lễ, con hãy cầu xin cho được lòng mến mà con chưa hề có bao giờ. Ta sẽ nhận tình yêu của con, không phải bởi nó đang thực sự có, mà bởi vì con ao ước có được nó.” Lạy Chúa Giêsu Thánh Thể là tình yêu trên hết và là mọi sự của con. Phần con, lạy Chúa, con chỉ là hư vô, không có một tí gì lành, không có một tí nhân đức nào, không có một tí trung thành nào, không đáng được một ơn nào của Chúa. Từ vực sâu thẳm khốn nạn khôn dò của con, con nài xin Chúa, vì lòng thương xót vô cùng của Chúa, ban cho con ơn nhận biết Chúa, yêu mến Chúa và phụng sự Chúa suốt đời con. Con xin hiệp với Mẹ Maria mà kính dâng Chúa tâm tình tạ ơn vì Chúa thương xót ngự vào linh hồn con, mặc dầu con bất xứng. Xin Chúa ban cho con được lòng kính mến Chúa mà con chưa hề có bao giờ. Lạy Chúa Giêsu Thánh Thể, con thờ lạy Chúa, con yêu mến Chúa, con tín thác nơi Chúa. Amen. – Lm. Phaolô Nguyễn Văn Thạch, C.Ss.R.    

Mầu Nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi

Mỗi lần chúng ta cầu nguyện đọc kinh chung hay riêng, tham dự Thánh Lễ hay mọi nghi thức phụng vụ chúng ta bắt đầu làm dấu thánh giá và đọc: Nhân Danh Cha và Con và Thánh Thần. Chúng ta nhớ đến và tôn thờ mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi: -Ngôi thứ nhất: Chúa Cha Tạo Dựng – Ngôi thứ hai: Chúa Con Cứu Chuộc – Ngôi thứ ba: Chúa Thánh Thần Thánh Hóa. Một Chúa ba Ngôi, ba Ngôi một Chúa, chúng ta sẽ không hiểu thấu được Thiên Chúa bằng trí khôn suy luận của con người nhưng đón nhận mầu nhiệm nầy bằng đức tin, mặc khải với một tấm lòng đơn sơ rộng mở qua sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần. Ai trong chúng ta cũng biết về câu chuyện về Thánh Augustino, một này kia Ngài đang đi dạo bên bờ biển Ngài gặp một câu bé đang cố sức lấy một chiếc vỏ sò múc nước biển đổ vào một cái hang. Thánh nhân hỏi cậu bé: “Con đang làm gì vậy?” Cậu bé trả lời: “Con múc nước biển đổ vào lỗ nầy cho đến khi nước biển cạn hết” Thánh nhân chê cười cậu bé vì làm một điều không thể tưởng được nhưng cậu đã đáp lại: “việc tôi làm không đáng chê cười bằng việc Ngài muốn dùng trí khôn loài người để tìm hiểu mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi” Mặc dầu Ba Ngôi Thiên Chúa là một mầu nhiệm nhưng chúng ta biết được rằng Thiên Chúa là đấng yêu thương được biểu lộ qua bài tin mừng theo Thánh Gioan 3:16-18 * Tình yêu Ba Ngôi là một tình yêu cho đi, là tình yêu tận hiến, “Thiên Chúa đã yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một mình cho thế gian” (Ga 3:16) * Tình yêu Ba Ngôi đem lại hạnh phúc cho người mình yêu được sống viên mãn, “ Để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết nhưng được sống muôn đời.” (Ga 3:16b) * Tình yêu Ba Ngôi đem lại sự tha thứ và biến đổi, “Thiên Chúa sai Con của Người đến thế gian, không phải để lên án thế gian, nhưng là để thế gian nhờ Con của Người, mà được cứu độ.”(Ga 3:17) Ngoài ra Tình yêu Ba Ngôi đem lại sự hợp nhất đồng tâm nhất trí vói nhau trong gia đình cũng như ngoài xã hội, yếu tố để có sự hợp nhất chính là tình yêu bởi vì Thiên Chúa là Tình Yêu. Ước gì lời cầu chúc của Thánh Phaolô cho cộng đoàn tín hữu Cô-rin-tô trong bài đọc hôm nay cũng là lời cầu cho mọi người trong chúng ta hôm nay, “Cầu chúc toàn thể anh em được tràn đầy ân sủng của Chúa Giêsu Kitô , đầy tình thương của Thiên Chúa, và ơn hiệp thông của Thánh Thần. Amen.”   – Lm. Thadéo Bùi Công Hiến Linh, O.H    

Sống An Bình

Con người được Thiên Chúa tạo dựng quả là may mắn và trọng đại hơn bao loài thụ tạo; có hồn và lý trí. Nhờ lý trí con người biết phân biệt đúng sai, thiện ác, ham muốn, chối từ . . . Đời sống con người  qua  ba thời gian tuổi: 1) TUỔI NIÊN THIẾU                          Tuổi  bơ sữa, tâm hồn ngây thơ, buồn thì khóc, vui thì cười, đói đòi ăn, muốn gì đòi bằng  được, thích đứng bên mẹ níu áo và ưa được cưng chìu, lớn thêm chút nữa thích làm nũng làm nịu.   Tuổi không biết lo bữa no, bữa đói …  vô tư như tuổi xuân học trò. Tuổi mà ai đang lo toang, vồn vã trong cuộc sống hầu như muốn trở lại tuổi thần tiên ấy. Ông kia đứng nhìn mấy trẻ nít chơi  với nhau khi thua thì cãi đôi ba tiếng, thắng thì cười – hét, nhảy tưng tưng thật vui. Ông thốt lên rằng ” Ước gì tâm hồn mình  được trở lại như lũ trẻ này …  chơi cho đã khi khát thì đòi mẹ mua sữa, đói thì mở tủ lạnh tìm thức ăn. Chúng thật vô tư như đàn chim sẻ không phải làm lụng mà vẫn có ăn hằng ngày.  Chúa Giêsu nói  ” Cứ để trẻ em đến với Thầy, đừng ngăn cấm chúng, vì Nước Trời là của những ai giống như chúng ” (Mt. 19, 13).  Khi được lãnh nhận Bí tích Thánh Tẩy các em  được nhận ơn Chúa Thánh Thần và hơn nữa khi  nhận phép Thêm Sức Đức Chúa Thánh Thần ban thêm ơn khôn khoan, ơn soi sáng, và . . . Khi còn lớp trung học tôi nhớ một đoạn bài hát của Phạm Duy: Em ước mơ, mơ gì tuổi mười hai, tuổi mười ba, Em ước mơ, mơ gì em được là tiên nữ. Ôi! đúng là cái tuổi mà tôi cũng thèm được trở lại làm thằng bé lọ lem để được mẹ  dẫn đi nhà trường và  dạy  sống ngoan. Được Chúa Giêsu ôm vào lòng, Chúa Thánh Thần hà hơi – thêm sức khôn lớn. 2)  TUỔI YÊU Con  người lạ thật  ” khi chưa yêu thì muốn yêu cho bằng được; khi yêu rồi thì chán yêu ” vậy mới chết chứ ! Phải chăng tâm hồn thiếu sự bình an vì lý do gì đó ? Ai mà hiểu được người kia nếu  không chia sẻ. Cô kia tâm sự rằng. Con quen chồng con được 3 năm thì lấy nhau. Chúng con hạnh phúc được 4 năm thì chồng con sinh sinh chứng uống rượu. Ngày nào  đi làm thì thôi, ngày nào không có việc làm thì 4, 5 người tụ nhau nhậu. Mồi chỉ 3 con cá nhí nướng cũng ngồi đến khuya, chờ mãi không thấy về. Con lo không ngủ  được,  nhức đầu! Nói hoài anh cũng vậy. Con nói  ” Những ngày  còn quen nhau không thấy anh uống rượu ?” Anh nói ” dại gì mà  uống, em biết thì không thương anh.” Xin cha thêm lời cầu nguyện cho gia đình con được hạnh phúc. Tôi chia sẻ điều này cùng xin ai có lòng bác thêm  lời cầu. Mê ăn, ham uống thái quá cũng là tội;  làm ông xã, bà xã  lo lắng mất ngủ, không hạnh phúc thì tội chồng thêm nữa. Có ông mở miệng giới thiệu tôi ” Bà đây là thánh giá của con hơn mười năm.”  Nhưng ông không biết rằng ông là thánh giá của bà trịu hai vai. Trong những nỗi lo lắng có khi chúng ta quên tâm sự với Chúa (hay là làm biếng cũng có thể ) để xin ơn soi sáng, ơn lo liệu,  ơn trách nhiệm, ơn an bình . . .  Tin Mừng hôm nay Chúa Giesu nói với các tông đồ “Bình an cho các con” (Jn. 20, 20-21). Sự bình an trong tâm hồn rất quan trọng. Cho ta niềm vui, nụ cười tươi tắn, khuôn mặt hiền hòa mà ai nhìn cũng dễ mến dễ thương. Khi Đức Giêsu sinh ra  muôn vàn thiên thần hát mừng ” Vinh danh Thiên Chúa trên trời, bình an dưới thế cho người thiện tâm ” (Lc. 2, 14). Chúa Giêsu  khuyên các môn đệ  ” khi vào nhà  nào để loan báo Tin Mừng, anh em hãy chúc bình an cho nhà ấy ” (Mt. 10,12); đoạn khi Chúa Thánh Thần đến “Ngài dẫn anh em tới sự thật trọn vẹn” (Ga. 16,13). Đời sống  rất cần sự bình an. Nó thật quan trọng để sống vui tươi và hạnh phúc,  nó cũng giúp chúng ta phát triển trong đời sống tâm linh.  Người có đời sống tâm linh  triển nở như bông hoa thì tâm hồn là nhị thơm của hoa, luôn biểu hiện  sự thư thái an bình. Muốn có bình an và hạnh phúc cho mình cho gia đình, nên tự hỏi  ” Tôi là ai?  Tôi đang làm gì?”. 3)  TUỔI HƯU Nói đến tuổi  hưu ai cũng nghỉ  rằng thời gian làm việc đã qua – đến  thời nghỉ ngơi. Ca dao có câu ” Tre già,  măng mọc ” hay nói  ngược lại măng  mọc càng cao, tre càng chóng rụi.  Người được gọi là có tuổi thì chóng quên, hay hỏi. Nhưng chúng ta hiểu người ở độ tuổi nào Chúa Thánh Thần thêm sức cho độ tuổi đó. Khi ta nhận phép Thánh Tẩy  và Thêm Sức thì tự trong ta đã lãnh ơn Ngài rồi và ở với ta luôn mãi, đó là Ấn tín Chúa Thánh Thần. Ta có thể cầu “Lạy Chúa Thánh Thần xin Ngài canh tân đổi mới tâm hồn và đời sống con”.  Lúc nào ta cũng cầu nguyện hoặc tâm sự với Chúa câu ấy được. Người nghỉ việc thường có thì giờ tham dự lễ Misa hoặc ở nhà … [Read more…]

Loan Báo Tin Mừng – Truyền Thông Xã Hội

Chúa Kitô Phục Sinh và Lên Trời là một Tin Mừng, mà Tin Mừng thì phải được loan truyền. Do vậy, hôm nay Giáo Hội cho chúng ta nghe lại lời mời gọi của Chúa: “Các con hãy đi giảng dạy muôn dân.” Qua mệnh lệnh này, với sự phù trợ của Chúa Thánh Linh, Giáo Hội đã khởi đi từ Giêrusalem đến mọi quốc gia trên thế giới. Âu đó cũng là mệnh lệnh khẩn thiết mà Ngài muốn tất cả Kitô hữu không phân biệt giáo sỹ hay giáo dân đều phải tích cực trong việc “loan báo Tin Mừng.” Mà muốn loan báo Tin Mừng Chúa Kitô thì chúng ta phải thông hiểu Lời Chúa. Vì khi ta giới thiệu Chúa Kitô cho người khác mà chính mình lại không biết rành rẽ về Ngài, là một thiếu sót lớn; chẳng khác gì chúng ta đang cho ai cái mình không có. Vì thế, ĐGH Phanxicô thường xuyên kêu mời chúng ta phải chuyên cần học hỏi và đọc Kinh Thánh. Thật vậy, muốn Phúc Âm hóa môi trường thì chính mình phải được Phúc Âm Hóa trước; để Lời Chúa tác động vào mọi suy tư, hành động của mình. Có vậy, thì mọi biến cố xảy ra trong đời sống thường nhật đều được chúng ta đón nhận qua lăng kính của Tin Mừng và chuyển tải các thông tin đó dưới ánh sáng của Lời Chúa. Đó là kỹ năng Loan Báo Tin Mừng qua Truyền Thông. Khi nhìn như vậy, chúng ta mới thầy tại sao Giáo Hội đã chọn Lễ Chúa Lên Trời cũng là “Ngày Thế Giới Truyền Thông Xã Hội (NTGTTXH).”                         Trong Sứ Điệp NTGTTXH năm nay, ĐGH Phanxicô đã triển khai về những biến cố xảy ra trong cuộc sống hàng ngày qua các thông tin. Chúng có thể xấu, tốt, đúng, sai. Vì vậy, khi chúng ta tiếp nhận các thông tin ấy, ĐGH Phanxicô đã sánh ví tâm trí của chúng ta giống như một cái cối xay, phải xay liên tục; Nhưng quan trọng là cái cối xay ấy phải xác định là xay cái gì: “lúa tốt hay cỏ lùng”. Nói một cách khác, các tin tức phải được gạn lọc rồi sử dụng các kỹ thuật hiện đại mà chuyển tải các tin tức đó dưới lăng kính Lời Chúa: Dùng Internet để chuyển tải những tin tức thánh thiện đạo đức, thay vì những hình ảnh xấu; Dùng điện thoại để nói những lời thăm hỏi yêu thương chân thành, thay vì nói hành nói xấu. Không loan báo những tin thất thiệt, mà là loan báo Tin Mừng. Xin Chúa Thánh Linh khai trí mở lòng cho chúng ta chuyên cần ĐỌC và HỌC KINH THÁNH; để được thấm nhập Lời Chúa, để chúng ta luôn suy tư, hành động, và sống theo Tin Mừng: Khiêm hạ – tha thứ – hòa thuận – thương yêu nhau, để trong gia đình mình chỉ có lúa tốt mà không còn cỏ lùng lẫn vào nữa. Ước mong rằng, Kinh Thánh luôn là kim chỉ nam cho chúng ta trong mọi hoàn cảnh, để ánh sáng Phúc Âm ngày càng được chiếu tỏa ra muôn nơi. Như ĐGH Phanxicô đã kết thúc Sứ Điệp NTGTTXH 2017 như sau: “Ngày nay, Chúa Thánh Linh vẫn tiếp tục gieo vãi vào tâm trí chúng ta lòng khát khao Nước Trời, nhờ tất cả những ai, đang lãnh nhận linh ứng từ Tin Mừng qua những biến cố đau thương trong thời đại của chúng ta, hãy tỏa sáng ra như những chiếc đèn hiệu trong bóng tối của thế giới này, để chiếu sáng lối đi và mở ra những con đường mới của lòng tin và hy vọng.”  Amen – Phó tế Đaminh Vũ Quốc Anh 

Giáo Hội Công Giáo và Tông Truyền

Tuần trước, qua các bài đọc Lời Chúa, chúng ta đã suy niệm về mầu nhiệm Giáo hội với hai đặc tính: Duy nhất và thánh thiện. Chúa nhật tuần này, chúng ta có dịp đào sâu thêm về hai phẩm tính khác của Hội thánh, đó là đặc tính Công giáo và đặc tính Tông truyền. Cả bốn thuộc tính nơi Giáo hội mà chúng ta vẫn đọc trong kinh tin Kính đều có một yếu tố căn bản duy nhất, đó là Thánh Thần, hay Thần Khí của Đấng Phục Sinh và cũng là Đấng hằng làm việc trong Giáo hội. Giáo hội với Công giáo tính. Chúa Giêsu đem ơn cứu độ đến cho mọi người, không phân biệt mầu da, chủng tộc, ngôn ngữ hay văn hóa. Thánh Phaolô đã viết: “Trong Đức Kitô, không còn phân biệt Do Thái hay Hy Lạp, nô lệ hay tự do, nam hay nữ (Gal 3,28). Vì thế trong Giáo hội, tất cả chúng ta đều được chia sẻ chung một phẩm giá, là được trở nên con cái Thiên Chúa, và được đồng thừa tự với Đức Giêsu. Câu chuyện được thuật lại trong bài đọc 1 minh dẫn về xác tín này. Tác giả sách Tông đồ Công vụ thuật lại giai thoại Tông đồ Philip đã xuống miền Samari rao giảng và nhiều người ở đó đã tin, đã lãnh nhận Thánh Thần và đã chịu phép rửa nhân danh Chúa Giêsu (Cv8,14-17). Samari là vùng đất ngoại giáo. Người DoThái vẫn có mối thù truyền kiếp với cư dân Samari và quyết không đội trời chung với họ. Nhưng Thánh Thần đã tác động, nối kết những dị biệt lại, và hóa giải những xung khắc. Cư dân ở đây đã nghe Philipphê rao giảng về Đức Kitô kèm theo những phép lạ mà vị tông đồ đã thực hiện. Cuối cùng nhờ Chúa Thánh Thần, họ đã được biến đổi. Đặc tính Công giáo của mầu nhiệm Giáo hội được hiển thị rõ nét qua biến cố trên. Ngày nay, Giáo hội đã lan rộng đến khắp mọi miền trên khắp thế giới. Giáo hội và tính Tông truyền. Chúa Giêsu đã thiết lập Giáo hội trên nền tảng các Tông đồ. Trong sách Khải huyền, Thánh Gioan đã thuật lại thị kiến khi Ngài chiêm ngắm Thành Thánh Giê-ru-sa-lem được đặt trên 12 móng có khắc tên 12 Tông đồ của Con Chiên (Kh 21,14). Sau khi sống lại, Chúa Giêsu cũng ban năng quyền tha tội cho các Ngài trong ngày Phục sinh. Trong nhãn quan thần học của Thánh Gioan, sự kiện Chúa Phục sinh – và thiết lập Hội thánh chỉ là một thực tại duy nhất. Cũng tương tự, Thánh Luca mô tả Hội thánh tiên khởi tại Giê-ru-sa-lem luôn quy tụ chung quanh các Tông đồ và lắng nghe lời dạy dỗ của các Ngài. Trong bài đọc 1 hôm nay, các Tông đồ ở Giê-ru-sa-lem nghe biết dân Samari đã đón nhận lời Chúa,liền cử hai ông Phêrô và Gioan đến với họ. Hai vị tông đồ này là đại biểu Tông đồ đoàn đến đặt tay trên họ để trao ban Thánh Thần. Hội thánh của Chúa Giêsu không phải là một tổ chức dân sự theo kiểu xã hội trần thế, đặt nền tảng trên tính dân chủ. Trái lại, mọi quyền bính được trao ban từ trên, khởi đầu từ Đức Giêsu. Đức Giêsu trao năng quyền cho các Tông đồ và các tông đồ chuyển giao lại cho các Mục tử là các Giám mục để các Ngài coi sóc các cộng đoàn. Trong Giáo hội, không bao giờ có chuyện một Giám mục được dân bầu lên, nhưng chỉ duy nhất một mình Đức Thánh Cha đấng kế vị Thánh Phêrô, mới có thẩm quyền bổ nhiệm Giám mục. Vì vậy, giáo luật quy định rất rõ ràng, bất cứ một vụ phong chức Giám mục nào bất hợp pháp (illicit), tức là không phải do Đức Thánh Cha ủy quyền, thì vị được tấn phong lẫn vị chủ phong đều bị vạ tuyệt thông tiền kết, cho dù bí tích vẫn thành sự (valid). Trong lịch sử Giáo hội, cũng đã từng xảy ra nhiều trường hợp như thế. Hiện nay, việc giải quyết những rắc rối tại Giáo hội Trung quốc vẫn còn khá nan giải, vì việc chọn Giám mục vẫn còn bị chính quyền trực tiếp can thiệp vào. Tình yêu: thẻ căn cước của mọi tín hữu trong Hội thánh. Sống trong Giáo hội là nhiệm thể Đức Kitô, mọi Kitô hữu phải mang nơi mình một thẻ căn cước (identity card) chung, đó là sống tình yêu thương. Đây là điều mà Chúa Giêsu đã đề cập đến trong bài Tin mừng hôm nay. Trong diễn từ ly biệt trước khi đi thụ nạn, Chúa Giêsu đã nói với các môn đệ những lời tâm huyết khá dài về điều răn mới, là ‘Hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu’. Để khai triển về luật yêu thương này, Chúa Giêsu đã mời gọi các môn sinh đi sâu vào tình yêu giữa Ngài với Chúa Cha như một nguyên mẫu. Đó không phải là những tình cảm hời hợt bên ngoài, nhưng đi sâu vào sự hiệp thông cách trọn vẹn, vì “Ai yêu mến Thầy thì sẽ được Cha Thầy yêu mến” Tình yêu là tên gọi của Thiên Chúa, và tình yêu cũng là thuộc tính căn bản của Ngài. Trong thư thứ nhất của Thánh Gioan, vị tông đồ đã xác tín điều này. Giáo hội là nhiệm thể Đức Giêsu, nên sự sống của Giáo hội là sự sống của tình yêu phát nguyên từ nơi Thiên Chúa. Vì thế, Chúa Giêsu đã nêu bật tình yêu thông hiệp giữa Ngài với Chúa Cha như một nguyên mẫu để mời gọi các học trò đi sâu vào cảm thức thánh thiêng, hầu sống sung mãn ơn gọi … [Read more…]

Hãy Tìm Gặp Đức Giêsu Phục-sinh Ngay Trong Tâm của Bạn

Sự kiện phục sinh của Chúa Giêsu không dễ gì minh chứng.  Theo phương diện lịch sử, thì các nhân chứng thời đó đều chấp nhận việc ngôi mộ trống, nhưng “Ngài” đi đâu và cái “khi ẩn-khi hiện” thì có kẻ thấy người không. Nhưng những ai được cảm nghiệm mầu nhiệm phục sinh này, thì mạnh dạn làm chứng cho cuộc gặp gỡ của họ với Đức Giêsu Phục-sinh. Chúng ta nghe được nhiều lần thánh Phêrô đã lập đi lập lại lời chứng của thánh nhân trong các dịp khác nhau trong sách Tông Đồ Công Vụ: “Nhưng Thiên Chúa đã làm cho Người trỗi dậy từ cõi chết: về điều này, chúng tôi xin làm chứng” (Cv 2, 32; 3, 15; 5, 32). Tại sao Đức Giêsu Phục-sinh không hiện diện tỏ tường cho mọi người mà phải qua nhân chứng? Chính những chứnng nhân cũng không tài nào hiểu nổi tại sao Thiên Chúa lại chọn phương cách này. Chúng ta hãy thử nhìn lại câu chuyện của thánh Phêrô. Trong một bữa ăn thân mật cùng gia đình của người tín hữu tiên khởi, Cônêliô thành Xêdarê, thánh Phêrô chia sẻ: “Người xuất hiện tỏ tường, không phải trước mặt toàn dân, nhưng trước mặt những chứng nhân Thiên Chúa đã tuyển chọn từ trước, là chúng tôi, những kẻ đã được cùng ăn cùng uống với Người, sau khi Người từ cõi chết sống lại” (Cv 10, 40-41). Thánh Phêrô phần nào đó cũng ngạc nhiên tại sao Thiên Chúa không xuất hiện tỏ tường trước mặt toàn dân. Nếu Thiên Chúa cứ tỏ hiện, thì chắc đâu còn ai phải nghi ngờ! Và, hình như cái kiểu lòng vòng của Thiên Chúa cũng đã làm thánh Tôma phát cáu. Thánh nhân đã thách thức: “Nếu tôi không thấy dấu đinh ở tay Người, nếu tôi không xỏ ngón tay vào lỗ đinh và không đặt bàn tay vào cạnh sườn Người, tôi chẳng có tin” (Ga 20, 25). Cái bộc trực của thánh Tôma chắc Đức Giêsu và đồng bạn không lạ gì. Như trong Phúc-âm hôm nay, thánh Tôma nói thật và hỏi thẳng Đức Giêsu: “Thưa Thầy, chúng con không biết Thầy đi đâu, làm sao chúng con biết được đường?” (Ga 14, 5). May là trong dịp này, thánh Tôma có thêm đồng minh là thánh Philípphê. Thánh Philípphê nhảy vô yểm trợ đồng đội: “Thưa thầy, xin tỏ cho chúng con thấy Chúa Cha, như thế là chúng con mãn nguyện” (Ga 14, 8). Đi theo Chúa, tìm gặp Chúa, và nhận ra Chúa không dễ. Đó là cảm nghiệm của các thánh Tông-đồ. Nhưng khi ai đã nếm gặp hay cảm nghiệm thì không có thể chối bỏ mà phải tuyên xưng và làm chứng. Vậy Đức Giêsu Phục-sinh hiện giờ đang ở đâu? Phúc-âm hôm nay trả lời là ở chính trong tâm của mỗi chúng ta: “Thầy ở đâu, anh em cũng ở đó” (Ga 14, 3). Hay, chúng ta cũng có thể đổi lại câu ấy mà tạm suy ra là “anh em ở đâu, Thầy ở đó”. Cảm nghiệm này được một vị giám mục khác ghi nhận và chia sẻ gần bốn thể kỷ sau thời các thánh Tông-đồ. Thánh giám mục Âu-tinh (Augustine) trong Cuốn IV, Chương 12 trong Sách Tự Thuật (Confessions) đã chia sẻ cảm nghiệm gặp gỡ Đức Giêsu: Sự Sống đã đến trên chúng ta. Ngài đã lấy đi cái chết. Ngài đã đẩy gạt sự chết bằng chính sự sống tràn trề của Ngài. Trong tiếng sấm rền, Ngài kêu mời chúng ta về lại với Ngài. Trong thâm cung, Ngài đến với chúng ta. Trước hết, trong cung lòng của Đức Trinh-nữ, Ngài đã đính hôn với bản tính con người và trong thân xác loài người. Vì nếu không, thân phận con người sẽ luôn bị kiềm hãm của cái chết. Và rồi từ đó, Ngài xuất hiện ‘như tân lang rời khỏi loan phòng’ và ‘lên đường như tráng sĩ’ (Tv 19, 6). Ngài không chần chừ, nhưng Ngài chạy và loan báo qua lời và hành động, qua cái chết và cái sống, qua việc giáng và việc thăng, để mời chúng ta quay về với Ngài. Và, Ngài đã vượt qua khỏi tầm mắt chúng ta, để rồi chúng ta hãy hướng về cái tâm của mỗi người và tìm gặp Ngài ở đó. Ngài đã đi, nhưng không, Ngài đang ở. Có thể qua lời tự thuật của thánh Augustine, chúng ta có thể hiểu phần nào câu: “Thầy ở đâu, anh em cũng ở đó.” Hãy mở lòng để tìm gặp Ngài ngay trong tâm của mỗi chúng ta. Lm. Lê Anh Lân, S.J

Người Chăn Chiên Giả

Trong sinh hoạt hằng ngày, chúng ta được hướng dẫn qua các bảng hiệu hoặc bảng hướng dẫn trên các con đường, nhà hàng, và nơi công cộng. Những biển báo có những hình ảnh, kích thước, và có ý nghĩa khác nhau. Tuy nhiên, một biển báo mà hầu hết chúng ta đặc biệt quan tâm là, dấu hiệu cảnh báo, giúp chúng ta biết được những gì đang xảy ra hoặc có thể xảy ra ở phía trước. Ví dụ, như công nhân đang làm việc tại một cao tốc, đoạn đường trơn trượt, đường quanh co, hoặc một con nai có thể xuất hiện bất bất kỳ lúc nào ở phía trước, và những vật thể khác. Những cảnh báo như thế nhắc nhở chúng ta giảm tốc độ để bảo đảm an toàn cho bản thân cũng như người khác. Không chỉ có vậy, nếu chúng ta đọc Kinh thánh, chúng ta cũng sẽ nhận ra nhiều dấu chỉ liên quan đến các biển cảnh báo trong Lời Chúa. Một trong những dấu hiệu mà chúng ta không thể bỏ lơ là cảnh báo liên quan đến những tiên tri giả tạo, hướng dẫn đoàn chiên đi theo kế hoạch, chương trình, hoặc mục đích của riêng họ. Chúng ta cũng đã từng nghe hoặc thấy điều đó xảy ra trong trong suốt lịch sử của Giáo hội. Những cá nhân luôn tuyên xưng đức tin, trung thành, và yêu thương Thiên Chúa và Giáo hội nhưng lại có những hành động và giảng thuyết đi ngược lại với Thiên Chúa và Giáo hội. Trong Bài tin mừng hôm nay, Đức Giêsu mô tả người chăn chiên giả dối, người tiếp cận đàn chiên với mục đích mưu tìm quyền lợi cá nhân qua nhiều phương thức khác nhau. Chúng đi lẻn vào đàn chiên để thao túng, lừa dối, chia rẽ, thống trị, và làm hoang mang một tập thể hoặc cộng đồng theo cách họ muốn. Nói một cách khác, người chăn chiên giả dối không làm theo những điều Thiên Chúa truyền dạy. Ngày nay, người chăn chiên giả dối cũng đang dùng nhiều phương cách khác nhau để đánh lừa mọi người đi theo con đường họ muốn. Họ dùng tất cả các hệ thống truyền thông đầy hấp dẫn để quyến rũ mọi thành phần. Đôi khi chúng ta khó mà cưỡng lại được. Chúng trở thành một phần của cuộc sống, và chúng ta không còn nhận ra giá trị của một con người mà Thiên Chúa đã tạo nê Chúa Giêsu, người chăn chiên tốt lành, không trừng phạt và bỏ rơi đàn chiên ngay cả khi chúng ta bỏ rơi ngài! Ngài đến trong thế gian không vì mục đích để được tôn vinh nhưng để nhân loại được cứu rỗi; để chúng ta được kết hợp với Thiên Chúa và tha nhân. Vì thế, chúng ta phải nhận biết và đi theo người chăn chiên nhân từ. Qua Cây Thập Giá Đức Giêsu cho chúng ta thấy Ngài thực sự là người chăn chiên tốt lành, Ngài hy sinh để chúng ta được sống. Biển báo hiệu đường bộ rất quan trọng vì nó sẽ giúp chúng ta biết về các hoạt động đang xảy ra ở phía trước, tránh những thương vong không cần thiết có thể xảy ra. Cây Thánh Giá là nơi Chúa Giêsu mang lại sự sống muôn đời cho nhân loại. Qua Cây Thánh giá Chúa Giêsu phục sinh và mang lại vinh quang muôn đời cho chúng ta. Chúng ta hãy cầu nguyện để đi theo tiếng gọi và sự hướng dẫn của Ngài qua mọi biến cố của cuộc đời. Lm. Lê Hồng Thái 

Ngày 30 tháng 4: Vết Thương Chưa Lành Tìm Nhân Chứng Hy Vọng

Theo quan điểm một số người, ngày 30 tháng 4 là ngày chấm dứt cuộc chiến tương tàn của người Việt hai miền nam bắc và là ngày thống nhất đất nước. Tuy nhiên, đối với một số người khác thì ngày 30 tháng 4 lại là một ngày tang tóc, ngày quốc hận! Đối với những người này, cuộc chiến để đấu tranh cho tự do và nhân quyền của người dân Việt vẫn cần phải được tiếp diễn. Nhất là trong thời điểm này, khi mà người dân cả nước đang hoang mang lo sợ mất đi cơ đồ dân tộc vào tay người ngoại bang phương bắc mạnh hơn cả ngàn lần. Tuy nhiên những người trẻ đã và còn đang lớn lên ở hải ngoại, nơi môi trường chúng ta đang sống, họ có cảm tưởng gì với tâm nguyện như thế nào? Họ bảo rằng: đừng ủ rũ âu sầu nhắc mãi về quá khứ, nhưng hãy rút lấy bài học cho tương lại, cùng mang theo hành trang mình đang có và bắt tay nhau làm việc. Họ bảo, không có ngày 30 tháng 4 ấy, làm sao có tôi trên đất nước này, làm sao có anh chị em, có bạn bè và con cháu được tham gia vào chính trường nơi đây, hay được xuất thân từ những trường đại học danh tiếng thế giới, và có nhiều cơ hội để phát triển khả năng bản thân, và có tiếng nói của người dân Việt ở mọi nơi, khắp các châu lục trên thế giới. Như một hệ quả đương nhiên của ngày 30 tháng 4 ấy, hãy thử nhìn vào bản thống kê năm 2014 về sĩ số dân Việt ở khắp các châu lục mà xem. Sau biến cố 30 tháng 4 năm ấy, số người Việt bỏ nước ra đi đến sinh sống ở hải ngoại đã lên đến hơn 4 triệu người! Đông nhất tại Mỹ gần 1 triệu 800 ngàn người; kế đến tại Úc Châu khoảng 325.000; Pháp: 300.000 Canada: 270.000; Đài Loan: 200.000; Đức Quốc 140.000; Nam Hàn: 120.000; Nhật Bản 42.000 và còn rất nhiều quốc gia khác có sự hiện diện của người dân Việt Nam. Theo các trình thuật trong sách Công Vụ Các Tông Đồ và sách Tin Mừng của ông, tác giả Luca như có ý muốn nói rằng: chính biến cố tang thương mà các tín hữu của Chúa bị bách hại tại Jerusalem sau cái chết của Stephano, đã khiến họ phải di tản khắp các nơi. Nhưng cũng chính nhờ thế, Tin Mừng đã được loan truyền khắp nơi, cùng với sự hình thành các cộng đoàn tín hữu tại các thành phố lớn rải rác khắp đế quốc, cũng như chính tại Rôma, thành đô của đế quốc. Câu chuyện Phúc Âm hôm nay kể rằng vào buổi chiều tối khi sắp kết thúc ngày đầu tuần, ngày mà hai môn đệ nọ đã nghe vài sự  lạ sảy ra, làm họ bỡ ngỡ nhưng không tin. Họ còn đang bối rối thì gặp một vị khách trên đường. Vị khách ấy đã lý giải cho họ về những sự lạ họ còn đang thắc mắc theo các dẫn chứng bằng Lời Chúa trong Thánh Kinh. Các dẫn chứng này diễn giải cho họ hiểu ra về kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa: Lòng họ cảm thấy rực cháy, một niềm hy vọng cùng với sức sống mới của lòng tin đã bắt đầu khởi phát ngay trong tâm tư lòng dạ họ. Thì ra tất cả những gì đã sảy ra, không phải chỉ là vì do sự hiềm khích, ganh ghét, hay ác ý của con người, mà là còn nằm trong kế hoạch cứu độ đã được dự liệu của Thiên Chúa. Thiên Chúa đã dùng ngay cả sự yếu đuối của con người để xoay chuyển và đưa vào trong kế hoạch tình thương của Thiên Chúa. Có lẽ chúng ta tiếc vì Luca đã làm chúng ta mất hứng khi kết thúc câu chuyện không phải là bằng chứng hùng hồn về cuộc gặp gỡ Đức Kitô với sự nhận diện đầy phấn khới của hai người môn đệ trên đường Emmau, mà chỉ là sự xác nhận đầy lòng tin của các môn đệ khác vào kiểm nhận của Phê-rô, người được Luca xem là người đứng đầu Nhóm 12, nhóm Nồng Cốt của Đức Ki-tô. Những gợi ý trên đây nói với chúng ta hôm nay về điều gì? Phải chăng nhắc chúng ta thái độ cần phải có trước sự kiểm chứng và xác nhận của các vị bề trên, các mục tử sống cận kề ngay bên chúng ta. Tất cả đều kêu gọi chúng ta mạnh dạn dấn thân, và cương quyết lên đường để làm chứng nhân tin mừng đem niềm tin yêu và hy vọng đến trong một xã hội đa dạng, đầy nhiễu nhương với những thách đố của ngày hôm nay. – Lm. Giuse Hoàng Tiến Đoàn, S.J.

Gặp Gỡ Đức Kitô Phục Sinh

Trong suốt tuần Bát Nhật, từ đêm vọng Phục sinh tới hôm nay, Chúa nhật 2 Phục sinh, các bài đọc đã trình bày cho ta nhiều lần Đức Kitô phục sinh hiện ra. Từ những lần thấy Đức Kitô phục sinh hiện ra ấy, các môn đệ đã có những cảm nghiệm sau đây: Cảm nghiệm đầu tiên là, Đức Kitô đồng hành với họ trên mọi nẻo đường. Đức Kitô phục sinh không còn bị giới hạn trong không gian. Người có thể cùng lúc xuất hiện ở nhiều nơi khác nhau. Người xuất hiện trong vườn, gần mồ chôn Người. Người xuất hiện bên bờ hồ, nơi các môn đệ đang chài lưới. Người xuất hiện ở làng Emmau, cách Giêrusalem một quãng đường dài. Người xuất hiện trong phòng đóng kín cửa, nơi các môn đệ tụ họp. Sau này, Người còn xuất hiện ở mãi tận Damas, bên nước Syrira, nơi Phaolô lùng bắt người theo đạo. Không gian xa xôi không làm chậm bước Ngài. Không gian khép kín không ngăn được bước Ngài. Đức Kitô phục sinh ra khỏi mồ có mặt trên mọi nẻo đường của cuộc sống. Đức Kitô phục sinh cũng không bị giới hạn trong thời gian. Người xuất hiện với Maria khi trời còn đẫm sương khuya. Người xuất hiện bên bờ hồ với các môn đệ khi bình minh vừa ló rạng. Người xuất hiện trong phòng tiệc ly ngay giữa ban ngày. Người xuất hiện ở Emmau khi trời sụp tối. Trong mọi lúc của cuộc đời, Đức Kitô luôn có mặt. Không có thời gian nào Người không ở bên ta. Đức Kitô phục sinh không còn bị giới hạn, trong một cảnh ngộ cuộc sống nhất định. Trong vườn, Người xuất hiện như người làm vườn. Bên những người chài lưới, Người xuất hiện như một bạn chài chuyên nghiệp, rành rẽ đường đi của đàn cá. Trên đường Emmau, Người xuất hiện như một khách hành hương, đồng hành với hai linh hồn buồn bã, e ngại đường xa. Người xuất hiện để khích lệ các môn đệ đang lo buồn sợ hãi. Người xuất hiện để soi chiếu niềm nghi ngờ tăm tối của Tôma. Cảm nghiệm thứ hai là, Đức Kitô phục sinh khơi dậy niềm bình an, tin tưởng. Biết các môn đệ đang buồn sầu, bối rối, bấn loạn sau cái chết của Thầy, Đức Kitô phục sinh mỗi lần hiện ra, đều chúc các ông: “Bình an cho các con”. Người còn thổi hơi vào các ông và nói: “Các con hãy nhận lấy Thánh Thần”. Cử chỉ thổi hơi nhắc cho ta nhớ lại việc sáng tạo. Khi ấy vũ trụ còn là một khối hỗn mang, vô định hình. Rồi Thần Linh Chúa bay là là trên mặt nước. Nhờ đó mọi vật dần dần có hình hài vóc dáng, đi vào trật tự, ổn định. Sau cuộc khổ nạn của Đức Kitô, tâm hồn các môn đệ cũng tan nát như một khối hỗn mang, vô định hình. Đức Kitô thổi hơi ban Thánh Thần trong một tạo dựng mới, đem lại trật tự ổn định, uốn nắn các môn đệ thành những con người mới, tràn đầy bình an của Chúa Thánh Thần. Sau khi gặp Đức Kitô phục sinh, Maria buồn bã trở nên vui tươi, hai môn đệ Emmau u sầu tuyệt vọng trở nên phấn khởi, các môn đệ chài lưới mệt mỏi rã rời được hồi phục sức lực, các môn đệ sợ sệt bối rối ẩn núp trong phòng được bình an, Tôma nghi nan bối rối được vững niềm tin mến. Đức Kitô phục sinh chính là niềm bình an cho các ông. Cảm nghiệm thứ ba, cũng là cảm nghiệm quan trọng nhất, Đức Giêsu phục sinh làm cho cuộc đời có ý nghĩa. Sau khi Đức Kitô bị hành hình, cả một bầu trời sụp đổ. Các môn đệ tuyệt vọng. Họ sống trong lo sợ, buồn bã, chán chường. Không, họ không còn sống nữa vì cuộc đời đối với họ chẳng còn ý nghĩa gì. Họ như đã chết với Thầy. Chỉ còn nỗi lo sợ, nỗi buồn, niềm tuyệt vọng sống trong họ thôi. Đức Kitô là linh hồn của họ. Linh hồn đã ra đi. Xác sống sao được. Khi Đức Kitô phục sinh trở lại, những xác chết bỗng hồi sinh, những bộ xương khô bỗng chỗi dậy, mặc lấy da thịt, trở lại kiếp người, những trái tim nguội lạnh trở lại nhịp đập, ánh mắt nụ cười lại rạng rỡ tươi vui, vì cuộc sống từ nay có một linh hồn, cuộc sống từ nay có một ý nghĩa. Cảm nghiệm cuối cùng là, Đức Kitô phục sinh sai họ đi loan báo Tin Mừng Phục sinh. Đức Giêsu Phục sinh đã biến đổi toàn bộ cuộc đời các môn đệ. Đức Kitô phục sinh là Tin Mừng lớn lao trọng đại đem lại ý nghĩa cho cuộc đời. Nên các môn đệ không thể không loan báo Tin Mừng lớn lao đó. Maria lập tức chạy về loan tin cho các môn đệ, mời Phêrô và Gioan đến xem ngôi mộ trống. Hai môn đệ Emmau lập tức trở về Giêrusalem bât chấp trời đã tối đen. Phêrô chạy bay ra mồ dù còn sáng sớm và còn bị nỗi sợ người Do Thái ám ảnh. Và sau này, Phaolô, sau khi ngã ngựa, đã trở thành một người loan báo Tin Mừng không biết mệt mỏi. Hôm nay chính Đức Kitô Phục Sinh nói với các ông: “Như Cha đã sai Thầy, Thầy cũng sai các con”. Tất cả những người đã thấy Đức Giêsu Phục Sinh đều trở thành những sứ giả loan báo Tin Mừng Phục Sinh. Tất cả các môn đệ đều đã lấy máu mình mà làm chứng cho lời rao giảng. Vì Đức Kitô phục sinh là một Tin Mừng không thể không chia sẻ. Vì … [Read more…]

Ngôi Mộ Trống

Hỡi Maria, hãy nói cho chúng tôi nghe bà đã thấy gì trên quãng đường đi? (Ca Tiếp Liên)  Phêrô và Gioan chạy ra mộ. Họ chạy đến ngôi mộ mở sẵn. Giờ đây họ đối diện với sự vĩ đại của biến cố. Và, Gioan đã thấy. Ông đã thấy và ông đã tin. Gioan thấy. Nhưng ông thấy gì? Chẳng thấy gì hết. Tuy vậy điều ông thấy đã dẫn ông tới chỗ tin. Ta hãy nghiêng mình xuống như Gioan. Ta thấy gì? Một hố sâu thăm thẳm, đầy màu trắng. Một sự trống rỗng mênh mông dâng đầy mầm sống. Cờ tang khăn tang chuyển biến thành y phục ánh sáng. Một sự vắng mặt vang dội sự có mặt. Một sự im lặng của nấm mồ nói nhiều hơn mọi bài diễn văn. Một bức tường mà ta chỉ thấy phần bị khoét lỗ. Một cái chết có bộ mặt một cuộc giáng sinh. Một mầu nhiệm mà ta khám phá ra bí mật. Ai đã tạo ra ngôi mộ trống. Ngôi mộ đâu có trống – vì Gioan đã thấy chân dung thực sự của Đức Giêsu bạn Ngài. Ngôi mộ không trống, không sâu, không câm nín, không vương mùi chết chóc. Ngôi mộ nói. Hôm nay nó còn nói với ta. Vì sự vắng mặt này, lớn như một nấm mồ, chính là sự hiện diện vĩ đại như một phép lạ. Với con người hiện đại, chết là hết. Chết rồi chẳng còn gì. Chẳng còn gì ngoài đêm tối. Chẳng còn gì ngoài trống rỗng và hư vô. Cái chết chôn kín đời ta. Nhưng ở đây cái chết mở ra. Ngôi mộ của Người đã mở ra. Mở ra một mầu nhiệm lớn lao. Một mầu nhiệm loan báo sự sống. Mầu nhiệm mang tên của Đấng Phục sinh. Ngôi mộ này đã mở lòng trí ta. Hãy mở hồn ra với đức tin về sự sống đời này và sự sống lại hôm nay. Đức Giêsu đã vượt qua bức tường sự chết, đã nâng phiến đá che mộ, đã hoàn tất Phục sinh đã được báo trước. Anh chị em thân mến, trong thế giới ngày nay và hơn bao giờ hết, chúng ta hãy loan báo cho mọi người chung quanh như Maria trong Ca Tiếp Liên: Tôi đã thấy mồ Đức Kitô đang sống, thấy các thiên thần làm chứng, thấy khăn liệm và y phục…Đức Kitô là hy vọng của tôi đã phục sinh. Lạy Chúa, cuộc sống hiện tại này làm cho chúng con phải chạm trán với bao nhiêu thách đố đức tin mịt mù duờng như đêm tối. Xin cho chúng con ơn sức mạnh can đảm để chiến đấu và vững dạ cậy trông, để trong bóng tối của Bảy Mối Tội Đầu, chúng con tìm lại được ánh sáng ngọn Nến Phục Sinh chiếu soi trong tâm hồn. Lạy Chúa, Vua chiến thắng, xin thương xót chúng con. Amen. Alleluia.