Chúa Nhật Lễ Lá

Hôm nay toàn thể Giáo Hội tưởng niệm Chúa Kitô vào Thành Giêrusalem để hoàn tất mầu nhiệm vượt qua của Ngài, và phụng vụ dẫn đưa chúng ta vào Tuần Thánh. Tuần Thánh hôm nay nhằm chuẩn bị tâm hồn cho các tín hữu, giúp chúng ta tham dự tích cực vào việc tưởng niệm cuộc khổ nạn của Chúa Giêsu để cùng hiệp thông với Người sống mầu nhiệm Thập Giá trong cuộc đời. Trình thuật về cuộc thương khó của Chúa Giêsu, giúp cho mỗi người chúng ta theo chân Chúa Giêsu từ phòng tiệc ly đến chân Thánh Giá. Trong biến cố này, có sự phản bội của Giuđa, sự hận thù ghen ghét của các kỳ mục Do Thái, sự thay lòng đổi dạ của quần chúng đám đông. Nhưng trên hết mọi sự, đó là sự vâng phục của Chúa Giêsu đối với thánh ý của Chúa Cha. Đấng đã yêu thương thế gian đến cùng. Thánh Giá là trung tâm điểm của mỗi một người chúng ta, các tín hữu được mời gọi nhìn lên Thập Giá để cảm nhận được lòng thương xót của Chúa. Thập Giá là một mầu nhiệm mà trí khôn loài người không thể nào suy thấu hết. Bởi vì làm thế nào để chúng ta hiểu được sự kiện một Thiên Chúa đầy quyền năng lại chấp nhận chịu bắt bớ, hy sinh và cuối cùng chịu chết một cách nhục nhã trên cây Thánh Giá? Chỉ có một câu trả lời duy nhất và ngắn gọn, đó là vì lòng thương xót của Chúa, và cũng chỉ vì lòng xót thương mới dẫn đưa Chúa Giêsu chấp nhận đau khổ và chết trên Thập Giá. Chuẩn bị bước vào Tuần Thánh, Giáo Hội mời gọi mỗi người chúng ta hãy cùng bước theo Đức Giêsu trên con đường Thập Giá, chúng ta không chỉ theo Chúa khi gặp may mắn, thành công, bình an, nhưng dám chấp nhận theo Chúa ngay cả những khi bị bỏ rơi, khước từ, đau khổ, thất bại. Bước theo Chúa không phải là con đường hoàn toàn bình an, hạnh phúc mà là một con đường chọn lựa quyết liệt giữa những quyến rũ của vật chất, đam mê, hưởng thụ, danh vọng, quyền lực để đặt Thiên Chúa là giá trị tuyệt đối, là hạnh phúc viên mãn của đời mình. Đi theo Chúa Giêsu trên con đường Thập Giá là đi ngược lại dòng đời, ngược lại với những trào lưu chạy theo sự dễ dãi, giả dối, ích kỹ, hận thù, bạo lực để dám sống từ bỏ, hy sinh, yêu thương, bao dung mà Tin Mừng của Chúa Giêsu đã mời gọi chúng ta. Thập Giá cũng mời gọi chúng ta noi gương Chúa Giêsu, phó thác hoàn toàn nơi Thiên Chúa quyền năng và nhân hậu, để Ngài hướng dẫn cuộc đời chúng ta trên mọi nẻo đường của cuộc sống trần gian. Đó là niềm tín thác trọn vẹn của một người con nơi Cha mình, vì biết rằng bao giờ Cha cũng muốn những điều tốt lành cho con và làm mọi sự để cho con được sống vui và hạnh phúc. Lạy Chúa Giêsu, xin cho chúng con hăng hái bước vào Tuần Thánh, không phải chỉ bằng việc tham dự đầy đủ các lễ nghi, nhưng còn bằng việc thông dự thực sự vào những khổ đau của Chúa trên Thập Giá, để chúng con học được bài học yêu thương và vâng phục mà đem ra thực hành suốt cả cuộc đời chúng con. Xin cho chúng con đừng ngơi nghĩ, bao lâu còn đóng đinh với Chúa trên Thập Giá. Amen Phó tế FX. Nguyễn Lộc

Sống lâu hay sống mãi?

Chuyện Tôn Ngộ Không lẻn vào vườn đào của Tây Vương Mẫu, ăn quả đào tiên để sống lâu ngàn tuổi, nghe qua thấy ngộ nghĩnh như chuyện trẻ con, nhưng thật ra lại ẩn tàng một ước vọng thâm sâu của loài người. Không phải chỉ có các vua chúa xưa kia mới bỏ công-của, mong tìm ra được thuốc tiên để sống trường sinh bất lão, mà ngay cả nhân loại thời nay! Thử nhìn vào những sinh hoạt và chi phí của chúng ta cho y khoa và dược khoa xem? Vì vậy, câu chuyện Lazaro được Chúa Giêsu cho sống lại đáng ra phải là một chấn động lớn trong giới truyền thông? Nhưng người Công giáo lại chỉ coi phép lạ này là một trong các phép lạ Chúa Giêsu đã làm, chứ không hề coi đây là trung tâm điểm của đời sống đức tin. Nhiều người sẽ tự hỏi tại sao? Trong bài Phúc Âm tuần này, thánh Gioan kể lại chuyện Chúa Giêsu đưa Lazaro từ cõi chết sống lại (Gioan 11.1-45).  Gioan kể rõ ràng các chi tiết để minh chứng rằng, Lazaro đã chết thật và sống lại cũng là thật.  Nhưng Gioan đã khéo léo lồng vào những yếu tố của một phép lạ khác còn vĩ đại hơn nhiều: Lazaro được cho sống lại ở đời này; và những ai tin vào Đức Kitô còn được cho sống lại và sống mãi ở đời sau. Trong tác phẩm “Cuộc xử án Giêsu”, tác giả thâm thuý mô tả phiên xử, với Lazaro cứ ngồi thừ ra (như người mất hồn). Quan toà và biện sư phải hỏi mấy lần, Lazaro mới giật mình trả lời cho qua chuyện. Những câu trả lời của Lazaro như chẳng thiết tha gì đến việc được trở lại cuộc đời này… Có phải là vì những ai đã từng được nếm thử nguồn hạnh phúc của đời sau sẽ còn chẳng còn thiết tha gì đến những bon chen và buồn vui sướng khổ của đời này? Theo Gioan kể lại, lúc đầu Martha có vẻ như không biết Chúa Giêsu có thể làm cho Lazaro sống lại ngay được; nhưng Martha lại tin quyền năng của Ngài có thể làm cho Lazaro được sống mãi ở cuộc sống đời sau. Và đây mới là trọng tâm câu chuyện mà Gioan sẽ tiếp tục dụng công kể lại trong sách của ngài. Mang một mình Lazaro trở lại đời này chỉ là chuyện nhỏ, nhưng mang hết mọi người vào cuộc sống đời sau mới là chuyện lớn của sứ vụ Đức Kitô. Sống lâu chỉ có nghĩa là “trường sinh”, sống mãi mới là “bất tử”; Và làm cho mọi người trở thành bất tử mới là phép lạ chấn động mà Chúa Giêsu phải vất vả thực hiện. Lm. Giuse Nguyễn Kim Đăng  

Mù và Sáng

“Tôi đến thế gian này chính là để xét xử; cho người không xem thấy được thấy, và kẻ xem thấy lại nên đui mù.” (Ga 9:39) Câu chuyện của anh chàng mù từ khi mới sinh trong Tin Mừng theo Thánh Gio-an chương 9 là một trong bảy “dấu chỉ” hay câu chuyện phép lạ. Như một dấu chỉ nó hướng tới mầu nhiệm quan trọng nhất của niềm tin: cái chết và sự phục sinh của Chúa Giê-su. Qua một tiến trình dài, người mù từ thưở mới sinh đã nhìn thấy về cả thể lý lẫn tâm linh, trong khi có những người dường như sáng mắt lại dần dần trở thành đui mù. Người mù trong Tin Mừng hôm nay quả thực là biểu tượng cho chúng ta khi chúng ta đang nỗ lực tinh luyện tầm nhìn tâm linh của mình. Trình thuật bắt đầu bằng thắc mắc của các môn đệ. Các ông hỏi Chúa anh chàng bị mù là do tội của anh ta hay của cha mẹ anh ta. Nên biết thời bấy giờ người ta tin rằng bệnh tật hay những điều không hay xẩy ra cho một ai đó là do tội của chính đương sự hay của những người liên hệ. Chúa Giê-su đã xóa tan ý tưởng đó trong đầu các môn đệ khi cho họ biết rằng anh ta bị mù là để cho việc làm của Thiên Chúa được tỏ hiện. Câu trả lời của Chúa quả thật đáng cho mỗi người chúng ta suy niệm và áp dụng trong đời thường mỗi lần chúng ta cảm thấy khó hiểu khi một sự việc xẩy ra cho chinh mình hay cho những người chung quanh. Rồi Chúa đã làm phép lạ chữa lành sự đui mù thể lý cho anh chàng mù như bước khởi đầu giúp anh nhìn thấy chân diện của người đã chữa anh. Khi người chung quanh hỏi, anh đã khẳng định cho họ biết rằng người cho anh được thấy chính là “người tên là Giê-su.” Khi những người Biệt phái lý luận rằng: “Ông ta không thể là người của Thiên Chúa được, vì không giữ ngày Sa-bát,” và họ hỏi anh chàng mù trước đây rằng anh nghĩ gì về người đã chữa anh. Anh trả lời: “Người là một vị ngôn sứ!” Sau khi gặp cha mẹ anh chàng trước đây bị mù và được xác minh rằng anh chính là con của họ, còn làm sao và ai đã chữa cho anh thì họ trả lời là không biết, người Biệt-phái lại gặp chính anh ta lần nữa với mục đích chính phục để anh ta công nhận rằng Chúa Giê-su là người tội lỗi. Anh phản đối và nói rằng Chúa Giê-su phải là người đến từ Thiên Chúa. Anh lý luận: “Nếu không phải là người bởi Thiên Chúa mà đến, thì ông ta chẳng làm được gì.” Cuối cùng sau khi đã bị những người Biệt-phái trục xuất và gặp lại Chúa Giê-su, Chúa đã mặc khải cho anh biết rằng Người chính là “Con Người” và hỏi anh có tin vào Con Người không. Anh đáp: “Thưa Ngài tôi tin” rồi sấp mình xuống trước mặt Chúa. Tiến trình người mù từ thưở mới sinh được chữa lành và nhìn thấy được cả thể lý lẫn tâm linh nhắc chúng ta nhớ rằng chúng ta cần ơn Chúa và mặc khải của Người để mài gũa thị giác tâm linh của chúng ta. Điều này được tỏ bày cách sống động qua câu chuyện của tiên tri Sa-mu-en trong bài đọc một. Lời Thiên Chúa nói với Sa-mu-en là lời đáng cho mỗi người chúng ta suy niệm: “Thiên Chúa không nhìn theo kiểu người phàm: người phàm chỉ thấy điều mắt thấy, còn Đức Chúa thì thấy tận đáy lòng.” Nếu chúng ta chỉ thấy những điều mắt thấy thì coi chừng chúng ta cũng sẽ rơi vào tình trạng đui mù như những người Biệt-phái. Họ nghĩ rằng họ biết rõ về Chúa Giê-su, về con người của Người nên bị Chúa quở trách: “Nhưng giờ đây các ông nói rằng ‘chúng tôi thấy,’ nên tội các ông vẫn còn.” Chúng ta hãy cầu xin Chúa mở mắt tâm hồn chúng ta. Xin ánh sáng của Chúa Giê-su soi dọi vào tâm hồn u tối của chúng ta để chúng ta có thể nhìn thấy Chúa, nhìn thấy vinh quang của một vị Thiên Chúa nhưng vì yêu thương đã chấp nhận khổ hình và chết thay cho chúng ta, vì tội lỗi của chúng ta. Trong những ngày còn lại của mùa chay thánh này xin Thiên Chúa giúp chúng ta nhìn thấy Chúa Giê-su rõ nét hơn, yêu mến Người thắm thiết hơn và theo bước chân Người sát gót hơn. Lm. Giuse Nguyễn Thuấn

Chúa Nhật 3 Mùa Chay

Bài Tin Mừng hôm nay tả lại toàn bộ khung cảnh xảy ra tại giếng nước Gia-cóp.  Đây là một trong những cảnh quan thơ mộng diễn tả về tình yêu con người, và có lẽ đây cũng là một trong những cảnh đẹp nhất trong Tin Mừng của Thánh Gioan.  Khung cảnh ấy còn cho chúng ta một ấn tượng khó quên về cách nói chuyện khéo léo và tinh tế của Chúa Giêsu khi Ngài nói chuyện với người phụ nữ lạ và đem đến cho cô niềm tin vào Đức Giêsu. Và khung cảnh ấy cũng cho chúng ta một ấn tượng khó quên khác về sứ mệnh của Giáo Hội là thờ phượng Thiên Chúa là Cha trong Thần Khí và sự thật. Trọng tâm của bài Tin Mừng trong toàn bộ chương 2-4 là để trả lời cho câu hỏi “Chúa Giêsu là ai” mà mọi người đến và tin vào Ngài. Như chúng ta đọc trong bài Tin Mừng, Chúa Giêsu hướng dẫn người phụ nữ tuyên xưng niềm tin của cô và cũng là đức tin của tổ tiên: “Tôi biết Đấng Mê-si-a, gọi là Đức Kitô; sẽ đến.  Khi Người đến, Người sẽ loan báo cho chúng tôi mọi sự”(Ga 4:25). Chúa Giêsu liền nói với cô, “Đấng ấy chính là tôi, người đang nói với chị” (Ga 4:26). Tin Chúa Giêsu là vị tiên tri vĩ đại, cô chia sẻ với người khác: “Đến mà xem: có một người đã nói với tôi tất cả những gì tôi đã làm. Ông ấy không phải là Đấng Kitô sao?” (Ga 4:29). Dân làng đến và mời Chúa Giêsu ở lại với họ.Và họ dần tin vào Chúa Giêsu vì lời của Ngài, và họ nói với người phụ nữ rằng, “Không còn phải vì lời chị kể mà chúng tôi tin.  Quả thật, chính chúng tôi đã nghe và biết rằng Người thật là Đấng cứu độ trần gian” (Ga 4:42). Đây chính là đức tin của một người trưởng thành.  Đức tin đó không còn là đức tin thông qua người khác, dựa vào hoàn cảnh hoặc theo thời mà đức tin có nền tảng vững chắc nơi Thiên Chúa, biết đặt trọn niềm tin và hy vọng vào Thiên Chúa Ba Ngôi Tình Yêu. Chúng ta là một cộng đồng đức tin cũng là một cộng đồng biết yêu thương và có lòng nhân ái.  Chúng ta đến với nhau để nói lên lòng khắc khoải luôn tìm về chân-thiện-mỹ, tìm về chính Đấng “tự bản thể vô cùng hoàn hảo và hạnh phúc, theo ý định hoàn toàn do lòng nhân hậu, đã tự ý tạo dựng con người, để họ được thông phần sự sống hạnh phúc của Ngài” (GLCG 1). Chúng ta đến với nhau với lòng khát khao luôn muốn học hỏi từng ngày cách yêu thương từ Thầy và Chúa của mình là Đức Giêsu Kitô là dung mạo và “là khuôn mặt của lòng thương xót Chúa Cha” vì “Chúa Giêsu thành Nagiarét, qua lời nói, hành động, và toàn bộ con người của Ngài đã thể hiện lòng thương xót của Thiên Chúa” (Misericordiae Vultus 1). Mùa chay năm nay là thời gian thuận tiện cho chúng ta nhìn lại chính mình.  Khi chúng ta được rửa tội, Thiên Chúa đã xác định chúng ta là ai. Thiên Chúa đã đích thân kêu gọi chúng ta, đã cho chúng ta tính cách và bản chất là con của Chúa, là môn đệ của Chúa Giêsu Kitô, là một Kitô hữu và là một Kitô khác cho mọi người. Hy vọng rằng, sau khi nhìn lại chính mình dưới ánh sáng của Lời Chúa, chúng ta biết tiếp tục “chiêm ngắm mầu nhiệm của lòng thương xót.  Đó là suối nguồn của niềm vui, sự thanh thản và bình an.” (MV 2); biết tiếp tục “dán mắt nhìn chăm chú hơn lòng thương xót để chúng ta có thể trở thành một dấu chỉ thuyết phục hơn cho tác động của Chúa Cha trong cuộc sống của chúng ta” (MV 3).

Ơn Gọi Biến Hình Đổi Dạng

Thứ Tư Lễ tro đã khai mạc Mùa Chay thánh. Nói tới Mùa Chay, hầu như chúng ta ai cũng có cái cảm giác là phải khép mình bước vào con đường khắc khổ, hy sinh, từ bỏ, một mùa “rất khó nhá”!  Đúng vậy, chính Chúa Giêsu đã nói cho các môn đệ đang theo Ngài:”Nếu ai muốn theo Ta, hãy từ bỏ mình, vác thập giá hằng ngày mà theo”(Mt 16,14). Ngoài ra, Ngài còn tiết lộ cho các ông: Ngài sẽ lên Giêrusalem, phải bị bắt, bị đánh đòn, bị giết chết và sau ba ngày sẽ sống lại. Đúng là một tin sét đánh! Các môn đệ cảm thấy bàng hoàng và sợ hãi cho tương lai. Các ông phải bước vào mùa Chay và mùa Thương khó! Nhưng tám ngày sau khi tiết lộ tin sét đánh ấy, Chúa Giêsu đã đem nhóm bộ ba là Phêrô, Giacôbê và Gioan lên núi cầu nguyện và Ngài đã biến hình sáng láng trước mắt các ông. Cảnh tượng này làm các ông hết sức ngạc nhiên và thích thú, đến nỗi Phêrô đề nghị với Chúa để dựng lều ở luôn trên núi không xuống nữa. Phải chăng Chúa Giêsu hé mở cho các ông thấy một chút vinh quang để mời gọi các ông đi vào con đường khổ giá mà Ngài sắp phải trải qua trong những ngày sắp tới? Mỗi người Kitô hữu chúng ta cũng phải đi theo con đường khổ giá của Chúa. Đi theo con đường khổ giá là phải từ bỏ mình và vác thập giá. Từ bỏ mình là phải thay hình đổi dạng, phải lột bỏ con người cũ xấu xa tội lỗi mà mặc lấy con người mới tốt lành thánh thiện hơn. Điều đó đòi hỏi một cuộc canh tân toàn diện. Cuộc canh tân này phải kéo dài và đòi hỏi chúng ta phải cố gắng liên miên, phải liều mình theo tiếng gọi của Chúa giống như tổ phụ Abraham xưa. Nhưng chắc chắn cuộc canh tân này sẽ dẫn ta đi tới đích mặc dầu phải trả một giá rất đắt vì “Per cruem ad lucem”, qua thập giá đến vinh quang. Sống ơn gọi làm Kitô hữu là chúng ta dấn thân làm một cuộc hành trình phiêu lưu gian khổ để theo Đức Kitô. Dấn thân gợi lên ý tưởng phải liều. Liều đây không có nghĩa là nhắm mắt theo một cách mù quáng, bất chấp tương lai, bất chấp hậu quả tốt xấu, nhưng liều một cách sáng suốt nghĩa là đặt trọn niềm tin vào những lời hứa của Chúa, Đấng hằng trung tín không lừa dối ai, Ngài kêu gọi chúng ta từ bỏ để phiêu lưu theo Ngài, cũng chỉ vì Ngài muốn đưa chúng ta trở về hạnh phúc thuở ban đầu. Cuộc hành trình theo Chúa này, đòi chúng ta phải “từ bỏ mình và vác thập giá hằng ngày”, nghĩa là phải lột bỏ con người xấu xa tội lỗi của mình để được trở nên đồng hình đồng dạng với Đức Kitô. Hay nói cách khác, chúng ta phải biến hình hằng ngày để có thể “nhật nhật tân, hựu nhật tân” theo khuôn mẫu của Đức Kitô.Đây chính làơn gọi biến hình đổi dạng của người Kitô hữu chúng ta.

Chúa Giêsu Chịu Cám Dỗ

Khởi đầu Mùa Chay, chúng ta suy niệm biến cố Chúa Giêsu “được Thần Khí dẫn vào hoang địa để chịu quỷ cám dỗ.”  Tên cám dỗ phát động cuộc tấn công Chúa Giêsu bằng ba con đường. Con đường thứ nhất, cám dỗ hoá đá thành bánh. Quỷ cám dỗ Chúa Giêsu sử dụng quyền năng Ngài cho chính Ngài. Nhưng Chúa Giêsu từ chối làm điều đó. Chúa trả lời kẻ cám dỗ “Người ta sống không chỉ nhờ cơm bánh, nhưng còn nhờ mọi lời miệng Thiên Chúa phán ra (Mt 4:4). Chỉ có một con đường làm thoả lòng người đó là con đường lệ thuộc hoàn toàn vào Thiên Chúa. Tên cám dỗ bố trí một cuộc tấn công khác. Quỷ đem Chúa Giêsu lên nóc Đền Thờ và đề nghị Ngài gieo mình từ nóc Đền Thờ xuống đất: “Nếu ông là Con Thiên Chúa thì gieo mình xuống đi! Vì có lời chép rằng: Thiên Chúa sẽ truyền cho thiên sứ lo cho bạn, và thiên sứ sẽ tay đỡ tay nâng, cho bạn khỏi vấp chân vào đá.” (Mt 4:6). Chúa Giêsu có thể làm được điều đó, nhưng Ngài không chấp nhận làm, vì không không phù hợp Thánh Ý Thiên Chúa, Ngài nói: “Ngươi chớ thử thách Chúa là Thiên Chúa ngươi” (Lc 4:12). Thử thách Chúa là hành động không đúng; lao mình vào chỗ nguy hiểm rồi trông chờ Chúa giải cứu là một việc sai lầm. Chúa đón nhận tâm tình của người liều mình để giữ lòng trung tín với Ngài, chứ không phải người liều mình để tự tăng thêm uy tín cho riêng mình. Tên cám dỗ thử đến phương kế tấn công thứ ba, quỷ gợi ý cho Chúa Giêsu một giải pháp khác là bái lạy nó: “Tôi sẽ cho ông tất cả những thứ đó, nếu ông sấp mình bái lạy tôi.” (Mt 4:9). Chúa Giêsu đáp: “Xatan, xéo đi!… Ngươi phải bái lạy Đức Chúa là Thiên Chúa của ngươi, và phải thờ phượng một mình Người mà thôi.” (Mt 4:11). Chúa Giêsu đã khẳng định là chúng ta không thể đánh bại sự ác bằng cách thoả hiệp với điều ác. Kitô giáo không thể khom xuống ngang với tiêu chuẩn thế gian. Ngài quyết định không có khoan nhượng trong sứ điệp Ngài giảng và trong đức tin Ngài đòi hỏi. Kết luận, lo lắng là chuyện đương nhiên phải có trong cuộc sống. Nhưng câu hỏi được đặt ra hôm nay là “cái ý nghĩa và mục đích của sự lo lắng đó là gì?” Lo lắng đem lại hạnh phúc ấm no cho kẻ khác là hạnh phúc. Lo lắng để làm giàu cho bản thân là nghiệt ngã. Nếu bạn quá lo lắng cho bản thân mình ngày mai, thì hiện tại bạn đang thiếu bình an. “Chúng ta sẽ ăn gì, uống gì, hoặc sẽ lấy gì mà mặc?… Nhưng Cha các con biết rõ các con cần đến những điều đó. Tiên vàn các con hãy tìm kiếm nước Thiên Chúa và sự công chính của Người.” Chúa Giêsu đã chọn cho Ngài con đường vâng phục Chúa Cha, con đường hy sinh, con đường thập giá “Lương thực của Thầy là thi hành ý muốn của Đấng đã sai Thầy, và hoàn tất công trình của Người.” (Ga 4: 34). Đó cũng là con đường của người Kitô hữu trước mọi cám dỗ. Đường thập giá là đường chiến thắng. Chúa Giêsu, tuy là Thiên Chúa, nhưng Ngài đã mang lấy phận người để chia sẻ những nỗi niềm khắc khoải trong cảnh đời chịu cám dỗ của chúng ta, để cảm thông, chia sẻ, vực ta đứng dậy bằng tình thương và chiến thắng của Ngài. Xin Chúa nâng đỡ, cứu giúp chúng con trong mọi cơn cám dỗ, thử thách. Nguyện xin Đức Trinh Nữ Maria, Mẹ Hằng Cứu Giúp, đồng hành và trợ giúp chúng con chiến thắng cơn cám đỗ mà trung tín cùng Chúa qua con đường thập giá với Chúa. Amen.

Đâu Là Chất Lượng Của Cuộc Sống Con Người?

Điểm nhấn của Tin Mừng hôm nay là chớ lo lắng thái quá về những nhu cầu sinh nhai thường ngày mà hãy chú tâm hơn vào việc tìm kiếm nước trời và sự công chính của Thiên Chúa. Đối với những người có đầu óc thực tế, thì Lời Chúa luôn luôn quá lý tưởng hoặc nói cách khác “khó nhai.” Lo lắng là điều không thể thiếu trong cuộc sống con người mỗi ngày. Học sinh thì lo lắng cho thi cử. Công nhân thì lo lắng sợ thất nghiệp. Người già thì lo lắng bị cúp tiền già. Người trẻ thì lo lắng sợ già. Người già thì lo lắng sợ chết. Lo âu, lo lắng, lo sợ và những cái lo khác không thể tách rời khỏi tâm trí con người vì đó là cuộc sống, là thực tế và là số phận con người. Nói như vậy, Chúa Giêsu có phải là một con người thực tế không? Chúa không chỉ đi sát với thực tế mà Ngài còn rất tâm lý khi đưa ra giáo lý hôm nay. Lời Ngài hôm nay không có nghĩa là chúng ta phớt lờ bỏ mặc tương lai, nhưng chính là một lời khuyên nhủ giúp chúng ta phải luôn ý thức về những lý tưởng, giá trị và mục đích mình đang theo đuổi hằng ngày. Nói một cách khác, con người đang tự phức tạp hóa cuộc sống của mình mỗi ngày qua những lý tưởng và ước muốn mà mình không rõ mục đích. Muốn có thật nhiều thứ thì cần phải có tiền. Muốn có thật nhiều tiền thì cần phải biết lo. Sống càng ngày càng lo rồi cuối cùng lại vẫn thế. Chúng ta làm nhiều mà hưởng chẳng được bao nhiêu. Cuộc sống chỉ còn có số lượng hơn là chất lượng. Có khi cuộc sống của những con thú hoang ngoài đồng lại có chất lượng hơn của con người vì chúng có được những khoảnh khắc an bình thong dong giữa đất trời thiên nhiên. Còn con người lúc nào cũng bù đầu bận rộn và bị trói buộc bởi cell-phone, internet và những tính toán. Kết luận, lo lắng là chuyện đương nhiên phải có trong cuộc sống. Nhưng câu hỏi được đặt ra hôm nay là “cái ý nghĩa và mục đích của sự lo lắng đó là gì?” Lo lắng đem lại hạnh phúc ấm no cho kẻ khác là hạnh phúc. Lo lắng để làm giàu cho bản thân là nghiệt ngã. Nếu bạn quá lo lắng cho bản thân mình ngày mai, thì hiện tại bạn đang thiếu bình an. “Chúng ta sẽ ăn gì, uống gì, hoặc sẽ lấy gì mà mặc?… Nhưng Cha các con biết rõ các con cần đến những điều đó. Tiên vàn các con hãy tìm kiếm nước Thiên Chúa và sự công chính của Người.”

Lời Chúa: Nói Dễ Khó Làm

Chỉ trong khoảng 100 ngày từ ngày 6 tháng 4 cho đến 16 tháng 7 năm 1994, có từ 500,000 đến 1,000,000 người Rwanda đã bị hãm hiếp và giết chết bởi nạn diệt chủng (Genocide) giữa hai bộ lạc Hutu và Tutsi. Đa số nạn nhân là thuộc bộ lạc Tutsi. Từ ngữ “genocide” (diệt chủng) được đặt ra bởi một luật sư người Ba-Lan gốc Do Thái, Raphael Lemkin, sau Đệ Nhị Thế Chiến. Genocide là một từ ghép của tiếng Hy-Lạp geno (chủng tộc) và cide (giết chết, hủy diệt). Liên Hiệp Quốc định nghĩa “diệt chủng” là những hành động có chủ mưu nhắm đến sự hủy diệt toàn diện hay một phần của một dân tộc, chủng tộc, sắc dân hay một nhóm tôn giáo (https://www.ushmm.org/confront-genocide/defining-genocide). Hai mươi năm sau, 2014, tôi có dịp đến tận nơi để chứng kiến và học hỏi thêm về sự kiện này tại Trung Tâm Tưởng Niệm Kigali. Có một chuyện rất đau lòng còn ghi lại về một vị Linh mục thuộc sắc tộc Hutu đã tham gia vào cuộc diệt chủng tàn sát hầu hết các giáo dân thuộc sắc tộc Tutsi. Thay vì là nơi ẩn náu an toàn cho giáo dân, nhà thờ đã bị biến thành holocaust bởi giáo sĩ. Bước ra khỏi Trung Tâm, tôi như bị choáng váng và căng thẳng trước những tội ác quá khủng khiếp do chính con người gây ra cho đồng loại và sự vô cảm của lương tâm con người.  Đến một điểm nghỉ chân, tôi hỏi người Linh mục bạn Tutsi đi cùng: “Cha có thật sự tha thứ cho những người đã sát hại gia đình cha không?”  Cha bạn không trả lời trực tiếp câu hỏi, nhưng chuyển hướng nói chung chung “Tôi không có vấn đề gì đối với con cháu của họ.” Đến nay, đề tài này vẫn còn là điều hết sức tế nhị và nhạy cảm trong lòng của mỗi người dân Rwanda. Mọi sự đã lắng xuống sau 20 năm, nhưng vết thương lòng của cả đất nước Rwanda vẫn còn đó. Mọi người có vẻ cố quên đi quá khứ, nhưng hiện tại họ vẫn sống với tiếc thương ngậm ngùi vì cứ mỗi gia đình đều có ít nhất một hoặc hai là nạn và cũng một hoặc hơn là sát nhân. Và cả hai sắc tộc nạn nhân và sát nhân vẫn sống vai kề vai mỗi ngày. Nếu tôi là Linh mục thuộc người Tutsi, tôi sẽ chia sẻ bài Tin Mừng hôm nay với giáo dân như thế nào đây? Ngược lại, những người giáo dân người Hutu sẽ đón nhận Tin Mừng trong tâm trạng nào đây? Tha thứ kẻ thù thôi đã là khó khăn rồi huống chi là yêu thương. Nhưng có yêu thương thật sự thì kẻ thù mới được tha thứ. Quả thật, Lời Chúa là một chân lý quá lý tưởng – nói dễ khó làm – mà người thường khó có thể với tới, nhưng cũng có người đã với được điển hình là các thánh. Nghĩ cho cùng, Chúa Giêsu cũng chỉ muốn chúng ta yêu thương nhau hơn để trải nghiệm được phần nào về thiên đàng nơi hạ giới. Nơi đâu có yêu thương và an bình là nơi đó chính là thiên đàng. Trái lại, nơi nào có ganh ghét thù hằn là nơi đó có hỏa ngục vì hỏa ngục tự chính nó là thù hằn ganh ghét nhau. Mục sư Martin Luther King Jr. có một câu nói rất thú vị: Yêu thương là động lực duy nhất có khả năng biến đổi kẻ thù thành bạn (Love is the only force capable of transforming an enemy into a friend). Tin nhắn nhỏ: Quý độc giả và giáo dân xa gần thân mến, tôi rất lấy làm vinh dự được phục vụ các bạn trong phần chia sẻ Lời Chúa mỗi tuần hơn suốt ba năm qua. Vừa là tình cờ và là cơ duyên nào đó chúng ta được kết nối qua tờ Nối Kết hằng tuần. Chúng ta hãy cùng tạ ơn Thiên Chúa, cảm ơn nhau và tri ân những người hy sinh âm thầm đưa tin. Vì lý do mục vụ, tôi rất tiếc không thể tiếp tục, nhưng thay vào đó sẽ là những nguồn tư tưởng phong phú mới lạ đến từ quý Cha và Cộng đồng dân Chúa bắt đầu vào Chúa Nhật đầu mùa Chay này. Tôi xin gởi lời cảm ơn, lời chào tạm biệt và xin các bạn cầu nguyện nhiều cho tôi. Nguyện xin Thiên Chúa luôn chúc lành xuống trên bạn và gia đình.

Cuộc Vật Lộn Liên Lỉ

Còn Ta, Ta bảo các con” là cách nhấn mạnh của Chúa về cấu trúc hình thành của tội lỗi. Tội lỗi không chỉ được hình thành bởi hành động mà còn bởi ngay trong chính tư tưởng từ lòng dạ bất lương. Trên thực tế, tội lỗi luôn bắt nguồn ngay từ trong lòng và tư tưởng trước khi đi đến hành động. Ví dụ: Kẻ giết người phải có lòng dạ thù ghét ai trước khi hắn ra tay. Kẻ có tư tưởng tà dâm thì mới xảy ra những chuyện dan díu lôi thôi. Kẻ đã có quyết tâm lường gạt bất lương rồi hắn sẽ dùng mọi phương tiện để đạt được mục đích. Hành vi chỉ là sự biểu hiện của chủ ý. Bởi thế, Lời Chúa đã khuyến cáo chúng ta phải chặn đứng tội lỗi ngay từ đầu trong tư tưởng bằng không thì tư tưởng xấu sẽ biến thành một khối ung thư ác tính lớn dần theo thời gian ăn nhập vào cá tính và hành động. Chân lý Tin Mừng hôm nay nghe rất tuyệt vời. Tuy nhiên, chúng ta cũng phải nhìn nhận một sự thật phũ phàng là có mấy ai trong chúng ta khắc phục được tội trong tư tưởng. Ngày nào chúng ta còn đi chân trên mặt đất, ăn uống như mọi ngày và hít thở không khí là ngày đó chúng ta vẫn còn là con người. Là con người, chúng ta phải luôn vật lộn với lý trí và bản năng sinh tồn. Từ phần bụng trở lên, lý trí, lý luận và lý thuyết luôn làm cho con người say mê cuộc sống. Con người được bay bổng lên cao rất êm ái và nhẹ nhàng với những giá trị cao thượng. Và nếu tay phải con nên dịp tội cho con, thì hãy chặt mà ném nó xa con; vì thà mất một chi thể còn hơn là toàn thân bị ném vào hoả ngục. “Cũng có lời dạy rằng: ‘Ai ly dị vợ mình, thì hãy trao cho vợ tờ ly dị’. Còn Ta, Ta bảo các con: Hễ ai ly dị vợ mình, trừ trường hợp tà dâm, thì làm cớ cho vợ ngoại tình; và ai cưới người vợ đã ly dị, cũng phạm tội ngoại tình. “Các con cũng đã nghe có lời bảo người xưa rằng: ‘Chớ thề gian, nhưng hãy giữ trọn lời mình thề với Chúa’. Còn Ta, Ta bảo các con: Đừng thề chi cả; đừng lấy trời mà thề, vì trời là ngai Thiên Chúa; đừng lấy đất mà thề, vì đất là bệ chân Người; đừng lấy Giêrusalem mà thề, vì là thành của Vua cao cả. cũng đừng chỉ đầu ngươi mà thề, vì ngươi không thể làm cho một sợi tóc ra trắng hay đen được. Nhưng lời nói của các con phải là: Có thì nói có, không thì nói không, thêm điều đặt chuyện là bởi ma quỷ mà ra”

Muối và Ánh Sáng

Muối và ánh sáng là những hình ảnh rất gần gũi trong đời sống thường ngày. Bởi thế, Chúa Giêsu đã khai thác chức năng của chúng để truyền đạt tâm tư nguyện vọng của Ngài với chúng ta. Một cách rất đơn sơ và mộc mạc, muối có rất nhiều chức năng ích lợi trong cuộc sống hằng ngày như gia vị, ươm ướp, thẩm mỹ và trị liệu v.v. Trong lãnh vực nha khoa, trước khi có những phương pháp điều trị tối tân, người dân thường dùng muối để đánh răng xúc miệng cho chắc lợi hay ngậm nước muối ấm để làm giảm đau răng. Nhìn từ góc cạnh này của muối, mỗi Kitô hữu đều đóng một vai trò làm muối mặn để giúp an ủi và thuyên giảm những nỗi đau tâm hồn của những người chung quanh. Hơn nữa trên cái nguyên tắc căn bản sống hằng ngày, nếu chúng ta không làm cho những kẻ khác hạnh phúc thì cũng không nên gây đau khổ cho họ bằng cả hai lời nói và việc làm. Cho dù người đó có khô khan nguội lạnh đến đâu nhưng lại biết sống hài hòa và cảm thông với những hoàn cảnh và nỗi đau của những kẻ khác, người đó vẫn thể hiện rõ nét lòng thương xót Chúa hơn là những kẻ tỏ ra hăng hái khắc khe với luật lệ và vội lên án kẻ khác. “Các con là muối đất. Nếu muối đã lạt, người ta biết lấy gì mà ướp cho mặn lại? Chuyển qua ánh sáng.  Con người không thể tồn tại nếu không có ánh sáng mặt trời vì đó là nguồn năng lượng tuyệt vời và vô định giúp các sinh vật và thực vật phát triển. Mỗi khi chúng ta đưa thức ăn vào miệng, điều đó cũng có nghĩa chúng ta chuyển năng lượng mặt trời vào trong cơ thể vì mỗi hợp tố trong thức ăn đều có yếu tố của ánh sáng mặt trời. Bên cạnh đó, năng lượng mặt trời còn giúp cho môi trường giảm bớt các khí thải độc hại đang phá hủy hệ sinh thái hằng ngày. Một khi nói đến ánh sáng, ánh sáng thường hướng chúng ta ngó lên và nghĩ rộng. Tại sao? Tại vì bản chất của nó là chiếu tỏa và chiếu xuống. Bởi thế, hầu như thợ điện nào cũng phải hướng lên cao hoặc được đưa lên cao khi làm việc. Các bóng đèn cũng thường được bắt trên cao để chiếu xoi tỏa sáng. Như vậy, dưới ánh sáng của Lời Chúa “Và người ta cũng không thắp đèn rồi để dưới đáy thùng, nhưng đặt nó trên giá đèn, hầu soi sáng cho mọi người trong nhà. Sự sáng của các con cũng phải chiếu giãi ra trước mặt thiên hạ, để họ xem thấy những việc lành của các con mà ngợi khen Cha các con trên trời”, cung cách chúng ta sống đạo và cư xử với nhau cũng chính là ánh sáng giúp cho những kẻ khác biết nhận ra được Thiên Chúa là ai, đức tin là gì và hy vọng là đâu.   “Các con là sự sáng thế gian.”