Mầu Nhiệm Tình Yêu

Mấy tháng nay, chúng ta bị nhốt ở nhà mình. Nhà thờ thì không đi được, nhà hàng đóng cửa, nhiều dịch vụ tạm ngưng vô thời hạn. Hơn nữa, bạn bè người thân không thể đến với nhau. Tuy cũng liên lạc bằng những phương tiện truyền thông, nhưng không thể vui bằng họp nhau trong tình thân ái. “Không ai là một hòn đảo”. Con người không thể sống cô độc. Các triết gia gọi con người là một loài có xã hội tính. Chúng ta cần có người khác để hiện hữu và sinh tồn. Không có cha mẹ làm sao có ta. Về thể xác, chúng ta phải ăn mới sống. Về tinh thần, con người phải có tình yêu mới hạnh phúc. Chỉ vì loài người được dựng nên theo hình ảnh Thiên Chúa.  Thiên Chúa là Một. Nhưng Thiên Chúa không phải là một thực thể cô độc. Ngài còn là một mối thân tình. Thiên Chúa là tình yêu. Thiên Chúa trao ban chính mình cách trọn vẹn. Vì thế có Cha và Con. Ngôi Cha và ngôi Con hợp nhất trong một tình yêu tuyệt đối là ngôi Thánh Thần. Chúng ta tin mầu nhiệm Một Chúa Ba Ngôi, vì chính Chúa đã tự biểu lộ như thế cho chúng ta. Mạc khải không chỉ để biết, nhưng là để sống như thế nào cho đúng, nhờ đó đạt được hạnh phúc vĩnh cửu. Mầu nhiệm Một Chúa Ba Ngôi là mầu nhiệm tình yêu. Yêu là chia xẻ, là trao ban. Vì yêu, Thiên Chúa đã dựng nên trời đất muôn vật để thông ban sự tốt lành của Ngài cho muôn loài. Vì yêu, Thiên Chúa đã tạo dựng con người với khả năng đáp trả tình yêu của Ngài, nhờ đó giữa con người và Thiên Chúa có sự trao đổi song phương. Đáng tiếc thay, con người đã lạm dụng tự do của mình để chối từ Thiên Chúa. Nhịp cầu bị gãy đổ. Nhưng về phía Ngài, Thiên Chúa vẫn giữ nguyên tình yêu đối với chúng ta: “Thiên Chúa đã yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một Người để tất cả những ai tin ở Con của Người, thì không phải hư mất, nhưng được sống đời đời.” Qua phép Rửa “nhân danh Cha và Con và Thánh Thần”, chúng ta được nối lại nhịp cầu tình yêu. Từ nay, mến Chúa và yêu người phải là phương châm của đời sống Kitô-hữu. Mỗi khi làm dấu thánh giá “nhân danh Cha và Con và Thánh Thần”, chúng ta hãy nhớ ơn gọi đặc biệt của mình và cố gắng sống như lời thư thánh Phaolô: “Anh em hãy vui lên, hãy nên trọn lành, hãy khuyến khích nhau, hãy đồng tâm nhất trí, và hoà thuận với nhau, thì Thiên Chúa, nguồn sự bình an và tình yêu, sẽ ở với anh em.” -Lm. F.X. Bùi Ngọc Tỷ

Thánh Thần Tình Yêu

Lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống còn gọi là lễ Ngũ tuần (Pentecost). Lý do: sau khi Chúa Giêsu về trời, các môn đệ họp nhau mừng lễ Ngũ tuần của người Do thái. Chính trong ngày đó, Chúa Thánh Thần đã ngự xuống trên các ông. Hai sự kiện này mang cùng một ý nghĩa. Trong Do thái giáo, lễ Ngũ tuần được cử hành sau lễ Vượt qua 50 ngày. Lễ này kỷ niệm ngày Chúa thành lập Dân Do thái. Trước kia, họ là những bộ lạc và những sắc dân sống riêng lẻ dưới ách nô lệ Ai cập. Họ được Chúa cứu thoát. Dưới chân núi Sinai, Chúa ban cho họ Lề Luật, tức là Mười Điều Răn và đã chính thức nhìn nhận họ là một dân tộc, là Dân riêng của Ngài. Ngày Chúa Thánh Thần hiện xuống cũng có thể coi là ngày Dân riêng mới của Chúa, tức là  Hội Thánh, được chào đời. Hội Thánh đã được Chúa Kitô thai nghén và thông ban sức sống bằng Máu từ trái tim của Ngài (Gioan 19: 34). Hôm nay, Thần Khí của Thiên Chúa đổ xuống như những ngọn lửa, thanh luyện và đốt nóng trái tim họ. Họ mở bung các cửa ra dưới sức mạnh như gió bảo của Chúa Thánh Thần và bắt đầu say sưa loan báo Tin Mừng Chúa Kitô cho mọi người. Hôm ấy có rất nhiều khách hành hương đến Giêrusalem để mừng lễ. Họ thuộc nhiều chủng tộc và tiếng nói khác nhau. Điều rất lạ là mọi người đều nghe và hiểu được Tin Mừng bằng chính ngôn ngữ của họ. Họ đã tin và chịu phép Rửa. Trước kia là những người xa lạ, nay được Chúa Thánh Thần liên kết, họ hiệp nhất trong cùng một đức tin và một tình yêu. Phép lạ của ngày Chúa Thánh Thần hiện xuống đảo ngược một biến cố đã xãy ra trong thời Cựu Ước: việc xây tháp Babel (xem Stk c.11). Loài người muốn họp nhau xây một ngôi tháp cao tận trời, để bất cứ lúc nào họ muốn, họ cũng có thể giao tiếp với Thiên Chúa. Đang khi xây, Chúa làm cho ngôn ngữ họ trở nên bất đồng (babel có nghĩa là lộn xộn). Do đó, họ không còn hiểu nhau, khiến ngôi tháp bị bỏ dở. Thiên Chúa không phải là Đấng con người có thể yêu sách hoặc mua chuộc để Ngài làm theo những gì họ muốn. Tháp Babel là dấu chỉ của việc thiếu đối thoại, hiểu lầm, bất hòa và chia rẽ. Lễ Hiện Xuống là phép lạ của sự cảm thông, đón nhận, yêu thương và hiệp nhất. Là Dân Chúa chọn, chúng ta hãy xin Chúa Thánh Thần tiếp tục thanh luyện, đổi mới và đốt nóng lòng chúng ta bằng ngọn lửa tình yêu của Ngài.   -Lm. F.X. Bùi Ngọc Tỷ

Tuy Xa Mà Gần

Sau khi sống lại, Chúa Giêsu thường hiện ra với các môn đệ, nhằm củng cố đức tin non trẻ của họ. Hội Thánh sơ khai giống như một đứa trẻ sơ sinh, cần được ôm ấp, bú móm, che chở, nâng niu. Nhưng khi đứa trẻ lớn dần, cha mẹ cũng phải để cho chúng tự chăm sóc mình thì chúng mới trưởng thành được. Giai đoạn sơ sinh 40 ngày của Hội Thánh đã gần qua. Hôm nay chúng ta nghe Chúa Giêsu nói những lời từ biệt: “Chẳng bao lâu nữa, thế gian sẽ không còn thấy Thầy.” Và Ngài hứa: “Thầy sẽ không để anh em mồ côi… Thầy sẽ xin Chúa Cha và Người sẽ ban cho anh em một Đấng Bảo Trợ.” “Đấng Bảo Trợ” là phiên dịch chữ Parakletos trong bản Kinh Thánh bằng tiếng Hy lạp. Chữ Parakletos có nhiều nghĩa: trạng sư, cố vấn, phù trợ, an ủi. Tất cả nói lên những tác động của Chúa Thánh Thần trong đời sống đức tin. Ngài soi sáng chúng ta biết cách cầu nguyện (Rm 8:26). Ngài ban nhiều đặc sủng (1 Cr 12:4). Ngài giúp chúng ta nên giống Chúa Kitô (2 Cr 3:18). Sách Công vụ Tông đồ và các Thánh Thư giải thích tường tận về các tác động của Chúa Thánh Thần. Những tác động của Chúa Thánh Thần cho thấy Chúa Kitô không xa lìa chúng ta. Ngày nay, Chúa Kitô không còn hiện diện cách hữu hình như khi còn tại thế. Nhưng Ngài vẫn sống và hoạt động trong Hội Thánh và trong các tín hữu bằng Thần Khí của Ngài. Ngài nâng đỡ, hướng dẫn, an ủi, bảo vệ, sưởi ấm lòng ta. Ngài là sự sống, là tình yêu, là sức mạnh, là sự khôn ngoan cho những ai đón nhận Ngài. Tưởng rằng đã xa, nhưng lại rất gần; còn gần hơn cả trước kia. Bởi vì Ngài cư ngụ trong sâu thẳm của lòng ta. Tuy xa mà gần. Tuy gần mà xa. Xa, vì rất khó cảm nhận sự hiện diện của Ngài. Mắt nhìn không thấy, tay sờ không được. Hoàn toàn không thể dùng cảm giác để nhận biết Ngài. Như có như không. Thiêng liêng. Ở giai đoạn hiện tại, chúng ta chỉ có thể gặp Ngài bằng đức tin. Sự khiêm tốn vâng phục và một tình yêu hy sinh sẽ giúp đức tin yếu ớt của chúng trưởng thành. Và nếu chúng ta kiên trì sống đức tin, Ngài sẽ cho gặp. Lúc đó chúng ta sẽ biết cách chắc chắn Ngài hằng yêu thương chúng ta. Chúa Giêsu đã hứa điều đó: “Nếu anh em yêu mến Thầy, anh em sẽ giữ các điều răn của Thầy… Ai yêu mến Thầy, thì sẽ được Cha Thầy yêu mến. Thầy sẽ yêu mến người ấy, và sẽ tỏ mình ra cho người ấy.”   -Lm. F.X. Bùi Ngọc Tỷ

Tiến Lại Gần

Ngày nay, có khoảng 1.2 tỉ người Công giáo, tức là 16% trên tổng số 7.5 tỉ người toàn thế giới.  Nếu tính chung người theo Kitô giáo, tức là gồm cả Tin lành, Chính thống, và các nhóm Kitô khác thì con số là 31.2%. Đứng thứ nhì là Hồi giáo có 24.1%. Kế đó là Ấn giáo 15.1% và Phật giáo 6.9%. Như vậy, sau 2,000 năm phát triển, Kitô giáo đã chiếm vị trí hàng đầu trong các tôn giáo. Bài trích sách Công vụ Tông Đồ hôm nay nói: “Lời Thiên Chúa vẫn lan tràn, và tại Giêrusalem, số các môn đệ tăng thêm rất nhiều, lại cũng có một đám rất đông các tư tế đón nhận đức tin.” Sự gia tăng dân số là một trong các dấu chỉ nói lên sức sống mãnh liệt của niềm tin Kitô giáo. Sức sống đó không phải bởi con người, mà là bởi Thiên Chúa; vì chính Chúa Kitô Phục Sinh đang sống và hoạt động trong lòng Hội Thánh. Thật vậy, Chúa Kitô đang nuôi dưỡng chúng ta bằng Mình và Máu Ngài. Ngài ban Thánh Thần cho chúng ta mạnh sức. Ngài chữa lành mọi thương tích hồn xác chúng ta. Ngài phục vụ chúng ta qua các linh mục. Ngài là nguồn tình yêu cho các đôi vợ chồng để từ đó sản sinh ra nhiều tín hữu. Chúa Kitô còn dạy dỗ chúng ta chân lý hằng sống bằng Lời của Ngài trong Kinh Thánh và các giáo huấn của Giáo hội. Chúa Giêsu qua các mục tử, dẫn dắt chúng ta trên con đường về quê trời. Như Ngài đã phán: “Thầy là Con Đường, là Sự Thật và là Sự Sống” của chúng ta. Đức Thánh Cha Phanxicô trong bài giảng ngày 26-4-2020 vừa qua đã nói: “Nhiều lần chúng ta đã nghe nói rằng Kitô giáo không chỉ là một học thuyết, Kitô giáo không phải chỉ là một cách hành xử, Kitô giáo không đơn thuần chỉ là là một nét văn hóa. Vâng, Kitô giáo là tất cả những điều này, nhưng quan trọng hơn và trên hết, Kitô giáo là một cuộc gặp gỡ. Một người theo Kitô giáo vì người ấy đã gặp Chúa Giêsu Kitô, hay đang để cho mình được gặp gỡ Người.” Thật vậy, phần rỗi đời đời hệ tại ở việc gặp gỡ Đức Kitô và trở nên một với Ngài. Thánh Phêrô trong thư thứ nhất đã kêu gọi mọi người: “Anh em hãy tiến lại gần Đức Kitô.” Tiến lại gần Đức Kitô nhờ năng chịu các bí tích và sống đời cầu nguyện, nhờ lắng nghe và thực thi Lời Chúa, nhờ đồng hành với Hội Thánh của Ngài. Có tiến lại gần Đức Kitô, chúng ta mới có thể đến với Chúa Cha, vì “không ai có thể đến với Chúa Cha mà không qua Thầy.”(Gioan 14:6) Lm F.X. Bùi ngọc Tỷ

Emmaus

Tin rằng hôm nay sẽ có nhiều nhà thờ hát bài hát quen thuộc “Trên đường Emmaus” của Cha Thành Tâm, nếu không bị đại dịch COVID-19. Lý do dễ hiểu: bài hát này trình bày câu chuyện kể trong Phúc Âm Chúa Nhật thứ ba Phục Sinh năm A hôm nay. Chúng ta hãy cố gắng lắng nghe hoặc đọc lại bài Phúc Âm này, vì Chúa muốn nhắn nhũ chúng ta nhiều điều qua câu chuyện đó. Hai người lữ khách, một người tên là Cleopas, người kia không tên. Theo các nhà chú giải, tác giả muốn ám chỉ người đó là chúng ta, kẻ đã từng theo Chúa. Như trong câu chuyện, nhiều lúc chúng ta cảm thấy mệt mỏi, chán nản, muốn buông xuôi vì những gian khổ và những vấp ngã trong cuộc hành trình ở trần gian. Và Chúa đã tìm đến chúng ta qua Lời của Ngài. Khi lắng nghe Lời Chúa, lòng chúng ta bừng cháy. Rồi, khi được mời, Chúa đã ở lại với chúng ta. Ngài mở tiệc thết đãi chúng ta bằng Mình và Máu Ngài. Sau khi tìm lại được sức sống và sự hăng say, chúng ta tiếp tục làm chứng nhân cho Chúa giữa mọi người. Qua bố cục của câu chuyện, chúng ta thấy thánh Luca rõ ràng muốn nói đến sự gặp gỡ Đấng Phục Sinh qua việc cử hành thánh lễ: phụng vụ Lời Chúa và phụng vụ Thánh Thể. Thánh Lễ là nguồn mạch nuôi dưỡng đời sống đức tin của chúng ta. Trong bí tích Thánh Thể Đấng Phục Sinh trao ban chính mình, giúp gia tăng sự đổi mới đã khởi sự nơi chúng ta ngày chịu phép Rửa tội. Lời Chúa trong Kinh Thánh soi sáng và đốt nóng lòng chúng ta, giúp chúng ta hiểu được Ý Chúa qua những gì xãy ra trong đời sống. Biến cố đại dịch ảnh hưởng trầm trọng đến cuộc sống của toàn thể nhân loại. Là Kitô hữu, chúng ta thấy gì về ý nghĩa của biến cố này dưới ánh sáng đức tin? Đức Thánh Cha Phanxicô trong sứ điệp lễ Phục Sinh đã cho chúng ta một vài gợi ý. Ngài nói: “Xin hãy nhớ, mỗi khi lá đổi màu, chúng mang theo một vẻ đẹp riêng; thì mỗi khi hoàn cảnh sống thay đổi, nó cũng mang theo đầy ý nghĩa. Nhưng phải có một nhãn quan trong suốt mới nhìn thấy được. Vậy xin đừng buồn rầu than trách. Thay vào đó hãy nhớ rằng: Đau Đớn là dấu hiệu chúng ta còn sống, Có Vấn Đề là dấu hiệu chúng ta còn mạnh và Cầu Nguyện là dấu hiệu cho thấy chúng ta không cô độc!!” Chúa Kitô phục sinh đã nâng chúng ta dậy từ cõi chết. Vậy như hai môn đệ làng Emmaus, chúng ta hãy thưa với Ngài: Lạy Chúa, xin hãy ở lại với chúng con. -Lm. F.X. Bùi Ngọc Tỷ  

Phúc Cho Ai Không Thấy Mà Tin

Bài Phúc âm hôm nay tường thuật việc Đức Kitô Phục Sinh hiện ra cho các môn đệ. Lúc đó ông Thomas vắng mặt. Khi nghe kể lại, Thomas đòi được chạm đến những vết thương của Đức Giêsu thì ông mới tin. Sự tích này khiến Thomas mang biệt danh “cứng lòng.” Thật ra, đòi hỏi của Thomas cũng không phải là quá đáng. Đã ba năm nay, Thomas đi theo làm môn đệ Đức Giêsu. Ông tin rằng Ngài chính là Đấng Messiah mà các ngôn sứ đã nói đến. Hơn nữa, Ngài có những lời đầy sức sống. Những phép lạ Ngài làm đầy quyền năng. Bản thân Ngài hết sức trung thực và lôi cuốn. Thế nhưng, mọi sự lại xãy ra theo chiều hướng xấu nhất. Đức Giêsu đã bị bắt và bị giết cách nhục nhã trên thập giá. Đấng Messiah không thể chết như thế được! Thiên Chúa sẽ không bao giờ bị đánh bại! Rồi bổng nhiên, ít ngày sau sự việc đó, các môn đệ khác nói họ đã gặp lại Đức Giêsu. Ngài đã phục sinh và đã hiện ra cho họ. Chuyện giỡn chơi! Thomas nói: “Nếu tôi không thấy dấu đinh ở tay Người, nếu tôi không xỏ ngón tay vào lỗ đinh và không đặt bàn tay vào cạnh sườn Người, tôi chẳng có tin.” Thomas là một người lý trí. Hơn nữa, nếu Thầy mình sống lại thật, thì mọi sự sẽ hoàn toàn đảo ngược. Một tuần sau, Đấng Phục Sinh lại hiện ra cho ông. Thomas giờ đây biết điều các môn đệ nói là thật. Hơn nữa cuộc gặp gỡ với Đấng Phục Sinh đã mở lòng ông ra để nhận ơn đức Tin. Tuy lúc đầu, Thomas có sai lầm vì quá tự phụ nơi phán đoán của mình, nhưng Chúa vẫn ban ơn cho ông. Cái hay của thánh tông đồ Thomas là thành tâm và kiên nhẫn đi tìm Chúa. Lần đầu không được, ông vẫn tiếp tục đến với cộng đoàn đức tin. Và sau cùng, ông đã nhận được sự sống đời đời nơi Đức Kitô Phục Sinh. Đó là bài học cho những ai muốn được ơn Đức Tin. Chúa dạy Thomas và tất cả chúng ta: “Vì đã thấy Thầy, nên anh tin. Phúc thay những người không thấy mà tin!”(Ga 20:29) Con người ngày nay rất tự phụ vì những hiểu biết về khoa học kỹ thuật của mình. Họ không biết rằng: mầu nhiệm Phục Sinh vượt khỏi phạm trù tự nhiên của loài người. Vì thế, nếu chỉ nhờ giác quan và trí khôn của mình, con người không thể vươn tới. Kẻ kiêu căng không thể tìm gặp Chúa. Chúa chỉ ban ơn cho kẻ khiêm nhường. Cùng với thánh Thomas, chúng ta hãy sấp mình thờ lạy Chúa: “Lạy Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con!”(Ga 20:28) -Lm. F.X. Bùi Ngọc Tỷ

Tuần Thánh

Tuần Thánh khởi đầu bằng việc Chúa Giêsu vào thành Giêrusalem vào dịp lễ Vượt Qua của người Do thái. Dân thành đón tiếp Ngài như một vị cứu tinh, một Đấng Messiah. Họ hy vọng Ngài sẽ giải phóng đất nước và phục hồi sự huy hoàng của thời David. Nhưng Đức Giêsu không làm theo điều họ mong muốn. Tuy chính là Đấng Messiah mà các ngôn sứ đã tiên báo, nhưng Đức Giêsu không theo đường lối của người đời. Chương trình cứu rỗi mà Thiên Chúa vạch ra cho Ngài vượt lên trên sự hiểu biết và tầm tay với của nhân loại. Vì thế, họ cảm thấy như bị phản bội. Và hoan hô biến thành đã đảo,  “Đóng đinh nó đi! Đóng đinh nó vào thập giá!” nối tiếp “Hosanna.” Những ngày sau đó ở Giêsusalem là những ngày cuối cùng của Chúa Giêsu ở trần gian. Kẻ thù rình rập và mưu toan triệt hạ Ngài. Sau bữa Tiệc Ly với các môn đệ, Chúa Giêsu vào cầu nguyện trong vườn Cây Dầu. Tại đây, Ngài cảm nhận tất cả sự kinh hoàng của cuộc thương khó; nhưng Ngài vẫn tuyệt đối vâng phục: “Lạy Cha, xin cho con khỏi uống chén đắng này. Nhưng đừng theo ý con, một theo ý Cha.” Trong đêm đó, Ngài đã bị bắt. Kẻ phản bội là Giuda, một trong nhóm Mười Hai. Tất cả các môn đệ đều bỏ trốn. Kẻ thù tra tấn Ngài và tìm cách lấy khẩu cung ở nhà thầy cả thượng phẩm. Hôm sau, họ điệu Ngài ra trước tòa án của tổng trấn, đại diện hoàng đế, với tội danh: “Nó tự xưng là vua, nên là kẻ thù của vua.” Tổng trấn Philatô sợ dân nổi loạn nên ra lệnh đánh đòn và lên án xử tử Ngài. Đức Giêsu lãnh hình phạt của một tên phản loạn, tức là phải vác thập giá lên một nơi cao cho mọi người trông thấy. Và bị đóng đinh vào đó. Những giờ hấp hối trên thập giá là những giờ đau đớn cùng cực. Nhưng Đức Giêsu vẫn thanh thản đón nhận. Thậm chí còn quan tâm đến người khác: “Lạy Cha, xin tha cho chúng, vì chúng không biết việc chúng làm.” Sau cùng, trong niềm tín thác trọn vẹn, Ngài đã ra đi cách an bình: “Lạy Cha, con phó linh hồn con trong tay Cha.” Chúng ta cũng cùng chịu khổ nạn với Chúa Kitô với dịch bệnh COVID-19. Hàng chục ngàn người chết. Hàng trăm ngàn người bị nhiễm bệnh. Cả thế giới kinh hoàng. Mọi sinh hoạt bị đình trệ. Đây chính là lúc chúng ta sống mầu nhiệm Vượt Qua của Chúa Kitô. Hội Thánh nhắc nhở chúng ta: “Anh em hãy hân hoan trong hy vọng, nhẫn nại trong khốn khó và trung thành trong nguyện cầu” (Roma 12:12). -Lm. F.X. Bùi Ngọc Tỷ

Ðánh Nhau Bằng Gậy Gộc

Họa sĩ Goya, người Tây Ban Nha vào đầu thế kỉ 19, đã để lại một loạt những bức tranh mô tả thân phận con người thật ý nghĩa. Một trong họa phẩm mà ông đã thực hiện trong thời nội chiến của người Tây Ban Nha vào cuối thế kỷ 18 mang tựa đề: “Ðánh nhau bằng gậy gộc” Trong bức tranh, Goya vẽ hai người nông dân xô xát nhau. Mỗi người cầm trong tay một chiếc dùi cui sần sùi. Một người đang giơ chiếc dùi cui để bảo vệ mặt mình. Nền trời không để lộ một nét nổi bật nào. Người ta không đoán được trời sắp giông bão hay sắp sáng rỡ. Thoạt nhìn qua cũng nghĩ đây chỉ là một bức tranh tầm thường như những bức tranh khác. Thế nhưng có một chi tiết nói lên tất cả ý nghĩa của bức tranh: đó là hai người nông dân đang hầm hầm sát khí để loại trừ nhau này lại mắc cạn trong cồn cát. Từng cơn gió thổi, cát bụi đang kéo tới phủ lấp hai người đến quá đầu gối. Goya muốn cho chúng ta thấy rằng cả hai người nông dân này sắp chết. Họ sẽ không chết vì những cú dùi cui giáng trên nhau cho bằng chính cát bụi đang từ từ chôn vùi họ.Thế nhưng thay vì giúp nhau để ra khỏi cái chết, họ lại cư xử chẳng khác nào thú dữ: họ cắn xé nhau. Họa phẩm “Ðánh nhau bằng gậy gộc” trên đây của danh họa Goya nói lên phần nào tình cảnh mà nhân loại chúng ta đang trải qua.Thay vì giúp nhau để ra khỏi không biết bao nhiêu tai họa, con người lại giành giật chém giết lẫn nhau. Bức tranh ấy có lẽ không chỉ diễn ra ở quy mô thế giới, một nơi nào đó ngoài cuộc sống của chúng ta, mà không chừng đang diễn ra hằng ngày trong các mối tương quan của chúng ta với những người xung quanh. Cơn cám dỗ muốn thanh toán và loại trừ người khác có lẽ vẫn còn đang gặm nhấm tâm hồn chúng ta. Bức tranh của họa sĩ Goya cũng chính là bức tranh của thân phận con người chúng ta. Ngay chính trong cơn quẫn bách và đe dọa tứ phía, thay vì liên đới để bảo vệ nhau, người ta vẫn có thể đâm chém lẫn nhau. Chúa Giêsu đã để lại cho chúng ta khuôn vàng thước ngọc: nếu có ai vả má bên phải của ngươi, hãy chìa luôn cả má còn lại… Trong những giờ phút cuối đời, khi đứng giữa những người đang đằng đằng sát khí muốn hủy diệt mình, Chúa Giêsu đã xin Chúa Cha tha thứ cho họ. (Lẽ Sống, Radio Veritas)  

Sáng Mắt

Bài Phúc Âm hôm nay kể lại phép lạ Chúa Giêsu đã làm cho một người mù từ lúc mới sinh được sáng mắt. Thánh Gioan tường thuật phép lạ này với rất nhiều chi tiết. Chúa Giêsu lấy nước miếng, nhồi với đất thành bùn, bôi vào mắt người mù và bảo anh ta đi rửa ở hồ Siloe và anh ta nhìn thấy. Tuy được sáng mắt, anh mù lại gặp nhiều rắc rối khiến anh phải phấn đấu và qua đó, anh đã nhận biết Đức Giêsu chính là Thiên Chúa. Qua cách tường thuật của thánh Gioan, chúng ta thấy ông muốn dùng câu chuyện này để nói về đời sống đức tin của người tín hữu. Bùn trong câu chuyện nhắc lại hình ảnh Chúa lấy bùn đất để dựng nên Adam. Nước hồ Siloe là hình ảnh nước Rửa tội. Trong bí tích Rửa tội, chúng ta được dựng nên trong đời sống mới, đời sống của người con Chúa. Ánh sáng của đôi mắt gợi ý về ánh sáng đức Tin. Khi được rửa tội, chúng ta nhận lấy cây nến thắp sáng từ nến Phục sinh với lời dạy: “Hãy nhận lấy ánh sáng Chúa Kitô.” Đời sống mới gieo xuống đời ta trong bí tích Rửa tội chỉ là một hạt giống. Nó phải tăng trưởng. Trong câu chuyện, đức tin của anh mù lớn lên qua ba giai đoạn, theo cách anh nói về Đức Giêsu. Lúc đầu, khi có ai hỏi anh ai làm cho anh sáng mắt, anh trả lời: “một người tên là Giêsu.” Sau đó, khi những người Pharisêu chất vấn anh, anh trả lời: “Ngài là một ngôn sứ.” Câu chuyện diễn tiến đến tột đỉnh khi anh bị trục xuất ra khỏi đền thờ, gặp lại Đức Giêsu, Ngài hỏi anh: “Anh có tin vào Con Người không?” Anh đáp: “Thưa Ngài, tôi tin.” Rồi sấp mình xuống trước mặt Người. Nhận thức của anh về Đức Giêsu đã thay đổi từ “người” tới “ngôn sứ” tới “Chúa.” Sự thăng tiến trong câu chuyện gợi ý về sự tăng trưởng trong đời sống đức tin. Bước khởi đầu là lãnh nhận ơn Chúa. Ơn chữa lành, ơn bình an, ơn hiểu biết, ơn đức Tin… Bước kế tiếp là tìm hiểu và nhận định về Đấng đã làm ơn cho mình. Người mù qua những cọ sát với các Pharisêu đã học biết Kinh thánh, nên có cái nhìn sáng sủa hơn về Đức Giêsu. Thánh Giêrônimô đã nói: “không biết Kinh Thánh là không biết Đức Kitô.” Chúng ta phải quen biết Chúa Kitô mới có thể bước theo chân Ngài. Bước thứ ba là liều mạng bảo vệ niềm tin của mình vào Đức Kitô. Tuyên xưng Ngài là Chúa và sấp mình thờ lạy, tức là đặt Ngài làm chủ tể đời mình và tự nguyện sống hoàn toàn cho Chúa và vì Chúa. -Lm. F.X. Bùi Ngọc Tỷ

Khao Khát

Bài Phúc Âm hôm nay kể lại cuộc nói chuyện của Chúa Giêsu với người phụ nữ xứ Samaria bên bờ giếng Giacop.  Chúa Giêsu nói với người phụ nữ: “Ai uống nước này sẽ lại khát. Còn ai uống nước tôi cho, sẽ không bao giờ khát nữa.” (Ga 4:13-14a) Chúa Giêsu muốn nói về cơn khát nội tâm, về khát vọng thâm sâu trong mỗi con người. Ai trong chúng ta cũng có ít nhiều kinh nghiệm về cơn khát nội tâm này. Những câu nói như: “đứng núi này trông núi nọ,” “túi tham không đáy,” “được voi đòi tiên,” cho thấy tham vọng không cùng của con người. Tiền tài, danh vọng, thú vui, quyền lực, có rồi lại muốn có thêm; thêm nữa và thêm nữa. Bao nhiêu cũng không đủ. Nhà văn Frank Sheed nói về sự bi thảm của con người như sau: trong trái tim con người có một cơn khát tinh thần; thay vì giải khát bằng những gì có giá trị tinh thần, người ta lại tìm cách thỏa mãn họ bằng vật chất. Giống như cho một người đang khát uống nước biển; càng uống họ sẽ càng khát. Thánh Augustinô khi còn trẻ đã cuồng nhiệt chạy theo danh vọng, tiền tài cũng như nhục dục. Tuy hết sức thành công, nhưng luôn thấy chán chường. Một ngày kia, được đánh động bởi Lời Chúa qua miệng thánh Ambrôsiô, Ngài được ơn trở lại. Sau khi tìm gặp Chúa, Augustinô mới nhận ra tại sao trước kia mình luôn luôn cảm thấy bất an trong tâm hồn. Ngài đã nói với Chúa: “Lạy Chúa, Chúa đã dựng nên con cho Chúa. Linh hồn con không bao giờ được nghỉ yên cho đến khi được yên nghỉ trong Chúa.” Nguồn gốc của khát vọng là bởi Chúa. Chúng ta được dựng nên “theo hình ảnh Thiên Chúa.” Nên chỉ có Chúa mới có thể lấp đầy khoảng trống trong tâm hồn chúng ta. Có người đã ví điều đó một cách bóng bảy “Our hearts have a God-shaped hole in them, that only God can fill.” Tìm gặp Chúa, sống với Chúa, hy sinh vì Chúa, yêu mến Chúa, chúng ta mới thật sự an vui. “Như nai khát tìm đến suối nước trong, hồn con cũng trông mong được gần Ngài, lạy Chúa. Linh hồn con khao khát Chúa Trời, là Chúa Trời hằng sống” (TV 42) Không biết bạn đã tìm gặp Chúa và được an vui trong Chúa chưa? Có lẽ bạn nên ngồi xuống và bình tâm trò chuyện với Chúa như người phụ nữ xứ Samaria đã làm. Chắc chắn bạn sẽ không thất vọng, vì Ngài sẽ cho bạn “Nước Hằng Sống.” Và bạn sẽ không còn khát nữa. Trở về với Chúa đi, vì: “Đây là thời Thiên Chúa thi ân, đây là ngày Thiên Chúa cứu độ.”(2 Cr: 6:2b) -Lm. F.X. Bùi Ngọc Tỷ