Niềm Hy Vọng Hạnh Phúc

Những lời Chúa nói hôm nay thật lạ lùng. Khác hẳn với những gì người đời thường nói. Nhưng đem đến cho ta biết bao niềm hy vọng.   Trước hết là niềm hy vọng hạnh phúc. Cuộc sống trần gian có nhiều khổ đau đến nỗi nhiều người gọi trần gian là thung lũng nước mắt. Ai cũng mơ ước được hạnh phúc. Nhưng hầu như hạnh phúc luôn ở ngoài tầm tay con người. Với những lời chúc phúc hôm nay, Chúa cho ta biết Chúa đã dựng nên con người để được hạnh phúc. Dù hiện nay ta còn phải chịu nhiều đau khổ, ưu phiền, khốn khó, nhưng những đau khổ, ưu phiền khốn khó đó sẽ qua đi. Vì cuộc sống này chỉ là tạm bợ. Hạnh phúc Chúa hứa sẽ vĩnh cửu vì cuộc sống đời sau không bao giờ tàn úa.   Tiếp đến là niềm hy vọng Nước Trời. Hạnh phúc ta được không ở tại đời này, nhưng ở trên Nước Trời. Trên Nước Trời ta được hạnh phúc vì được làm chủ nhân Nước Trời. Và trên Nước Trời, ta sẽ được an ủi, được thương xót, được làm con Chúa, được thấy mặt Chúa. Đó là hạnh phúc tuyệt đối không gì có thể so sánh được.Sau cùng là niềm hy vọng được chính Chúa. Qua những lời chúc phúc. Chúa cho ta hiểu rằng Chúa chính là nguồn mạch sự sống của ta, là tất cả ý nghĩa đời ta, là hạnh phúc của ta. Được Chúa là được tất cả. Chúa là sản nghiệp lớn lao sẽ khiến ta trở nên giàu có. Chúa là niềm an ủi khiến ta không còn sầu khổ. Chúa là hạnh phúc tuyệt đối khiến ta thỏa chí toại lòng không còn khao khát gì nữa. Còn gì hạnh phúc hơn khi ta được chiêm ngưỡng Chúa tỏ tường, được làm con Chúa, được Chúa yêu thương. Tuy nhiên để đạt được Chúa, bản thân ta phải được thanh luyện theo con đường Tám Mối Phúc. Chính Chúa Giêsu đã đi vào con đường đó. Người đã sống nghèo, đã sống hiền lành khiêm nhường, đã chịu giết hại vì rao giảng Tin Mừng. Người đã mở đường đi về hạnh phúc. Các thánh là những người đã đi theo Chúa Giêsu trên con đường thanh luyện. Các ngài đã giặt áo trong máu Con Chiên nên áo của các ngài trắng như tuyết. Các ngài được hưởng hạnh phúc Nước Trời vì các ngài đã chịu thanh luyện trong cuộc sống trên trần gian. Các ngài được chính Chúa vì các ngài đã từ chối không ham mê dính bén những của cải trần gian. Vì thế, lễ các thánh là lễ của niềm vui. Chúng ta vui mừng vì các thánh chính là thân nhân của chúng ta, là tổ tiên, ông bà, cha mẹ, anh chị em, bạn bè chúng ta. Lễ các thánh là lễ của niềm hy vọng. Các thánh là người như chúng ta với tất cả những thiếu thốn, những yếu hèn. Các ngài đã đạt tới hạnh phúc Nước Trời. Như thế chúng ta hy vọng cũng sẽ được hạnh phúc Nước Trời như các ngài. Chúng ta còn hy vọng hơn nữa, vì Chúa đã hứa cho ta được hạnh phúc Nước Trời làm sản nghiệp. Lời hứa của Chúa là niềm hy vọng của chúng ta. Nhưng lễ các thánh cũng là lễ của phấn đấu. Con đường dẫn ta tới Nước Trời là con đường Tám Mối Phúc. Đó là con đường phấn đấu từ bỏ mình, từ bỏ những ham hố tranh dành, chiếm hữu, thống trị. Phấn đấu sống khiêm nhường và nhất là yêu thương xây dựng hòa bình. Khi phấn đấu sống như thế, ta xây dựng Nước Trời từ trần gian, biến trần gian thành nơi hạnh phúc, biến mọi người thành anh em. Khi phấn đấu xây dựng Nước Trời như thế, ta góp phần xây dựng hòa bình trên trần gian. Lạy các thánh nam nữ ở trên trời, xin cầu cho chúng con. -Đức TGM. Giuse Ngô Quang Kiệt

Trả Về Cho Thiên Chúa

Những chế độ độc tài rất sợ ảnh hưởng của các tôn giáo, vì các tôn giáo thường nói lên tiếng nói của lương tâm. Muốn bịt miệng tôn giáo, họ viện dẫn câu nói của Chúa Giêsu trong bài Phúc Âm hôm nay: “Của Xê-da, hãy trả cho Xê-da; của Thiên Chúa, hãy trả cho Thiên Chúa.” Trong ý của họ, thế giới này chia làm hai lãnh vực riêng biệt nhau: lãnh vực trần thế thuộc về chính quyền, lãnh vực thiêng liêng thuộc về tôn giáo. Vậy tôn giáo hãy ở yên trong nhà thờ. Đừng xen vào những chuyện ngoài đời. Có phải Chúa Giêsu muốn dạy chúng ta như thế không? Chắc chắn là không. Chúng ta hãy xem lại hoàn cảnh cụ thể lúc đó. Dân Do thái thời đó chịu sự đô hộ của đế quốc Rôma. Câu hỏi “có được phép nộp thuế cho Xê-da không?” đặt Đức Giêsu vào thế tất bại. Nếu trả lời “nộp thuế”, Ngài sẽ bị coi là ủng hộ kẻ xâm lược. Nếu trả lời “không nộp thuế”, Ngài sẽ bị kết tội phản loạn. Đức Giêsu biết cái bẩy của họ. Ngài đẩy ngược vấn đề về phía họ. “Hãy cho ta xem đồng tiền nộp thuế.” Đồng tiền nộp thuế in hình của Xê-da. Vậy, các ông mang hình của Xê-da, thì đương nhiên phải trả về cho Xê-da. Câu nói kế tiếp mới là lời dạy của Chúa Giêsu, “của Thiên Chúa, hãy trả về cho Thiên Chúa”. Cái gì là của Thiên Chúa? Có phải chỉ những gì bên trong nhà thờ mới thuộc về Thiên Chúa, còn bên ngoài thì không? Chúa Giêsu muốn nhắc nhở chúng ta: mọi sự đều thuộc về Chúa. Chúa dựng nên trời đất muôn vật. Chúa dựng nên ta theo hình ảnh cao quý của Ngài. Toàn thể con người đều thuộc về Chúa. Chúng ta phải trả lời trước mặt Chúa về cuộc sống của mình. Một điều rất lạ. Trong bài đọc thứ nhất, chúng ta thấy Chúa nói với vua Ky-rô, một người ngoại: “Ta đã gọi ngươi đích danh, đã ban cho ngươi một tước hiệu, dù ngươi không biết Ta.” Chúa cho vua quyền lực để vua trả tự do cho dân Israel. Vậy quyền lực chính trị cũng phát xuất từ Thiên Chúa. Kẻ nắm quyền cũng phải làm theo Ý Chúa. Chúng ta nghe nói có một số dân biểu, nghị sĩ, kể cả ứng cử viên tổng thống bị từ chối không cho chịu lễ vì họ ủng hộ luật phá thai. Giáo hội nhắc nhở những người công giáo đó bằng câu nói của Chúa Giêsu, “của Thiên Chúa, hãy trả về cho Thiên Chúa” trong lãnh vực chính trị. Phần chúng ta, những người công dân công giáo, chúng ta đã suy nghĩ kỹ về lá phiếu của mình chưa? -Lm. F.X. Bùi Ngọc Tỷ  

Vườn Nho NướcTrời

Lời Chúa hôm nay lại nói đến vườn nho. Trong bài đọc thứ nhất, chúng ta nghe chủ vườn nho than thở vì thất vọng. Ông đã bỏ bao nhiêu công sức và tiền của để bồi đắp vườn nho, nhưng nó chỉ sinh nho dại. Bài Phúc Âm thì không nhắm vào vườn nho, nhưng vào những tá điền được thuê đi làm vườn nho. Họ không những muốn chiếm đoạt vườn nho, mà còn giết hại những sứ giả và ngay cả người con một mà ông chủ sai đến. Sự phản bội và vô ơn là thái độ chung của loài người đối với Thiên Chúa. Không biết ơn, vì loài người không thấy hoặc không muốn nhìn nhận những gì mình có là bởi Chúa. Lấy sự vô ơn của con cái đối với cha mẹ làm thí dụ. Ca dao Việt Nam có câu: “Cha Mẹ nuôi con như biển hồ lai láng, Con nuôi Cha Mẹ con kể tháng kể ngày.” Người ta thường coi những gì cha mẹ làm cho mình như là điều đương nhiên. Ngay từ nhỏ mình được ăn không, ở không, chơi không, đi học không tốn tiền. Tự nhiên cảm thấy không có gì phải băn khoăn. Vui vẻ hưởng thụ tình yêu và sự phục vụ của cha mẹ một cách vô tâm. Hơn nữa, đôi khi còn quay lại cắn xé nếu không được như ý. Cũng một thái độ đó, nhiều người coi những gì mình được hưởng ở đời này là điều đương nhiên. Thân thể này, trí khôn này, gia đình này, cơm ăn, áo mặc, nước uống, không khí thở, mặt trời mang sức sống, màn đêm ru giấc ngủ… Tất cả. Như những gì tự nhiên phải có, tự nhiên phải được. Không cần phải nghĩ đến ai đã ban cho. Không cần phải biết tại sao mình được hưởng. Chính sự vô tâm đó khiến con người sống không mục đích, bị lôi cuốn bởi những ảo ảnh của tự do, tưởng đâu mình là chủ tể của đời mình. Cuối cùng thấy mình chỉ sinh toàn là nho dại. Nếu biết mình từ đâu đến và sẽ đi về đâu, chúng ta sẽ nhận ra thân phận cao quý của mình; và cũng biết mình sinh ra ở đời với một sứ mạng phải chu toàn. Sứ mạng đó là khai phá và phát triển những tiềm năng trong ta theo đường lối Chúa. Những sứ giả mà Chúa sai đến, nhất là Con Một Chúa là Đức Giêsu Kitô là đấng dẫn đường cho ta vào Nước Trời. Đón nhận Ngài và bước theo chân Ngài với trọn niềm tin yêu, chúng ta sẽ được Nước Trời làm gia nghiệp. -Lm. F.X. Bùi Ngọc Tỷ  

Hoán Cải

Có người nhận xét: người Việt Nam làm ít nói nhiều, nói một đàng làm một nẻo. Người con thứ hai trong bài dụ ngôn hôm nay hình như cũng có máu Việt Nam. Anh ta nói sẽ đi làm vườn nho, nhưng lại ở nhà không đi. Còn người anh cả lúc đầu nói không đi. Nhưng sau đó suy nghĩ lại, anh ta đổi ý và đi làm vườn nho theo lời của cha mình. Nhiều người nghĩ rằng sự đổi ý là dấu hiệu của một tâm hồn yếu đuối, thiếu cương quyết. Nhưng nếu nhìn kỹ lại, chúng ta sẽ thấy đó là một ơn. Nhờ biết thay đổi, bỏ cái dở tìm các hay, con người trở nên khôn ngoan hơn. Nhờ biết bỏ cái xấu tìm cái tốt, con người trở nên tốt hơn. Sự thay đổi giúp chúng ta tiến tới và phát triển mãi không ngừng. Giới hạn của tầm vóc con người là vô giới hạn, vì chúng ta được dựng nên theo hình ảnh Thiên Chúa. Sự thay đổi có một đặc tính là vượt thời gian. Có thể một chuyện đáng tiếc nào đó xãy ra 20 năm trước. Hôm nay chúng ta mới nhận biết cái sai của mình. Chúng ta hối hận và sửa đổi. Như vậy chẳng khác nào chúng ta đi ngược thời gian, để thay đổi quá khứ và lớn lên trong tình thương của Chúa. Mỗi giây phút trong đời đều là cơ hội cho chúng ta được cứu rỗi. Những bác sĩ làm cho người khác chết trước thời gian Chúa định đều phạm tội giết người, vì họ tước mất cơ hội cứu rỗi, có thể là duy nhất trong đời một con người. Sự thay đổi trong đời sống đạo có những cái tên quen thuộc như: ăn năn trở lại, hoán cải, canh tân. Sách ngôn sứ Ê-giê-ki-ên viết: “Nếu kẻ gian ác từ bỏ điều dữ nó đã làm, mà thi hành điều chính trực công minh, thì nó sẽ cứu được mạng sống mình.” Ai mà không từng lầm lỗi. Nhưng Chúa vẫn thương cho chúng ta cơ hội để sửa đổi. Sự hoán cải và canh tân là việc phải làm suốt đời. Thần học gia Soren Kierkegaard đã nhận xét: “Không có cái gọi là ‘là Kitô-hữu’; chỉ có ‘trở nên Kitô-hữu’“. Ý muốn nói, chúng ta chưa phải là Kitô-hữu đúng nghĩa. Chúng ta vẫn phải tiếp tục lột xác để trở nên Kitô-hữu đích thực. Các ông Pharisêu tưởng rằng mình đã trọn hảo. Vì thế Đức Giêsu cảnh cáo họ: “Tôi bảo thật các ông: những người thu thuế và những cô gái điếm vào Nước Thiên Chúa trước các ông. Vì ông Gioan đã đến chỉ đường công chính… mà các ông không chịu hối hận mà tin ông ấy.” Còn bạn thì sao? -Lm. F.X. Bùi Ngọc Tỷ  

Thiên Chúa Bất Công?

Dụ ngôn những người thợ làm vườn nho hôm nay gây thắc mắc cho không ít người. Tại sao những người chỉ làm một tiếng buổi chiều lại được số lương bằng những người làm việc cực khổ cả ngày? Nếu Chúa muốn dạy lẽ công bình thì kẻ làm nhiều phải được hưởng nhiều, kẻ làm ít hưởng ít. Nếu dạy lòng nhân từ, thì kẻ làm buổi sáng cũng phải được thương xót; ông chủ nên tăng lương cho họ. Như vậy mới hợp lý. Dụ ngôn là một thể văn đặc biệt của Chúa Giêsu hay dùng để dẫn dắt chúng ta vào Nước Trời. Trong dụ ngôn, luôn luôn có một vài chi tiết khác thường, đôi khi vô lý. Chúa Giêsu dùng cái vô lý đó để kích thích sự tò mò của thính giả. Ngài muốn dẫn dụ họ cân nhắc về cách sống đạo của mình để tự tìm thấy con đường phải đi. Có ba lớp thính giả: Thính giả trực tiếp của Chúa Giêsu là những người Pharisêu. Vào thời đó, người Pharisêu giữ đạo rất hình thức và rất vụ luật. Họ tự cho mình là công chính nhờ tuân giữ lề luật cách chi li. Tệ hơn nữa, họ coi khinh những ai lỗi luật và dán cho họ nhãn hiệu “tội lỗi”. Chúa Giêsu muốn dạy các Pharisêu: Thiên Chúa ban lề luật để hướng dẫn chúng ta sống đạo, không phải để phân biệt đối xử; Ngài rất công bình nhưng cũng hay thương xót. Vào thời các thánh tông đồ, có nhiều Kitô hữu gốc Do thái kỳ thị những Kitô hữu gốc dân ngoại. Họ cho rằng, người Do thái phải được ưu tiên trong Nước Trời, vì họ là những kẻ “chịu nắng nôi khó nhọc suốt ngày,” còn “những người đến sau hết chỉ làm có một giờ, mà ông kể họ bằng chúng tôi sao?” Chúa Giêsu cảnh cáo họ: coi chừng! “kẻ sau hết sẽ nên trước hết, và kẻ trước hết sẽ nên sau hết.” Ngày nay, nhiều người trong chúng ta giữ đạo theo cách thức của người làm công. Họ chỉ giữ những gì luật buộc, nhiều khi rất miễn cưỡng. Họ đòi hỏi và than trách nếu không được như ý. Họ giữ đạo như một cuộc mua bán, đổi chát. Trong dụ ngôn, có những người sẵn lòng vào làm vườn nho chỉ dựa trên một lời hứa: “Các ngươi cũng hãy đi làm vườn nho ta, ta sẽ trả công cho các ngươi xứng đáng“. Được sống và làm việc trong Nước Chúa đã là một niềm vui lớn lao. Chúng ta cũng phải sống đạo với niềm tin yêu phó thác; đừng tính toán, đừng kể công với Chúa. Nếu chúng ta giữ tình con thảo với Cha trên trời, thì thiên đàng sẽ là gia nghiệp đời đời Cha dành sẵn cho chúng ta. -Lm. F.X. Bùi Ngọc Tỷ  

Tha Thứ

Dụ ngôn “ông vua tính sổ với các đầy tớ” trong bài Phúc Âm hôm nay là một lời dạy không úp mở của Chúa Giêsu về sự tha thứ. Hơn nữa, Chúa còn nhấn mạnh thêm: “Thầy không bảo con phải tha đến bảy lần, nhưng đến bảy mươi lần bảy.” Tha bảy lần là tha hết, tha hoàn toàn, tha cách trọn vẹn. Bảy mươi lần bảy là trọn vẹn hơn cả trọn vẹn. Trong cuộc sống, ai mà không từng bị tổn thương bởi người khác. Nhất là khi người khác đó lại là người thân của mình. Sự đau khổ càng sâu đậm, ý muốn trả thù càng nung nấu. Quan niệm “ăn miếng trả miếng” ăn sâu vào tâm khảm của loài người, khiến chúng ta coi đó là cách giải quyết mọi bất công. Nhưng hãy xét kỹ, nếu bạn ghi thù và luôn tìm cách trả đủa kẻ làm hại bạn, điều gì sẽ xãy ra? Trước hết, sự thù hận và đau khổ gậm nhấm tâm hồn bạn. Nó trói buộc bạn trong ngục tù phiền muộn. Nếu bạn trả được thù, người mà bạn gây hại sẽ quay lại trả thù bạn. Cái vòng luẩn quẩn đó sẽ tiếp tục leo thang cho đến khi hai bên cùng chết. Trong quyển “Putting Forgiveness into Practice”, tác giả kể một câu chuyện cảm động như sau. Một cậu bé 7 tuổi đang ngồi xe ở băng sau với hai người anh. Bổng nhiên, người mẹ quay lại tát cậu một cái choáng váng và chưỡi: “Tại mày! Tao đâu có muốn đẻ mày. Tao chỉ muốn giữ thằng cha mày ở lại. Nhưng cuối cùng nó cũng bỏ đi. Tao ghét mày!” Cái tát và những lời lẽ tuyệt tình đó in sâu vào tâm hồn đứa bé. Hai mươi ba năm sau đó, người con nay đã trưởng thành. Anh thử đặt mình vào hoàn cảnh của mẹ mình lúc đó. Một cô gái đang học trung học bị bạn trai bỏ rơi. Không bằng cấp, không nghề nghiệp, không tiền, với một gánh gia đình phải nuôi. Cô ta phải cảm thấy mệt mỏi, đau đớn, cô đơn và thất vọng. Người con quyết định đến thăm mẹ mình. Anh nói mình đã hiểu tâm trạng của mẹ và mình vẫn thương mẹ. Hai mẹ con bậc khóc trong vòng tay của nhau. Giọt nước mắt tha thứ đã cuốn trôi mọi xiềng xích đã trói buộc tâm hồn họ bao nhiêu năm qua. Đặt mình ở hoàn cảnh của người khác sẽ giúp chúng ta dễ thông cảm và tha thứ cho nhau. Lời kinh của thánh Phanxicô: “Lạy Chúa, xin hãy dùng con như khí cụ bình an của Chúa. Để con đem yêu thương vào nơi oán thù, đem thứ tha vào nơi lăng nhục, đem an bình vào nơi tránh chấp, đem chân lý vào chốn lỗi lầm.” -Lm. F.X. Bùi Ngọc Tỷ

Sửa Dạy

Đài khí tượng có bổn phận phải báo trước cho dân  chúng những thiên tai như bão tố, lụt lội sắp xãy ra. Họ không thể trốn trách nhiệm, lấy cớ là những dự báo đó sẽ làm mọi người hoang mang, hoặc tức giận. Cũng vậy, các ngôn sứ như Ê-giê-ki-ên có bổn phận phải lên tiếng nhắc nhở mọi người nếu họ bước vào con đường lầm lạc. Chúa nói trong bài đọc thứ nhất hôm nay: “Ta đã đặt ngươi làm người canh gác cho nhà Ít-ra-en… nếu ngươi không chịu nói để cảnh cáo người gian ác từ bỏ con đường xấu xa, thì chính kẻ gian ác ấy sẽ phải chết vì tội của nó, nhưng Ta sẽ đòi ngươi đền nợ máu nó.” Trách nhiệm cảnh cáo kẻ sai lầm không phải chỉ dành riêng cho các ngôn sứ thời xưa, hay cho các vị mục tử thời nay, mà cho mọi phần tử trong Hội Thánh. Vợ chồng, anh chị em, bạn hữu phải nhắc nhở và giúp đỡ nhau tránh xa con đường tội lỗi. Cha mẹ ông bà phải sửa dạy con cháu. Thầy dạy phải tận tình dạy dỗ học sinh của mình. Là người, ai cũng có khuyết điểm. Dầu được ơn Chúa cải đổi giúp chúng ta nên con người mới, nhưng bản tính yếu đuối và những thiếu sót bẩm sinh vẫn tồn tại trong ta. Chính vì vậy, những sai lỗi, những đụng chạm, xô xát, gây thương tổn nhau không thể tránh khỏi. Có nhiều cách sửa sai. Có cách nghiêm khắc tàn nhẫn không có tình người. Có cách đầy thù hận và ghen ghét. Có cách mềm yếu qua loa vì sợ mất lòng. Có cách đầy thiên kiến và bất công. Cách thức sửa dạy nhau trong bài Phúa Âm hôm nay vừa tôn trọng chân lý, vừa nồng đậm nét yêu thương và xây dựng. Bước thứ nhất, thực thi trong sự kín đáo riêng tư giữa hai người. Điều này nói lên sự kính trọng và tin tưởng nhau. Bước thứ hai, với sự giúp đỡ của hai hay ba người, sự việc sẽ được tìm hiểu cách khách quan hơn và sự góp ý của nhiều người sẽ có nhiều hiệu quả hơn. Bước thứ ba là dựa vào uy tín và ơn mạc khải của Hội Thánh để đạt được mức cao nhất trong việc tìm kiếm và thực thi Thánh Ý Chúa. Tất cả những sự nhắc nhở, cảnh cáo, thậm chí sửa phạt, đều phải phát xuất từ tình yêu. “Thương con cho roi cho vọt. Ghét con cho ngọt cho bùi.” Lời Chúa trong thư Rôma hôm nay nói lên trọng tâm của tất cả mọi sửa dạy: “Anh em đừng mắc nợ gì ai, ngoài món nợ tương thân tương ái; vì ai yêu người, thì đã chu toàn Lề Luật.” -Lm. F.X. Bùi Ngọc Tỷ

Ơn Rẻ Tiền

Thần học gia Dietrich Bonhoeffer vào năm 1930 đã cho xuất bản một quyển sách kinh điển tựa đề “Cái giá của người môn đệ.” Trong đó ông viết: “Giảng về sự tha thứ mà không đòi hỏi phải hối hận, về ban ơn mà không đòi phải vác thập giá theo Chúa; đó là thứ ơn rẻ tiền.” Người môn đệ phải là người đón nhận ơn tha thứ với tâm hồn thống hối; phải là người vui mừng mang lấy ách của Chúa Kitô và bước theo chân Ngài; đó là cái giá của người môn đệ. Không phải chỉ nói miệng, Bonhoeffer đã sống như người môn đệ. Ông lớn tiếng chống lại chính sách diệt chủng của Đức quốc xã, nên đã bị bắt và bị xử tử. Ngày nay, máu tử đạo vẫn còn đổ ra ở nhiều nơi trên thế giới. Gần đây, cả thế giới bàng hoàng khi tận mắt nhìn thấy một cảnh hết sức dã man xãy ra ở Nigeria, Phi châu. Một mục sư và gia đình của ông bị đánh đập tàn nhẫn và bị thiêu sống trước sự chứng kiến của dân làng gồm cả phụ nữ và trẻ em. Chúng ta sống ở thế giới tự do nên không sợ phải đổ máu khi đi theo Chúa. Nhưng thế giới tự do lại là nơi đề cao những giá trị phản Kitô giáo như phá thai, tự do luyến ái, hôn nhân đồng tính, coi tiền tài vật chất danh vọng thú vui là mục tiêu tối hậu của đời người. Là Kitô hữu, chúng ta không thể sống theo lối sống ở đời, do đó phải chịu sự khinh chê, ghen ghét, cô lập và thua thiệt. Đó cũng là một hình thức tử đạo mà có người gọi là “tử đạo trắng.” Ngôn sứ Giêrêmia rất thấm thía điều đó nên Ngài thưa với Chúa: “Suốt ngày con đã nên trò cười cho thiên hạ, để họ nhạo báng con… Vì lời Đức Chúa mà con đây bị sỉ nhục và chế giễu suốt ngày.” Sống tử đạo hằng ngày không phải dễ. Là những con người yếu đuối, chúng ta chỉ muốn tránh né khó khăn để tự bảo vệ mình. Thánh Phaolô khuyên các tín hữu: “Hãy cải biến con người anh em bằng cách đổi mới tâm thần, hầu có thể nhận ra đâu là ý Thiên Chúa: cái gì là tốt, cái gì đẹp lòng Chúa, cái gì hoàn hảo.” (Rm 12:2) Ơn Chúa không phải là thứ ơn rẻ tiền. Làm tín hữu không phải chỉ bằng câu nói “tôi tin”. Nhưng phải sống theo lối sống của Đấng đã tự hiến mình trên thập giá vì yêu thương và vâng phục. Chúa Giêsu trong bài Phúc Âm hôm nay đang nói với chúng ta: “Ai muốn theo Thầy, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo.”