Thánh Cyrillô, Tu Sĩ Và Thánh Mêthođiô, Giám Mục, Tông Đồ Dân Slave – Kính ngày 14 tháng 2

Cyrillô và Mêthođiô là hai anh em ruột sinh ra trong một gia đình quý phái ở thành phố Byzance. Cyrillô được triều đình Constantinô kính nể vì tài hoa và đức hạnh. Ngài đã từng dạy triết học nhiều trường và giữ chức ngoại giao bên Ả Rập. Nhưng sau đó, ngài bỏ tất cả để hiến thân cho Chúa. Còn Mêthođiô có một sức chịu đựng dẻo dai, kiên trì. Hai anh em được vua Michel III sai đến Moravie. Chẳng mấy chốc, hai ngài đã đưa dân tộc này về với đức tin Công Giáo (863). Danh tiếng các ngài vang đến nước Ý. Năm 868, Ðức Nicôlaô I cho gọi các ngài về Rôma và ở đây các ngài được Ðức Tân Giáo Hoàng Adrien phong chức Giám Mục. Sau đó ít lâu, Cyrillô chết tại Rôma năm 869. Mêthođiô trở lại Moravie và dẫn đưa những người Bohêmes, Pannoniens, Bulgaries về với Giáo Hội. Ngài cũng rao giảng Phúc Âm tại Ba Lan. Sau khi lập tòa giám mục tại Leopol, ngài sang Moscou (Nga) lập giáo phận Kiev. Sau đó, ngài trở về Moravie và an giấc trong Chúa với niềm vui sướng vì đã lôi kéo không biết bao nhiêu linh hồn về với Chúa (885). (dongcong.net)      

Thánh Scolastica, Đồng Trinh (540) – Kính ngày 10 tháng 2

Thánh nữ Scolastica là em ruột thánh Biển Ðức. Hai anh em sinh đôi trong một gia đình đạo hạnh giàu sang miền Norcia. Vừa mới chào đời được mấy tháng, hai anh em phải mồ côi mẹ. Từ đó cả hai chỉ còn biết ngoan ngoãn sống trong tình thương ấp ủ của người cha hiền từ đạo đức. Trong cảnh gà trống nuôi con, ông Eurôpiô càng chăm lo săn sóc và âu yếm hai con hơn để bù đắp lại một phần nào tình mẫu tử mà hai trẻ đã phải thiệt thòi. Lớn lên hai anh em cùng được cắp sách đến trường. Với tình huynh đệ sâu xa, hai anh em hằng thương yêu nhau khăng khít và sớm biết giúp nhau sống theo gương nhân đức của cha, nhất là lòng yêu mến Ðức Thánh Thần, Ðấng tác tạo ơn Thánh Hóa của mỗi người. Ðến tuổi trưởng thành, hai anh em lại cùng chung một lý tưởng tận hiến phụng sự Chúa và các linh hồn. Thánh Scolastica cũng lập nhiều nhà dòng và thường đến bàn hỏi anh về đường tu đức. Mỗi năm hai anh em gặp nhau một lần. Ba ngày sau lần gặp gỡ cuối cùng, Thánh Biển Ðức thấy linh hồn em xinh đẹp như chim bồ câu nhẹ nhàng bay về Thiên Quốc.  

Thánh Agata, Đồng Trinh Tử Đạo –  Kính ngày 5 tháng 2  

Thánh Agata sinh tại Sicilia trong một gia đình danh giá. Các chị em của người là Anê, Lucia và Cêcilia đã đổ máu ra minh chứng Chúa Kitô dưới thời bạo vương Ðêciô, năm 251. Tương truyền rằng từ thuở bé, Agata đã hứa giữ mình đồng trinh. Nhưng quan trấn ở Sicilia là Quintianô ngỏ ý xin cưới thánh nữ. Bị từ khước, ông tức giận bắt giam thánh nữ, lấy cớ ngài là người Công Giáo. Người ta đã hành hạ, khinh khi làm nhục ngài. Ðể trả thù, bạo quan hạ lệnh nướng ngài trên giường sắt. Sau đó, người ta lại tống giam thánh nữ. Lạ thay, trong đêm đó, thánh Phêrô đã hiện ra và chữa lành cho ngài.Dù bị quan trấn Quintianô nhiều lần dụ dỗ, ngài vẫn một lòng trung kiên với đạo Chúa. Dù đau đớn lăn lộn trên than hồng và mảnh chai nhọn, ngài vẫn tin cậy vào Chúa, Ðấng sẽ cứu linh hồn ngài. Chính cử chỉ của thánh nữ khiến cả thành phố náo động, Quintianô sợ dân nổi loạn nên truyền giam thánh nữ trong ngục. Ngài đã chết rũ tù ngày 05/12/251. Thánh nữ đã làm nhiều phép lạ như che chở thành Catana khỏi hiểm họa núi lửa Etna. Ngay từ thời đó, người ta đã cầu khẩn và cậy trông vào sự cầu bầu của thánh nữ. Giáo Hội mừng kính ngài vào ngày 05/02 mỗi năm.  

 Tìm Hiểu Ý Nghĩa, Tập Tục và Tinh Thần Mùa Vọng

Tại sao gọi là Mùa Vọng? – Mùa Vọng dịch từ tiếng La tinh “Adventus”, có nghĩa là “đến”. Vọng là mong đợi, mong chờ điều sắp đến. Mùa Vọng có mấy nghĩa? Có 4 nghĩa: Mùa Vọng nhớ lại thời gian dân Do thái mong đợi Đấng Messia (Chúa Kitô) đến để “giải phóng” dân Israel khỏi ách tội lỗi. Ngài “đã đến” lần thứ nhất cách đây hơn 2 ngàn năm. Ngài đã giải phóng họ khỏi ách tội lỗi bằng giáo lý và cái chết của Ngài. Mùa Vọng còn có ý nghĩa chuẩn bị đón Chúa Kitô “sẽ đến” lần thứ hai vào ngày tận thế. Không ai biết được ngày giờ nào. Ngày nay, mùa Vọng để dọn lòng mừng kỷ niệm lễ Chúa Giáng sinh vào ngày 25 tháng 12. Mỗi người cần “tỉnh thức, sẵn sàng” đón Chúa đến vào ngày tận thế đời mình (giờ chết), để Chúa đưa mình về Nước Chúa muôn đời. III. Thời gian mùa Vọng dài bao lâu? Giáo hội ấn định mùa Vọng dài 4 tuần lễ trước lễ Giáng Sinh (trong tháng 12) để nhớ thời gian dân Do thái, sau khi được đưa ra khỏi đất nô lệ Ai cập đã đi lang thang trong sa mạc 40 năm trước khi được vào đất hứa. VI.  Nghi lễ mùa Vọng có gì khác? Bàn thờ, giảng đài, phủ khăn màu tím lạt có ý gì? – Mầu tím lạt, nhắc nhớ giáo dân ăn năn sám hối tội lỗi. Vòng hoa 4 cây nến, tượng trưng cho điều gì? Bốn cây nến tượng trưng cho tuần trước lễ Chúa Giáng sinh, mỗi tuần đốt thêm một cây. Ba cây màu tím tượng trưng cho sám hối và một cây màu hồng dùng cho Chúa nhật thứ 3, nói lên niềm vui như Thánh Phaolô kêu gọi: Hãy vui lên… vì Chúa đang đến! Vòng hoa mùa vọng với cành lá xanh tượng trưng cho sự sống muôn đời. Hạt giống, trái hồ đào dùng để trang trí trên vòng hoa tượng trưng cho sự sống lại và những hoa trái tiêu biểu cho lương thực dồi dào của đời sống Kitô hữu. Nến tượng trưng cho ánh sáng Chúa Kitô. Chủ tế mặc áo lễ màu gì? – Màu tím lạt, nhiều nhà thờ Mỹ chủ tế mặc màu xanh lá thông. Bài đọc trong thánh lễ như thế nào? – Theo chu kỳ năm 3 năm: ABC. Ca đoàn hát những bài có ý nghĩa gì? – Những bài có ý nghĩa chờ mong như: Trời cao hãy đổ sương xuống…Này dân Sion, Chúa ngươi sắp tới… Tinh thần mùa Vọng là gì? – Là đáp lại lời kêu gọi của thánh Gioan Tiền hô: Hãy dọn đường đón Chúa: Quanh co uốn cho ngay, gồ ghề san cho phẳng, hố sâu lấp cho đầy, nơi cao phải bạt xuống.  Cá nhân tham gia mùa Vọng nên làm gì? – Nên làm “hang đá tâm hồn” cho Chúa Hài Đồng theo tinh thần của lễ của 3 nhà đạo sĩ mang tới dâng Chúa: vàng (mến Chúa yêu người), nhũ hương (cầu nguyện), mộc dược (hi sinh hãm mình). – Tham gia tĩnh tâm, xưng tội do giáo xứ, cộng đoàn tổ chức. (cdmedongcong.net)    

Thánh Bernađô, Tu Viện Trưởng, Tiến Sĩ Hội Thánh (1090-1153) – Kính ngày 20 tháng 8

Thánh Bernađô, Tu Viện Trưởng, Tiến Sĩ Hội Thánh (1090-1153) – Kính ngày 20 tháng 8   Bernađô sinh năm 1090 tại Fontaine miền Bourgogne nước Pháp. Trong số 7 anh em, Bernađô thường được mẹ nuông chiều hơn cả, vì thế cậu thường rụt rè và nhát sợ. Khuyết điểm đó, sau này nhờ ơn Chúa, cậu đã vượt qua và trở nên một người mạnh dạn rao giảng lời Chúa. Bernađô vào dòng Citô năm 22 tuổi. Sau ba năm nhà tập, ngài được cử đi làm tu viện trưởng tại Clairvaux, một chi nhánh của dòng. Ðời sống tu viện trong giai đoạn đầu hết sức kham khổ: đói khát, lạnh lẽo và thiếu thốn đủ thứ đã làm cho các tu sĩ ngã lòng nản chí. Nhưng ngài vẫn một mực kiên trì và làm gương cho các thầy bằng sự hy sinh hãm mình, dù sức khỏe ngài rất yếu kém.   Nhận thấy Bernađô là người có đức độ nên Ðức Giám Mục Guilliaume de Champeaux đã truyền chức linh mục cho ngài và sai ngài đi giảng thuyết. Ngài đã biện bác chống lại các lạc giáo. Nhiều bậc vị vọng đạo đời đã đến xin ngài chỉ dẫn cho trong mọi công việc. Tiếng tăm ngài vang khắp nơi, nhưng ngài vẫn khiêm tốn và ưa thích tìm về đời sống trầm lặng trong tu viện. Ngài đã viết nhiều tác phẩm rất có giá trị, nhất là về phương diện tín lý. Ngài đã giúp Ðức Giáo Hoàng Innôcentê II trong công việc chống lại bọn ly giáo Pierre de Léon. Thánh nhân chết năm 1153 tại Clairvaux, hưởng thọ 63 tuổi, để lại nhiều tu viện do chính ngài lập nên và có nhiều bút tích quý giá. Ðức Piô VIII đã tôn phong ngài lên bậc Tiến Sĩ Hội Thánh năm 1830.

Thánh Piô X, Giáo Hoàng (1835-1914) – Kính ngày 21 tháng 8

Thánh Piô X, Giáo Hoàng (1835-1914) – Kính ngày 21 tháng 8   Thánh Piô X, tên thật là Joseph Sarto, sinh năm 1835 tại làng Riese, miền Vénétia nước Ý. Ngài rất thông minh và cần mẫn làm việc. Học Tiểu Chủng Viện Padua, thụ phong linh mục năm 1858. Ngài đã từng làm phó xứ Tomholo, rồi chánh xứ Salzanô, và giữ những chức vụ quan trọng trong Giáo Triều. Ðược phong làm Giám Mục giáo phận Mantoue năm 1884. Ngài đã chu toàn xứ mạng chủ chăn, chuyên chăm huấn luyện các giáo sĩ, để ý đến phụng vụ và giới nghèo. Năm 1893, ngài được phong làm Hồng Y, Giáo Chủ Venise. Sau khi Ðức Giáo Hoàng Lêô XII mất, ngài được bầu lên thay ngày 04/8/1903. Dầu ngài cố gắng từ chối, nhưng vẫn không qua khỏi ý Chúa. Trên ngai Giáo Hoàng, ngài vẫn không bỏ lối sống xưa kia, nhất là lòng khiêm nhường, đơn sơ và khó nghèo là những đặc điểm nổi bật nhất. Ngài lo bảo vệ đức tin, lên án chống lại phái duy tâm, tiếp xúc với các nhóm ly giáo tranh đấu bảo vệ sự tự do của Giáo Hội, đặt một nền giáo dục vững chắc cho tu sĩ, soạn thảo cuốn giáo luật, khuyến khích việc tôn thờ Bí Tích Thánh Thể, việc năng rước lễ và việc trẻ em rước lễ sớm hơn. Lo lắng và đau khổ cho cuộc thế chiến đang bắt đầu, ngài qua đời ngày 20/8/1914 và được Ðức Giáo Hoàng Piô XII phong thánh năm 1945. (Theo Nhóm Truyền Giáo Á Châu: Châu Kiên Long, Đà Lạt)

Thánh Gioan Euđô, Linh Mục Lập Dòng (1601-1680) – Kính ngày 19 tháng 8

Thánh Gioan Euđô, Linh Mục Lập Dòng (1601-1680) – Kính ngày 19 tháng 8 Thánh Gioan Euđô sinh ngày 14/11/1601 tại làng Ri, thuộc giáo phận Seés miền Normandie nước Pháp. Ngài theo học với các cha dòng Tên tại Caen và sau đó lên đại học. Trong giai đoạn này, ngài muốn đáp lại lời Chúa mời gọi trở nên linh mục, nhưng bị gia đình ngăn cản. Năm 1623, ngài chính thức gia nhập hội dòng Giảng Thuyết do Ðức Hồng Y Bérulle sáng lập và rất hăng say với công việc truyền giáo. Sau khi thụ phong linh mục, ngài được chỉ định đi coi xứ ở miền Aubervillier, đồng thời kiêm nhiệm chức vụ giảng dạy tại nhiều nơi. Gương mẫu đời sống và lời nói hùng hồn của ngài có sức cảm hóa và lôi kéo nhiều người. Ngài còn biểu hiện tinh thần truyền giáo cao độ qua những công tác bác ái. Khi quê hương bị cơn dịch tung hoành, ngài đã tình nguyện đi săn sóc cho các bệnh nhân và an táng những người đã chết. Chính ngài cũng đã ra sức chấn chỉnh lại đời sống đạo đức và uy thế của các giáo sĩ đã bị sa sút, và ngài đã thiết lập nhiều Chủng Viện để thực hiện dự tính này. Ngoài ra, ngài còn lập hội Sùng Kính Trái Tim Chúa Giêsu và Mẹ Maria, dòng Ðức Bà Bác Ái (1662), sau này đổi tên là dòng Ðấng Chăn Chiên Lành để giáo dục các thiếu nữ sa đọa. Ngài qua đời ngày 19/8/1680. Ðức Giáo Hoàng Piô X đã cất nhắc ngài lên bậc Chân Phước. Ðức Piô XI, dịp năm Thánh, nhằm vào ngày lễ Hiện Xuống năm 1925, đã tôn phong ngài lên bậc Hiển Thánh, và lập lễ kính trong toàn thể Giáo Hội năm 1928.   (Theo Nhóm Truyền Giáo Á Châu: Châu Kiên Long, Đà Lạt)

Thánh Maria Mađalêna – Kính ngày 22 tháng 7

Thánh Maria Mađalêna – Kính ngày 22 tháng 7  Phúc Âm thánh Marcô kể lại rằng: “Sau khi sống lại, Chúa Giêsu đã hiện ra trước hết với Maria Mađalêna, người đã được trừ khỏi bảy quỷ dữ”. Lãnh nhận ơn tha thứ, ngài đã theo Chúa trên khắp các nẻo đường rao giảng Phúc Âm. Trong khi các môn đệ chạy trốn, ngài đã đứng bên Thánh Giá cùng với Mẹ Maria và môn đệ Gioan. Khi mai táng Chúa, ngài và bà Maria vợ ông Clêôphas đã ngồi trước mộ thánh. Một tình yêu bền vững luôn luôn nối kết ngài với Chúa. Vì thế, sau khi sống lại, Chúa đã hiện ra với ngài trước hết và trao cho ngài sứ mạng loan truyền niềm vui Phục Sinh. Nhờ lời nguyện cầu và gương sáng của ngài, chúng ta cũng hãy rao giảng Chúa Kitô sống lại, để sẽ được chiêm ngắm Chúa trong vinh quang bất diệt.

Thánh Bênêđictô, Tu Viện Trưởng – Kính ngày 11 tháng 7

Thánh Bênêđictô, Tu Viện Trưởng – Kính ngày 11 tháng 7  Bênêđictô chào đời năm 480, tại Norcia. Sự giáo dục đạo đức trong gia đình đã sớm làm cho ngài trưởng thành về phương diện luân lý. Dù mới chỉ là một thiếu niên 16, 17 tuổi, mà ngài đã có những tư cách thật khôn ngoan, không ham chi những thú vui, khoái lạc, coi thường danh vọng, của cải trần gian. Sau những ngày hạnh phúc sống dưới mái nhà êm ấm, ngài được gửi đi du học tại La Mã. Ðang mải mê việc học thì Bênêđictô tìm ra ý Nhiệm Màu của Thiên Chúa. Ngài vào hoang địa Subiacô cách La Mã 40 dặm để sống đời tịch liêu thân mật với Chúa. Danh tiếng và lòng đạo đức thánh thiện của ngài được truyền tụng khắp nơi. Không một ai mà không biết đến tên ngài. Gần nơi ngài trú có một nhà dòng, vị Bề Trên vừa mới mất, nên toàn thể cộng đồng đã đến xin thánh nhân kế vị và coi sóc. Trước lời van xin tha thiết, ngài đã bằng lòng. Sau một thời gian, ngài lại trở về hang cũ, sống mật thiết với Chúa hơn. Số người đến xin làm môn đệ ngài càng ngày càng đông. Ngài phải lập ra nhiều nhà cho họ trú. Với bầu nhiệt huyết sẵn có, ngài ra sức giảng thuyết cho dân chúng xa rời các ngẫu tượng trở về với Thiên Chúa. Kèm theo lời giảng, Chúa đã dùng tay ngài thực hiện những phép lạ cả thể, chữa bệnh tật cho kẻ chết sống lại. Chúa cũng ban cho thánh nhân ánh sáng để thấu rõ lòng người, biết trước công việc xảy ra. Cuộc sống của ngài đã chứng minh lòng tin cậy nơi Chúa rất sâu xa, và nhân đức khó nghèo trọn hảo. Vì tuổi già sức yếu do thời gian chay tịnh, hy sinh hãm mình, ngià đã mong ước về cùng Chúa sau những ngày dọn mình sốt sắng. Nhiều phép lạ xuất hiện sau cái chết của ngài, làm cho danh thơm và sự nghiệp của ngài loan truyền, tồn tại mãi mãi. Chính sự phát triển mau lẹ của nhà dòng ở khắp năm châu đã nói lên được điều đó. (Theo nhóm truyền giáo Châu, Kiên Long, Đà Lạt)