Gương Thánh Trong Tuần – Thánh Hiêronimô Emilianô

Thánh Hiêronimô Emilianô, Lập Dòng (1481-1537) – Kính ngày 8 tháng 2 Thánh Hiêronimô sinh tại Venise nước Ý năm 1481, thuộc dòng họ Emilianô. Khi còn trẻ, ngài nhập quân đội để bảo vệ miền Castelnovo gần Quero, một thành phố bị địch quân chiếm đóng.  Ngài bị bắt làm tù binh nhưng được Ðức Trinh Nữ Maria cứu thoát. Tại Venise, ngài bắt đầu những công việc bác ái đặc biệt đối với trẻ em mồ côi hay bị lạc cha mất mẹ. Ngài nuôi nấng và giáo dục chúng theo đường hướng Kitô Giáo trong những nơi trú ẩn thuê mướn. Sau đó, ngài đi qua những miền khác như Brescia, Berfame, Côme và điều khiển nhiều viện mồ côi cũng như nhiều hội đoàn bác ái. Sau cùng, ngài dừng chân ở Somasque, một miền quê hẻo lánh thuộc Bergame. Nơi đây ngài lập một hội dòng mới lấy tên Somasque, được Ðức Giáo Hoàng Piô V phê chuẩn. Vì tận tâm phục vụ các bệnh nhân nên ngài bị lây bệnh và từ trần năm 1537, hưởng thọ 56 tuổi. Trong ngày lễ kính thánh Hiêronimô Emilianô, chúng ta xin Chúa ban cho những người phục vụ bệnh nhân trong các bệnh viện và cho những người đang săn sóc các trẻ cô nhi được tinh thần bác ái thực sự hy sinh đời mình cho các chi thể thiệt thòi của Nhiệm Thể Chúa Kitô. (Theo nhóm truyền giáo Châu, Kiên, Long, Đà Lạt)

Gương Thánh Trong Tuần – Thánh Antôn, Thánh Sebastianô

Thánh Antôn Cả, Tu Viện Trưởng (Khoảng 251-356) – Kính ngày 17 tháng 1 Cosma, một ngôi làng xinh đẹp với cảnh sắc thơ mộng của miền Ai Cập đã là nơi đón nhận Antôn vào cuộc  sống. Antôn lớn lên giữa bầu khí đầm ấm của một gia đình quý phái. Nhưng rồi cha mẹ lần lượt khuất bóng và Antôn  phải bao bọc em gái. Hai người luôn thương yêu và nâng đỡ lẫn nhau. Một buổi sáng, Antôn tới nhà thờ dự thánh lễ và đã nghe lời Phúc Âm: “Nếu con muốn trở nên trọn lành, hãy về bán hết gia tài, phân phát cho kẻ nghèo khó” (Mt 19, 21). Tưởng như Chúa đã phán bảo chính mình, Antôn đã quyết tâm thực hiện. Chàng chia ruộng đất cho bà con lối xóm, bán tất cả những cái đang có, lấy tiền bố thí cho người túng bấn, gửi em gái vào một cộng đồng trinh nữ, còn chàng một mình lên đường theo tiếng gọi của Chúa bên Ai Cập (khoảng năm 270). Sau nhiều ngày lang thang, ngài đã gặp một vị tu hành và dựng lều gần vị ấy để học tập cuộc sống khổ hạnh. Nhân đức của chàng sáng chói và được các bạn hữu cùng lý tưởng quý mến. Trong thời gian này, ma quỷ dùng mọi nỗ lực để cám dỗ chàng, nhưng chàng đã dùng lời cầu nguyện và sự hy sinh như khí cụ để chiến thắng. Năm 35 tuổi, Antôn vào sa mạc hầu được hoàn toàn kết hợp với Thiên Chúa. Danh tiếng ngài đồn xa. Khách thập phương kéo đến xin ngài chỉ dạy. Năm 305, ngài từ bỏ cuộc đời ẩn tu để thiết lập các tu viện và đã quy tụ được rất nhiều môn đệ. Ngoài ra, ngài còn nuôi ước vọng tử đạo. Năm 327, hoàng đế Maximinô Dain ra sắc chỉ cấm đạo Công Giáo. Thánh nhân liền tới Alexandria để khích lệ những người sắp lãnh nhận cái chết vì danh Ðức Kitô, và ngài đã ở lại đó cho đến khi cơn bách hại chấm dứt. Từ đó, ngài dựng lều trên sườn núi Gokzin, suốt ngày tiếp đón mọi người và làm nhiều phép lạ: Chữa lành bệnh nhân, trừ ma quỷ và nói tiên tri. Thánh nhân qua đời ngày 17/01/356, hưởng thọ 105 tuổi. Năm 561, xác ngài được đem về an táng trong nhà thờ thánh Gioan Tiền Hô tại Alexandria. Lòng sùng kính ngài phát sinh từ các giáo Hội Trung Ðông, tràn sang Âu Châu và Giáo Hội đã chính thức tôn phong ngài lên bậc Hiển Thánh.   Thánh Sebastianô Quân Nhân Tử Đạo (+303) – Kính ngày 20 tháng 1 Chúng ta không được rõ về năm sinh của thánh Sebastianô, nhưng chắc chắn rằng ngài thuộc gia đình quyền quý và đã sống sung túc. Năm 283, Sebastianô gia nhập quân đội. Nhờ lòng can đảm và trí thông minh, ngài đã được các bậc chỉ huy tín nhiệm và nhất là được hoàng đế Ðiôclêtianô quý mến. Bởi đó, ngài được vinh thăng đại úy trong lữ đoàn phòng vệ, tuy nhiên hoàng đế vẫn không biết ngài là người Công Giáo. Với chức vụ sẵn có, ngài đem tất cả nghị lực thời gian, len lỏi vào các trại giam để nâng đỡ an ủi các tín hữu bị bắt giữ, sẵn sàng hy sinh tới giọt máu cuối cùng. Ðồng thời, ngài cũng đã làm những phép lạ nhân danh Ðức Kitô, khiến nhiều người từ bỏ tà thần tin theo Thiên Chúa nhân lành. Cơn giông tố phũ phàng nhất xảy đến cho Giáo Hội: hoàng đế ra lệnh thanh trừng gắt gao những người giữ đạo (300). Các tín hữu lần lượt ngã gục dưới lưỡi gươm của lý hình, và những hành động của Sebastianô cũng không thoát khỏi cặp mắt canh chừng của bọn công an. Họ tố cáo ngài với hoàng đế. Lúc đầu hoàng đế không tin, nhưng cũng cho đòi ngài đến điều tra. Trước mặt hoàng đế ngài đã mạnh dạn tuyên xưng là người Công Giáo. “Thà vâng lời Thiên Chúa còn hơn vâng lời loài người” (CvSđ 5, 29). Khi thì hoàng đế hứa ban thưởng, lúc lại đe dọa, nhưng vẫn không lay chuyển đức tin kiên vững của ngài. Tức giận, hoàng đế giao cho các tiểu đội bắn cung thi hành việc xử tử. Họ điệu ngài ra ngoài thành, lột áo và trói ngài vào cột. Thân xác ngài trở nên bia hứng trọn những mũi tên bay tới. Nhưng ngài vẫn chưa chết, và ban đêm được một tín hữu đem về nhà cứu sống. Sau khi bình phục, ngài lẻn vào hoàng cung để phản đối những hành động dã man của hoàng đế. Hoàng dế ra lệnh đánh đòn, chém đầu và quăng xác xuống hồ. Bà Lucine, một người đạo đức và sốt sắng đã đem xác ngài về chôn cất tại một hang toại đạo và thế kỷ IV, người ta đã xây cất trên mộ ngài một thánh đường nguy nga.  (Theo nhóm truyền giáo Châu Kiên Long, Đà Lạt)

Thánh Hilariô, Giám Mục Tiến Sĩ Hội Thánh (315-369)

  Thánh Hilariô, Giám Mục Tiến Sĩ Hội Thánh (315-369) Hilariô cất tiếng khóc chào đời năm 315 tại Aquitaine nước Pháp, trong một gia đình thế giá. Ngay từ nhỏ cậu đã hấp thụ một nền giáo dục đầy đủ. Nhờ đó cậu đã vượt trội hơn bạn hữu về đức tính ngay thẳng và trong sạch. Trong thời niên thiếu, Hilariô đã say mê văn chương và triết lý. Nhờ những giây phút đắm chìm trong suy tưởng, ngài đã tìm thấy Ðấng Tối Cao duy nhất đáng tôn thờ, đúng như lời Giavê đã phán trong Cựu Ước: “Ta là Ðấng tự hữu”. Bằng một niềm xác tín sâu xa, ngài đã trở lại Công Giáo và lãnh nhận bí tích Rửa Tội. Với tính cách nhân đức và tài hùng biện, ngài đã là chứng nhân sống động của Chúa Giêsu. Năm 350, ngài được chọn làm Giám Mục Poitiers. Nhiệt thành chu toàn chức vụ Chúa đã trao phó, ngài đã trở thành ánh đuốc hướng dẫn dân Chúa những ngày tháng đen tối do bè rối Ariô gây nên. Lúc bấy giờ Ariô vì kiêu ngạo đã không chấp nhận quyền bính Giáo Hội, chối bỏ Chúa Giêsu là Thiên Chúa. Lý thuyết sai lạc của Ariô được một số Giám Mục nghe theo và được hoàng đế Constance trợ giúp. Trước nguy cơ đó, ngài đã triệu tập công đồng các Giám Mục để ra vạ tuyệt thông cho Ursace và Valens. Nhưng chính bọn lạc giáo đã dùng mưu để nhà vua đày ngài sang Phrygie. Trong suốt thời gian lao tù, ngài vẫn luôn hướng về địa phận qua thư từ giáo huấn tín hữu. Ngài đã viết bộ tổng luận 12 cuốn, trình bày về mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi, chống lại bè rối Ariô. Bốn năm trôi qua, hoàng đế Constance triệu tập công đồng tại Séleucide và ngài cũng được mời tham dự. Tại đây ngài đã hăng say bênh vực lập trường của Giáo Hội và đã thuyết phục được toàn thể các Giám Mục. Bọn lạc giáo sợ bị thất bại chua cay nên đã bàn với hoàng đế cho ngài được hồi hương. Ngày trở về Poitiers của ngài đã đem cho nước Pháp niềm vui mừng trọng đại và ngày ấy còn được ghi dấu bằng một phép lạ: ngài đã làm cho một em bé chết chưa kịp Rửa Tội sống lại. Với tuổi già sức yếu ngài vẫn luôn làm tròn sứ mạng giảng giáo và tiếp tục viết nhiều sách có giá trị. Sau cùng Chúa đã gọi ngài về trời ngày 13/01/369. Thể theo lời yêu cầu của các Đức Giám Mục họp tại Bordeaux, Ðức Thánh Cha Piô IX đã long trọng truy phong ngài tước vị Tiến Sĩ Hội Thánh ngày 10/01/1852. (Theo nhóm truyền giáo Châu Kiên Long, Đà Lạt)

Tìm Hiểu Về Mùa Vọng – Tại sao mùa vọng chỉ có 4 tuần

Tại sao Mùa Vọng chỉ gồm 4 tuần, đang khi Mùa Chay kéo dài đến 6 tuần, và Mùa Phục sinh 7 tuần? Thực ra nói rằng Mùa Vọng gồm 4 tuần là không đúng. Phải nói rằng Mùa Vọng gồm 4 Chúa nhật, và có thể kéo dài từ 3 tuần cho đến 4 tuần, tùy Chúa nhật thứ nhất mùa Vọng bắt đầu sớm hay muộn. Năm 2000, Mùa vọng bắt đầu ngày 3/12, và Chúa nhật thứ 4 Mùa Vọng rơi vào ngày 24 tháng chạp (áp lễ Giáng sinh), cho nên năm ấy Mùa Vọng chỉ có 3 tuần. Dù sao, Mùa Vọng chưa phải là mùa phụng vụ ngắn nhất trong năm, bởi vì Mùa Giáng sinh còn ngắn hơn nữa, bắt đầu từ lễ Chúa Giáng sinh cho đến Chúa nhật liền sau lễ Hiển linh, với thời gian thay đổi tùy năm: năm 2002 kéo dài 20 ngày, nhưng năm trước đó (2001) thì chỉ có 14 ngày. Mùa Vọng gồm 4 Chúa nhật chứ không phải là bốn tuần. Nhưng tại sao chỉ có 4 Chúa nhật mà không phải là 5-6, hoặc là 2-3? Hiện nay Mùa Vọng chỉ gồm có 4 Chúa nhật. Nhưng trong quá khứ đã có lúc mùa Vọng kéo dài 6 Chúa nhật và cũng có lúc chỉ có 3 Chúa nhật. Tại sao như vậy? Để hiểu rõ điều này, chúng ta cần phải đi ngược dòng lịch sử, vào những thế kỷ đầu tiên của Kitô giáo. Trong những thế kỷ đầu tiên, lễ trọng đại nhất trong năm phụng vụ là lễ Chúa Phục sinh. Dần dần, chung quanh lễ này người ta thiết lập một thời kỳ chuẩn bị gọi là Mùa Bốn Mươi (quadragesima), nhắc nhớ 40 ngày tĩnh tâm cầu nguyện của Đức Giêsu trong sa mạc, cũng như của các đại ngôn sứ khác (Môsê, Elia) trước khi tiếp xúc với Thiên Chúa. Đặc biệt thời gian “Bốn mươi ngày” giúp cho các dự tòng chuẩn bị lãnh nhận các bí tích khai tâm vào đêm Vọng Phục sinh. Đó là nguồn gốc của Mùa Chay (trong nguyên ngữ là 40 ngày) kéo dài 6 tuần lễ. Lễ trọng Phục sinh kéo dài 50 ngày (nghĩa là lễ Ngũ tuần), tưởng niệm biến cố Chúa Thánh Thần được ban cho Hội thánh như hoa trái của Chúa Phục sinh. Đó là nguồn gốc của Mùa Phục sinh, kéo dài 7 tuần lễ. Tóm lại, chu kỳ Phục sinh đã thành hình ngay từ những thế kỷ đầu tiên của Kitô giáo rồi. Như vậy Mùa Vọng mới xuất hiện hay sao? Sánh với Mùa Chay và Mùa Phục sinh thì quả thực Mùa Vọng còn mới mẻ. Trước hết nên nhắc lại rằng trong ba thế kỷ đầu, lịch phụng vụ chỉ mừng lễ Chúa Phục sinh. Lễ Chúa Giáng sinh xuất hiện chậm hơn, vào giữa thế kỷ IV. Và dần dần, họa theo lễ Phục sinh được chuẩn bị với một Mùa 40 ngày và kéo dài thêm 50 ngày, thì lễ Chúa Giáng sinh cũng có một thời gian chuẩn bị và một thời gian kéo dài. Khác một điều là thời gian chuẩn bị và kéo dài không đồng nhất trải qua không gian và thời gian. Điều đó có nghĩa là gì? Nói rằng “không đồng nhất trải qua không gian” có nghĩa là không phải hết mọi nơi đều có một thời kỳ chuẩn bị lễ Giáng sinh. Cụ thể là ngày nay, các Giáo hội Đông phương không biết đến mùa Vọng. Như thế là mùa Vọng thuộc về truyền thống La-tinh chứ không phải của toàn thể Giáo hội phổ quát (đây là một điều khác với chu kỳ Phục sinh). Còn nói rằng “không đồng nhất trải qua thời gian” có nghĩa là ngay cả bên Tây phương, cách thức điều hành Mùa Vọng không đồng nhất trải qua các thế kỷ. Năm 380, công đồng Saragoza (Tây-Ban-Nha) truyền cho các tín hữu phải tham dự Thánh lễ từ ngày 17 tháng 12 cho đến lễ Hiển linh. Có người coi đây là tiền lệ của Mùa Vọng, kéo dài 3 tuần lễ. Thực ra, vài sử gia cho rằng mục tiêu của thời gian 3 tuần lễ này là chuẩn bị lãnh bí tích thánh tẩy vào lễ Hiển linh mà thôi. Phải chờ đến thế kỷ sau (thế kỷ V), mới thấy vài nơi bên Pháp và bên Bắc Ý bắt đầu du nhập thời kỳ 6 tuần lễ chuẩn bị lễ Giáng sinh, nghĩa là dài như Mùa Chay. Mùa Vọng mang tính cách thống hối, với ba ngày giữ chay trong tuần (thứ hai, thứ tư, thứ sáu). Thậm chí có nơi bắt đầu mùa Vọng từ lễ thánh Martinô (10 tháng 11), từ đó có tên “Mùa Chay thánh Martinô” (quadragesima S. Martini). Đến khi mùa Vọng được du nhập vào Rôma thì Đức Giáo hoàng Grêgôriô Cả rút số Chúa nhật mùa Vọng xuống còn 4. Tuy vậy ngày nay tại giáo phận Milanô bên Italia, theo nghi điển thánh Ambrôxiô, mùa Vọng vẫn còn kéo dài 6 tuần. Bốn Chúa nhật Mùa Vọng có ý nghĩa gì? Trước khi trả lời câu hỏi này thì cần phải tìm hiểu ý nghĩa của mùa Vọng đã. Trong tiếng Việt, “vọng” có nghĩa là “mong chờ, ngóng nhìn”. Chờ cái gì? Thường thì người ta hiểu là chờ lễ Chúa ra đời; nhưng hiểu như vậy thì không đúng lắm. Nếu chỉ nhấn mạnh tới sự chờ đợi mừng lễ thì mùa Chay cũng đáng gọi là Mùa Vọng, xét vì nó là sự chờ đợi lễ Chúa Phục sinh. Thực ra tên gọi trong tiếng La-tinh, adventus không phải là “vọng”, nhưng là “đến”: đây là mùa Chúa đến. Tuy nhiên, có hai tư tưởng về việc Chúa đến: 1/ Chúa đến trần gian với việc Nhập thể, một biến cố xảy ra cách đây … [Read more…]

Tìm Hiểu Về Mùa Vọng

10 sự kiện về mùa vọng   Khắp nơi trên thế giới bắt đầu vang lên các bài hát Giáng sinh và mọi người sẵn sáng nói về mùa Giáng sinh – nhưng chưa phải lễ Giáng sinh. Mùa Vọng là mùa chuẩn bị cho lễ Giáng sinh. Vậy mùa Vọng là gì và tại sao lại quan trọng? Đây là 10 sự kiện quan trọng về mùa Vọng: 1. Việc “chuẩn bị lễ Giáng sinh” được tìm thấy trong sách ghi chép về công hội Saragossa (Synod of Saragossa), ở Tây ban nha năm 380 (sau CN). Công hội này tuyên bố các Kitô hữu đã rửa tội nên có mặt ở nhà thờ từ 17/12 đến 25/12, 8 ngày trước lễ Giáng sinh – không là mùa Vọng trọn vẹn nhưng là một sự khởi đầu. 2. Thánh Caesarius thành Arles (502-542) được coi là người có những bài giảng đầu tiên về mùa Vọng. 3. Công hội Macon ở Gaul (ngày nay là Pháp) năm 581 (sau CN) là nhân chứng hùng hồn về những gì chúng ta có thể gọi là mùa Vọng. Công hội này nói rằng các quy tắc phụng vụ đối với mùa Chay được duy trì từ 11/11 tới 24/12 (khoảng 40 ngày). Việc nối kết giữa mùa Vọng và mùa Chay phản ánh lý do tại sao màu tím sám hối lại phổ biến đối với cả mùa Vọng và mùa Chay 4.  Chúng ta cũng có bài giảng của Thánh Giáo Hoàng Gregoriô Cả (590-604) về Chúa nhật thứ II mùa Vọng. 5.  Thế kỷ thứ VII, mùa Vọng được cử hành ở Tây ban nha với năm Chúa nhật! Sách bí tích Gelasia (Gelasian Sacramentary) cũng đưa ra phụng vụ đúng đối với “năm Chúa nhật mùa Vọng”. 6.  Các Giáo hội Đông phương bắt đầu cử hành mùa Vọng từ thế kỷ thứ VIII như thời gian ăn chay nghiêm nhặt và kiêng khem – việc thực hành vẫn phổ biến trong Chính thống giáo Đông phương (Eastern Orthodoxy). Việc thực hành này cũgn phản ánh tính tương tự với mùa Chay. Một cách ngẫu nhiên, màu đỏ là màu phụng vụ phổ biến nhất đối với mùa Vọng trong các Giáo hội Đông phương. 7.  Thánh Giáo Hoàng Gregoriô VII (1073-85) đã giảm số Chúa nhật mùa Vọng từ 5 xuống còn 4 như hiện nay. 8.  Chúa nhật thứ III mùa Vọng được gọi là Chúa nhật vui mừng (Gaudete Sunday) và được đánh dấu bằng lễ phục hồng và treo màn. Gaudete nghĩa là vui mừng vì Chúa nhật thứ III là đi được nửa chặng đường mùa Vọng. Việc này hợp với lễ phục hồng được dùng vào Chúa nhật thứ IV mùa Chay (Laetare Sunday), cũng đi được nửa chặng đường mùa Chay. 9.  Vòng hoa mùa Vọng, xuất hiện trong nhiều gia đình Công giáo, là một cách sáng tạo mới. Nó được bắt nguồn từ một thói quen của người Đức hối thế kỷ thứ XIX, nguồn gốc từ những người theo thuyết Luti (Lutheranism). Việc thực hành này mau chóng được người Công giáo Bavaria theo và phát triển ra khắp thế giới. 10.  Phụng vụ mùa Vọng đề cập lần đến thứ hai của Đức Kitô trong khi vẫn nhớ lần đến thứ nhất của Đức Kitô trong lễ Giáng sinh. Như vậy, mùa Vọng được cử hành hoạt động của Thiên Chúa trong lịch sử qua Đức Giêsu Kitô. Mùa Vọng là bước ngoặt của lịch sử Kitô giáo. (Trầm Thiên Thu chuyển ngữ từ Canterbury Tales của Taylor Marshall, tinmung.net)

Tìm Hiểu Ý Nghĩa, Tập Tục và Tinh Thần Mùa Vọng

I. Tại sao gọi là Mùa Vọng? – Mùa Vọng dịch từ tiếng La tinh “Adventus”, có nghĩa là “đến”. Vọng là mong đợi, mong chờ điều sắp đến. II. Mùa Vọng có mấy nghĩa?  Có 4 nghĩa: 1.   Mùa Vọng nhớ lại thời gian dân Do thái mong đợi Đấng Messia (Chúa Kitô) đến để “giải phóng” dân Israel khỏi ách tội lỗi. Ngài “đã đến” lần thứ nhất cách đây hơn 2 ngàn năm. Ngài đã giải phóng họ khỏi ách tội lỗi bằng giáo lý và cái chết của Ngài. 2.   Mùa Vọng còn có ý nghĩa chuẩn bị đón Chúa Kitô “sẽ đến” lần thứ hai vào ngày tận thế. Không ai biết được ngày giờ nào. 3.   Ngày nay, mùa Vọng để dọn lòng mừng kỷ niệm lễ Chúa Giáng sinh vào ngày 25 tháng 12. 4.   Mỗi người cần “tỉnh thức, sẵn sàng” đón Chúa đến vào ngày tận thế đời mình (giờ chết), để Chúa đưa mình về Nước Chúa muôn đời.   III. Thời gian mùa Vọng dài bao lâu? Giáo hội ấn định mùa Vọng dài 4 tuần lễ trước lễ Giáng Sinh (trong tháng 12) để nhớ thời gian dân Do thái, sau khi được đưa ra khỏi đất nô lệ Ai cập đã đi lang thang trong sa mạc 40 năm trước khi được vào đất hứa.   IV. Nghi lễ mùa Vọng có gì khác? 1.   Bàn thờ, giảng đài, phủ khăn màu tím lạt có ý gì? – Mầu tím lạt, nhắc nhớ giáo dân ăn năn sám hối tội lỗi. 2.   Vòng hoa 4 cây nến, tượng trưng cho điều gì? Bốn cây nến tượng trưng cho tuần trước lễ Chúa Giáng sinh, mỗi tuần đốt thêm một cây. Ba cây màu tím tượng trưng cho sám hối và một cây màu hồng dùng cho Chúa nhật thứ 3, nói lên niềm vui như Thánh Phaolô kêu gọi: Hãy vui lên… vì Chúa đang đến! Vòng hoa mùa vọng với cành lá xanh tượng trưng cho sự sống muôn đời. Hạt giống, trái hồ đào dùng để trang trí trên vòng hoa tượng trưng cho sự sống lại và những hoa trái tiêu biểu cho lương thực dồi dào của đời sống Kitô hữu. Nến tượng trưng cho ánh sáng Chúa Kitô. 3.  Chủ tế mặc áo lễ màu gì? – Màu tím lạt, nhiều nhà thờ Mỹ chủ tế mặc màu xanh lá thông. 4.  Bài đọc trong thánh lễ như thế nào? – Theo chu kỳ năm 3 năm: ABC. 5.  Ca đoàn hát những bài có ý nghĩa gì? – Những bài có ý nghĩa chờ mong như: Trời cao hãy đổ sương xuống…Này dân Sion, Chúa ngươi sắp tới… 6. Tinh thần mùa Vọng là gì? – Là đáp lại lời kêu gọi của thánh Gioan Tiền hô: Hãy dọn đường đón Chúa: Quanh co uốn cho ngay, gồ ghề san cho phẳng, hố sâu lấp cho đầy, nơi cao phải bạt xuống. 7.  Cá nhân tham gia mùa Vọng nên làm gì? – Nên làm “hang đá tâm hồn” cho Chúa Hài Đồng theo tinh thần của lễ của 3 nhà đạo sĩ mang tới dâng Chúa: vàng (mến Chúa yêu người), nhũ hương (cầu nguyện), mộc dược (hi sinh hãm mình). – Tham gia tĩnh tâm, xưng tội do giáo xứ, cộng đoàn tổ chức. – Không nên quá chú trọng vào các gói quà (gift), thiệp mừng, các sản phẩm thương mại, máng cỏ lập lòe đèn điện, các cuộc vui trần tục mà quên đi TÌNH THƯƠNG BAO LA của Ngôi Hai giáng trần chuộc tội muôn dân. (cdmedongcong.net)

Gương Thánh Trong Tuần – Thánh Phanxicô Khó Khăn

Thánh Phanxicô Khó Khăn, Lập Dòng (1182-1226) – Kính ngày 4 tháng 10   Thánh Phanxicô Khó Khăn sinh tại Assisi khoảng năm 1182. Cha ngài, ông Bênađô là một thương gia tơ sợi nổi tiếng. Mẹ ngài là bà Pica, một người đạo đức, đã hun đúc ngài trở thành một vị thánh thời danh. Lúc bấy giờ có cuộc nổi loạn của đám lê dân chống lại những người quý tộc. Ngài bị bắt và bị cầm tù gần một năm. Trong thời gian đó, ngài bị một cơn bệnh trầm trọng; sau khi khỏi, Chúa đã cảm hóa ngài với câu: “Lạy Cha chúng tôi ở trên Trời”. Ngài quyết định từ bỏ mọi sự, sống đời nghèo khó năm 1206. Bị cha già hết sức phản đối, nhưng dù thương cha, ngài cũng không dám làm ngược lại thánh ý Chúa. Ngài phân phát hết của cải, chỉ gữ lại chiếc áo choàng cũ rồi đi rao giảng Tin Mừng. Trong cảnh sống cơ cực này, được Chúa thúc đẩy, ngài thành lập hội dòng Anh Em Hèn Mọn. Sau đó, ngài lui về Alverne, một nơi cô tịch phía Bắc Assisi để suy niệm và ăn chay đền tội. Trong lúc xuất thần, ngài nhìn thấy Thiên Thần Sêraphim và một ảnh chuộc tội. Khi tỉnh lại, lạ lùng thay, chính trên thân thể ngài, Chúa đã in năm dấu thánh cho người Chúa yêu (1224). Hai năm sau, ngài lâm bệnh. Trước giờ chết, ngài khuyên bảo anh em hãy cố giữ tinh thần nghèo khó và đức tin sâu xa vào Giáo Hội Chúa. Ngài nhắm mắt lìa trần ngày 04/10/1226. Dưới triều Ðức Giáo Hoàng Grêgoriô, ngài được tôn lên bậc Hiển Thánh. Nhìn tấm gương nghèo khó thương người, chúng ta hãy xin Chúa ban cho mỗi người chúng ta biết lướt thắng mọi vinh hoa phú quý để tăng lòng mến Chúa và ham chuộng tinh thần Phúc Âm. (Theo nhóm truyền giáo Châu Kiên Long, Đà Lạt)

Gương Thánh Trong Tuần

Tổng Lãnh Thiên Thần Micae, Raphae, Gabrie – Kính ngày 29 tháng 9 Micae tiếng Hy Bá có nghĩa là “Ai bằng Thiên Chúa”. Thánh Micae đã chống lại thần dữ để bênh vực quyền tối cao của Thiên Chúa. Giáo Hội nhận thánh Micae như Ðấng bảo trợ và tin rằng ngài vẫn dâng lời cầu nguyện của chúng ta lên ngai tòa Chúa. Tổng Lãnh Thiên Thần Micae cũng đã hiện ra với nhiều người, đặc biệt năm 708, ngài hiện ra với Ðức Giám Mục thành Arranche và Ðức Giám Mục đã xây một thánh đường nguy nga để kính dâng Ðức Micae tại Mont Saint Michel. Raphae có nghĩa là “Thầy thuốc của Thiên Chúa”. Chúng ta biết danh hiệu của Tổng Lãnh Thiên Thần này qua những trang sách Tôbia. Chính ngài đã được Thiên Chúa sai đến giúp đỡ gia đình ông trong cơn hoạn nạn. Ngài đã giúp ông đòi được nợ, chữa ông khỏi mù và lo cho con ông được yên bề gia thất. Gabrie có nghĩa là “Uy lực của Thiên Chúa” cũng còn gọi là “Sứ Thần truyền tin”. Ngài luôn can thiệp vào những sứ mạng liên quan đến việc cứu rỗi loài người. Chính ngài đã báo cho tiên tri Ðaniel thời đại xuất hiện của Ðấng Cứu Thế và là sứ giả được phái đến cùng với Trinh Nữ Maria để loan báo ý định của Thiên Chúa, và cũng chính là người đã nhiều lần hiện ra với thánh Giuse. Chúng ta cũng một lòng hiệp cùng Ðức Micae để luôn bảo vệ Giáo Hội, hiệp ý với Ðức Gabrie mỗi khi đọc kinh “Kính Mừng” để tỏ lòng sùng kính Ðức Mẹ, và xin cùng Ðức thánh Raphae thương chữa bệnh phần xác và ban ơn cứu rỗi phần hồn cho chúng ta.     Thánh Têrêxa Hài Ðồng Giêsu (1873-1897) – Kính ngày 1 tháng 10 Thánh Têrêxa chào đời ngày 02/01/1873 tại Alancon nước Pháp. Song thân là cụ Louis Martin và bà Maria Guérin. Khi Têrêxa chưa tròn 4 tuổi, bà Guérin đã vội ra đi để lại một tang buồn cho gia đình, nhất là đối với Têrêxa. Thánh nữ được cha già và các chị dìu dắt trên đường đạo đức và ngài tiến triển rất mau. Năm 10 tuổi, Têrêxa rước lễ vỡ lòng và chịu phép Thêm Sức. Cùng năm đó, ngài bị một cơn bệnh trầm trọng và được Ðức Mẹ chữa khỏi một cách lạ lùng. Lễ sinh nhật 1887, ngài quyết định đi theo tiếng Chúa gọi. Ngài được Ðức Giáo Hoàng ban đặc ân nhận vào dòng Kín khi mới 15 tuổi. Ở đây, thánh nữ chăm chú cầu nguyện, nung đốt lửa mến Chúa và giúp đỡ chị em trong nhà. Những nhân đức nổi bật nhất nơi thánh nữ là lòng đơn sơ phó thác vào Chúa, bác ái với mọi người và yêu mến các linh hồn. Với sự hy sinh chịu đựng, ngài chu toàn bổn phận và được chị Pauline khuyến khích ghi lại cuốn “Một tâm hồn” Ngày 14/6/1895, thánh nữ cảm thấy vết thương tình yêu mở lớn trong khi viếng Ðàng Thánh Giá. Ngày 08/7/1897, thánh nữ lâm bệnh nặng và ngày 01/10/1897, sau khi lãnh của ăn đàng, thánh nữ đã trút hơi thở sau cùng. Năm 1925, Ðức Thánh Cha Piô XI đã phong ngài lên bậc Hiển Thánh và đặt ngài làm quan thầy các xứ truyền giáo. Ngày lễ kính thánh Têrêxa, chúng ta hãy xin Chúa, qua lời cầu bàu của thánh nữ, cho chúng ta luôn chấp nhận sự đau khổ Chúa gửi trong tinh thần đơn sơ và phó thác. (Theo Nhóm truyền giáo Châu Kiên Long, Đà Lạt)

Gương Thánh Trong Tuần

Thánh Augustinô, Giám Mục Tiến Sĩ Hội Thánh (354-430) – Kính ngày 28/8 Augustinô sinh năm 354 tại Thagaste, một làng nhỏ thuộc Bắc Phi. Cha ngài là người ngoại giáo, mẹ ngài là thánh nữ Monica. Nhận thấy Augustinô sáng trí và có nhiều triển vọng nên hai ông bà quyết định cho ngài theo đuổi việc học tới cùng. Nhưng tại kinh thành Carthage,Augustinô bị tiêm nhiễm bởi nếp sống trụy lạc sa đọa và chạy theo những tư tưởng lạc giáo Manikê trái nghịch với đức tin Công Giáo. Mẹ ngài hết sức đau buồn và bà hằng cầu nguyện cho ngài. Sau những năm đắm mình trong tà thuyết và lạc thú, Augustinô chán ngán và rơi vào một tình trạng cô đơn, sầu muộn tột độ. Chính trong lúc ấy, Chúa đã đến gõ cửa lòng ngài: Chỉ một câu kinh thánh: “Ðừng sống theo dục tình và lạc thú dâm ô nữa, nhưng hãy mặc lấy Chúa Giêsu Kitô” đã khiến đời ngài chuyển hướng hoàn toàn. Ngài bắt đầu nghiên cứu giáo lý Công Giáo, theo sự chỉ dẫn của Ðức Cha Ambrosiô và ngài được Rửa Tội năm 387, lúc đó ngài đã 33 tuổi. Ngài trở lại Carthage (Phi Châu), sống một cuộc đời khổ hạnh và sám hối trong một dòng tu. Sau đó ngài được đề cử làm Giám Mục thành Hyppone. Sự khôn ngoan và thánh thiện của ngài đã giúp cho Giáo Hội Phi Châu tiến triển rất nhiều. Ngài còn để lại những bộ sách quý giá về thần học, minh giáo và chú giải thánh kinh. Trong suốt quãng thời gian làm Giám Mục, ngài còn thể hiện một tinh thần khiêm tốn và tình huynh đệ bác ái tuyệt hảo đối với các linh mục dưới quyền ngài.   Kính Nhớ Thánh Gioan Baotixita Bị Chém Ðầu – Ngày 29/8 Sống cuộc đời nhiệm nhặt và can đảm, thánh Gioan Baotixita đã trở nên một tấm gương sáng cho những ai đang đổ máu chiến đấu vì danh Ðức Kitô, đồng thời ngài đã thực hiện được hai con đường thánh thiện mà người tín hữu phải noi theo. Nếu ngày sinh nhật của ngài cùng với tâm tình thống hối để bước vào mùa vọng là như một lời loan ban ơn cứu độ đã gần đến trong vui mừng và hân hoan, thì ngày hôm nay, cuộc tử nạn của ngài đã nói lên đặc tính của một vị tiên tri hoàn toàn đáp trả lời mời gọi của Thiên Chúa. “Ngài đã không sợ hãi, lớn tiếng trước mặt các vua chúa. Ngài đã hiến mạng sống cho công bình và chân lý”.  Ngài đã tự xóa nhòa trước Thiên Chúa khi thời giờ đã điểm và ngài đã trở nên nhân chứng hào hùng nhất cho niềm tin nơi Ðấng Tối Cao.  

Gương Thánh Trong Tuần

 Thánh Giacôbê Tông Ðồ (Kính ngày 25/7) Thánh Giacôbê là anh của thánh Gioan, con ông Zêbêđê, ngài là bạn đồng nghiệp với thánh Phêrô và Anrê, sinh sống bằng nghề chài lưới trên bờ biển hồ Giênêsareth. Khi đi ngang qua, Chúa Giêsu trông thấy hai anh em ngài đang vá lưới với cha dưới thuyền, Chúa liền gọi và lập tức hai ngài liền bỏ cha mà theo Chúa. Mặc dù lòng nhiệt thành có pha chút tham vọng trần thế, bằng chứng là hai anh em ngài đã cùng mẹ đến xin được ngồi bên tay tả và bên hữu Chúa nhưng ơn sủng của Chúa đã cải tạo khiến ngài sẵn sàng hy sinh đến giọt máu cuối cùng. Thánh nhân trở nên kẻ thân cận của Chúa, cùng với thánh Phêrô và Gioan. Ngài đã chứng kiến việc con gái ông Zairô sống lại, việc Chúa biến hình trên núi Taborê, và cơn hấp hối của Chúa trong vườn cây Dầu. Ngài đã được vinh dự là vị tông đồ đầu tiên hiến mạng sống cho Tin Mừng. Khoảng năm 43 hay 44, vào trước ngày lễ Phục Sinh, vua Hêrôđê Agrippa I đã xử trảm ngài đúng như lời Chúa Giêsu đã phán: “Con sẽ uống chén đắng của Ta” Từ thế kỷ IX, người ta tôn kính mồ của ngài tại Compostelle và lòng tôn kính ấy đã lan tràn khắp nơi trên thế giới.   Thánh Gioan Kim và Anna – Thân Phụ Mẫu Đức Trinh Nữ Maria (Kính ngày 26/7) Mặc dầu Phúc Âm không nói gì đến đời sống của hai đấng, nhưng căn cứ vào thánh truyền, chúng ta có thể đi ngược dòng thời gian để tìm hiểu những dấu tích. Các ngài đã tạo thành một móc xích, nối kết Israel cũ và Israel mới, nối kết Cựu Ước và Tân Ước. “Các ngài đã nhận lãnh phúc lành của Thiên Chúa” và “nhờ các ngài, phúc lành được hứa cho mọi dân tộc đã đến với chúng ta”. Các ngài đã sinh ra Ðức Trinh Nữ Maria, Mẹ của Con Thiên Chúa. Vì thế, thánh Ðamascênô ca tụng hai đấng như sau: “Lạy thánh Gioakim và Anna, đôi bạn hạnh phúc, tất cả mọi tạo vật đều mang ơn các ngài, vì nhờ các ngài mà tạo vật đã dâng lên cho Ðấng Hóa Công một lễ vật cao trọng, đó chính là Ðức Maria, Mẹ Thiên Chúa.     Thánh Matta Ðồng Trinh (thế kỷ I – Kính ngày 29/7) Matta đã xuất hiện cả thảy 3 lần qua Phúc Âm: trước hết, thánh nữ cùng với em là Maria đón Chúa vào nhà và mời dùng bữa tại Bêtania; trước khi Lazarô được sống lại, thánh nữ đã tuyên xưng Chúa là Con Thiên Chúa và sau cùng trong bữa tiệc sáu ngày trước lễ Phục Sinh. Trong hai bữa ăn đó, Matta thường bận rộn với việc bếp núc, trong khi ấy Maria lấy thuốc thơm xức cho Chúa hay ngồi dưới chân nghe Chúa giảng dạy. Matta than phiền với Chúa về việc Maria không giúp đỡ mình. Chúa Giêsu không từ chối sự nhiệt thành vội vã của Matta, nhưng ngài cũng trách thánh nữ quá lo lắng mà quên đi phần chính yếu là nghe lời giảng và ở bên Ngài. Chúa đã mời gọi thánh nữ hãy dẹp bỏ mọi bận tâm để chăm chú nghe lời Ngài, vì “chỉ có một sự cần thiết và Maria đã chọn phần tốt hơn”. Matta lấy làm vinh dự được tiếp đón và hầu hạ Chúa. Chúng ta cũng hãy bắt chước thánh nữ niềm nở đón tiếp anh em vì mỗi khi chúng ta hầu hạ anh em, chính là hầu hạ Chúa Kitô. (Theo Châu Kiên Long, Đà Lạt)