Thánh Carôlô Lwanga và Các Bạn Tử Ðạo (+188) – Kính ngày 3 tháng 6

Hai mươi hai thánh tử đạo da đen ở Ouganda đã làm chúng ta sống lại thời các thánh Tông Ðồ. Những hình khổ thật tàn nhẫn: ném đá, làm mồi cho thú dữ, chém đầu v.v… Trong hai mươi vị, có 13 vị thiêu sống trong những giỏ mây. Các ngài thuộc đủ mọi hạng tuổi: Matthias Kalenba 5 tuổi, Kitô 13 tuổi, những vị lớn hơn khoảng 16 đến 24 tuổi. Sự phát triển của Giáo Hội Ouganda ngày nay đã minh chứng cho kết quả của các hy sinh của các ngài. Thật đúng với câu: “Máu vị tử đạo là hạt giống của các Kitô hữu” Lwanga luôn khích lệ tinh thần anh em và cùng họ cầu nguyện liên lỉ. Bốn vị trong số các ngài chưa chịu phép thánh tẩy đều được Lwanga Rửa Tội trước khi chịu khổ hình. Mừng kính các ngài, chúng ta cũng nhìn lại chính mình: Chúng ta cũng là con cháu các thánh tử đạo, nhưng chúng ta đã sống đúng gương sáng của cha ông chúng ta chưa, và máu các ngài đổ ra có làm đức tin nảy mầm tươi tốt trong tâm hồn chúng ta không?    

Thánh Grêgôriô VII, Giáo Hoàng (1015- 1085) – Kính ngày 25 tháng 5

Thánh Grêgôriô VII tên thật là Hildebrand, sinh năm 1015 tại Sovana miền Toscane trong một gia đình trung lưu nước Ý. Ngài đã có công phục hưng tinh thần đạo đức của hàng giáo sĩ và tranh đấu cho tự do của Giáo Hội. Từ thời niên thiếu, ngài đã được sống trong bầu khí tu viện; và nhờ trí thông minh và lòng đạo đức, ngài đã thu lượm nhiều kết quả tốt đẹp. Khi Ðức Lêô IX lên ngôi, ngài được cử giữ những chức vụ quan trọng, và nhân dịp này, ngài đã đem hết tài lực ra ngăn chặn làn sóng sa đọa đang bành trướng trong Giáo Hội, bênh vực đức tin chống lại những giáo thuyết sai lầm của các bè rối. Ðược chọn làm Hồng Y, ngài giữ nhiều chức vụ và sứ mạng quan trọng dưới thời Lêô IX, Victo II, Stêphanô IX, Nicolao II và Alexandre II. Sau khi đức Alexandre mất (1073), ngài được bầu lên kế vị. Dù ở địa vị Giáo Hoàng, ngài vẫn tiếp tục sống một cuộc đời khắc khổ như cũ. Dưới triều đại của ngài, Giáo Hội phải trải qua những giây phút đen tối nhất: tinh thần đạo đức bị sa sút, các đế quốc xâm lăng thánh địa và quyền hành của Hội Thánh bị chi phối. Bằng nguyện cầu, hy sinh và lòng nhiệt thành hăng hái, ngài cương quyết bảo vệ tự do, uy quyền và tài sản Giáo Hội. Chính vì thế, ngài đã gặp phải nhiều đau khổ. Bị ép buộc rời khỏi Rôma, và sau đó, ngày 25/5/1805, ngài qua đời tại Salec. Lời vàng ngọc của ngài trối lại khi sắp chết: “Tôi yêu sự công chính và ghét điều bất công. Ðó là lý do tôi phải chết trong cảnh lưu đày này”. Tuy không đổ máu, nhưng đời sống tranh đấu của ngài xứng đáng được Ðức Grêgôriô VIII liệt vào hàng các vị tử đạo và được Ðức Phaolô V phong lên bậc Hiển Thánh.  (Theo nhóm truyền giáo Châu Kiên Long, Đà Lạt)

Thánh Philipphê Nêri, Linh Mục (1515-1595) – Kính ngày 26 tháng 5

Thánh Philipphê Nêri, Linh Mục (1515-1595) Kính ngày 26 tháng 5   Thánh Philipphê Nêri sinh tại Florence, nước Ý năm 1515 trong một gia đình đạo đức và quyền quý. Mồ côi mẹ từ khi mới chào đời, nhưng Philipphê được người kế mẫu thương yêu và săn sóc tận tình. Ngài có năng khiếu đặc biệt về văn chương, tính tình vui vẻ dễ thông cảm và hòa hợp với mọi người. Tuy còn nhỏ nhưng người đã sớm nuôi lý tưởng hiến thân cho Thiên Chúa và các linh hồn, nên sau khi từ chối quyền thừa hưởng gia tài lớn lao do người cậu ruột để lại, ngài đến cư ngụ ở Rôma (1534). Sau khi đã học hết triết lý và thánh kinh, năm 1551, ngài chịu chức linh mục, rồi ghi tên vào dòng Giảng Thuyết lưu động. Ngài chủ trương sống vui vẻ bình dân để cảm hóa mọi người. Thực vậy, ngài đã gây được rất nhiều ảnh hưởng nơi tín hữu cũng như nơi dân ngoại. Ngài đúng là hiện thân của tình bác ái sâu xa. Với một đời sống nội tâm dồi dào, ngài hăng say làm việc suốt ngày, và khi đêm xuống, ngài lại đi cầu nguyện. Ngài thường nói: “Với người yêu mến Chúa thì không có gì nặng nhọc, mệt mỏi, nhưng đầy hân hoan trong nguồn sống chân thật”.   Trước hiện tình sa đọa trong Giáo Hội lúc bấy giờ, ngài chủ trương: Người ta chỉ có thể phục hưng tổ chức nhân loại bằng sự thánh thiện chứ không thể phục hưng sự thánh thiện bằng tổ chức nhân loại. Năm 1593, Ðức Giáo Hoàng Grêgôriô XIV muốn phong ngài làm Hồng Y, nhưng vì khiêm nhường, ngài từ chối và xin đi về tu viện để sống đời chay tịnh và cầu nguyện. Hai năm sau, ngài qua đời (1595). Xác ngài được mai táng trong nhà nguyện dòng “Chúa Ba Ngôi” và ngày 14/5/1622, Ðức Giáo Hoàng Clêmentê VIII tôn phong ngài lên bậc Hiển Thánh cùng với thánh Ignatiô Loyola, thánh Têrêxa cả và thánh Phanxicô lập dòng. (Theo nhóm truyền giáo Châu Kiên Long Đà Lạt)

Thánh Gioan I, Giáo Hoàng Tử Ðạo (+526) – Kính ngày 18 tháng 5

Thánh Gioan I, Giáo Hoàng Tử Ðạo (+526) Kính ngày 18 tháng 5 Thánh Gioan sinh tại Senas miền Toscane nước Ý. Người ta hầu như không biết gì về thời thơ ấu của ngài. Chỉ biết ngài lên ngôi Giáo Hoàng ngày 13/8/523. Là một con người rất nhiệt thành, suốt đời ngài chỉ sống câu: “Sống vì danh Chúa”. Ngài rất có công trong việc hoàn tất điệu hát bình ca (Chant grégorien) mà các vị tiền nhiệm đã khởi xướng: Ðức Cêlestinô I, Lêô cả và Gêlase. Ngài còn tỏ ra là một vị chủ chăn đầy khôn ngoan và đạo đức. Năm 624, vua Auguste Justin I bên Tiểu Á, vì nhiệt thành với tôn giáo và cũng nhằm lợi ích chính trị, muốn thống nhất Giáo Hội nên đã đàn áp nhóm lạc giáo Ariô và chiếm hữu các cơ sở tôn giáo của họ. Việc đàn áp này đã gây nên một cuộc bất mãn và sinh ra sự chống đối tôn giáo và chính trị, và Ðức Gioan I chỉ là một con cờ hy sinh. Tại Rôma, vua Théođoric thuộc phái Ariô khi hay tin việc đàn áp này, liền nổi giận gửi tối hậu thư cho vua Justin, nhưng không kết quả. Théođoric mới bắt Ðức Giáo Hoàng Gioan làm con tin và buộc dẫn đầu đoàn sứ giả sang vua Justin đòi trả lại tài sản và cho nhóm Ariô được tự do truyền đạo. Ðã nhiều lần ngài đứng lên phản đối trước mặt nhà vua. Sau cùng ngài chấp thuận đi. Lần đầu tiên trong lịch sử một Ðức Giáo Hoàng rời khỏi nước Ý. Vua Justin và toàn dân Constantinople hân hoan tưng bừng đón rước ngài. Ngài chủ lễ Phục Sinh tại Sainte Sophie một cách long trọng có mặt tất cả triều đình, dân Hy Lạp và La Tinh nữa. Nhà vua xin ngài phong vương, ngài đã đặt vương miện cho nhà vua. Khi về Rôma, vua Théođoric cho rằng ngài đã hành động ngược lại với mình, liền bắt ngài, định đem xử tử nhưng còn sợ dân chúng dấy loạn, liền giam ngài tại Ravenne và bỏ đói cho đến khi chết. Ngài lìa trần ngày 18/5/526. Xác ngài được đưa về Rôma ngày 27/5/530 và chôn cất trong vương cung thánh đường Vatican. (Theo nhóm truyền giáo Châu Kiên Long Đà Lạt)

Thánh Matthias, Tông Ðồ – Kính ngày 14 tháng 5

Thánh Matthias, Tông Ðồ – Kính ngày 14 tháng 5 Chúng ta chỉ biết đến thánh Matthias qua bài tường thuật về các tông đô chọn lựa ngài thế chỗ cho Giuđa sau ngày Chúa về Trời. Bài diễn văn của thánh Phêrô trước khi bắt thăm đã nêu lên những điểm vô cùng quan trọng. Theo ngài, các tông đồ phải là những người thuộc nhóm mười hai, do Chúa Giêsu thiết lập để tiếp tục rao giảng Phúc Âm. Một kẻ trong nhóm mười hai đã phản bội, vì thế phải tìm người khác thay thế, vì con số mười hai đã được mạc khải: dân tộc mới của Thiên Chúa được xây dựng trên nền tảng mười hai tông đồ, như xưa dân Israel, trên mười hai người con của Giacop. Ðiều kiện để được chọn làm tông đồ là đã theo Chúa, từ lúc Chúa chịu Phép Rửa đến khi về trời, hầu có thể trở nên chứng nhân về sự phục sinh khải hoàn. Phải sống với Chúa, nghe Chúa giảng dạy, trong tình thân mật, phải ăn uống với Chúa sau ngày sống lại, nhờ đó mới có thể mạnh dạn loan truyền và sẵn sàng lấy máu đào minh chứng cho chân lý. Thánh Matthias đã được chọn và ngài đã hăng say chu toàn sứ mạng Chúa giao phó.    

Thánh Phancraxiô Tử Ðạo – Kính ngày 12 tháng 5

Thánh Phancraxiô Tử Ðạo (+ 304) – Kính ngày 12 tháng 5 Thánh Phancraxiô sinh tại Phygia, thuộc dòng dõi danh giá. Ngài đến Rôma và được chịu phép thánh thể tại đó năm 14 tuổi. Dưới triều Ðiôclêtianô và Maximien, cuộc bách hại ngày càng gắt gao ngay tại Giáo Ðô La Mã và nhiều nơi khác. Người ta bắt ngài dâng hương tế thần, chối bỏ Chúa Kitô, nhưng ngài cực lực phản đối và nhất quyết không chịu tuân theo, cho dù phải chết vì đạo Chúa. Thánh nhân đã được diễm phúc lấy máu đào chứng minh đức tin. Sau nhiều trận đòn ghê rợn, ngài đã chịu chém đầu vào năm 304. (Theo nhóm truyền giáo Châu Kiên Long, Đà Lạt)

Thánh Nêrê và Achillêô Tử Ðạo (+304) – Kính ngày 12 tháng 5

Thánh Nêrê và Achillêô Tử Ðạo (+304) Kính ngày 12 tháng 5   Khách hành hương đến Rôma thường viếng thăm hai vương cung thánh đường kính thánh Nêrê và Achillêô: một được xây trên phần mộ của các ngài tại đường Ardeatina (vào thế kỷ IV), một do Ðức Thánh Cha Lêô III (795-816) cung hiến tại đường Appia. Cũng như thánh Sêbastianô, thánh Nêrê và Achillêô đều phục vụ trong quân đội dưới triều hoàng đế Ðiôclêtianô. Lúc đầu khi cơn bách hại bùng nổ (304), các ngài còn là những người ngoại, nhưng trước tấm gương can đảm của những vị tử đạo, các ngài đã trở lại và tin theo Chúa Giêsu. Bức bích họa trong vương cung thánh đường tại Ardeatina đã diễn tả cuộc hành quyết của thánh Achillêô: hai tay bị trói, ngài hiên ngang lãnh nhận lưỡi gươm của lý hình. (Theo nhóm truyền giáo Châu Kiên Long, Đà Lạt)

Thánh Hilary Arles, Giám mục (400-449) – Kính ngày 5 tháng 5

Thánh Hilary Arles, Giám mục (400-449) – Kính ngày 5 tháng 5 Người ta thường nói tuổi trẻ hay lãng phí. Theo cách nào đó, cuộc đời thánh Hilary Arles cũng vậy. Ngài sinh tại Pháp, trong một gia đình quý tộc. Khi đi học, ngài gặp một người thân là ĐGM Hônôratô, và người này đã giúp ngài đi tu. Ngài tiếp tục theo bước của ĐGM Hônôratô. Ngài làm linh mục, rồi ngài được bổ nhiệm làm giám mục giáo phận Arles khi mới 29 tuổi. Giám mục trẻ lãnh sứ vụ với lòng tự tin. Ngài lao động chân tay để kiếm tiền cho người nghèo. Ngài bán chén lễđể chuộc các tù nhân. Ngài giảng thuyết rất hùng hồn. Ngài đi bộ khắp nơi và luôn mặc quần áo giản dị. Nhưng ngài cũng gặp khó khăn trong các mối quan hệ với các giám mục khác mà ngài đã phê phán. Ngài đơn phương một phe. Ngài chọn một giám mục khác để thay thế giám mục bị bệnh, phức tạp hóa các vấn đề, nhưng không đến nỗi! Thánh Giáo hoàng Lêô Cả giữ ngài làm giám mục nhưng tước một số quyền của ngài. Thánh Hilary là người có tài và có lòng thương người.

Thánh Brunô, Linh Mục Lập Dòng (1030-1101) – Kính ngày 6/10

Thánh Brunô, Linh Mục Lập Dòng (1030-1101) – Kính ngày 6/10 Thánh Brunô chào đời năm 1030. Ngài là con một gia đình danh tiếng ở Cologne, và cũng là vị sáng lập dòng Chartreux. Sau khi chịu chức linh mục, ngài tiếp tục học và gặt hái được nhiều thành quả khả quan về triết học cũng như thần học. Ngài được những người đồng thời tặng khen những danh hiệu như: thầy của các thầy, nhà thần học nổi danh, văn sĩ lỗi lạc… Ngài cũng làm khoa trưởng một vài phân khoa đại học. Sau đó, ngài được triệu hồi về La Mã và liên tiếp giữ nhiều chức vụ quan trọng trong Giáo Hội. năm 1084, ngài lập dòng Chartreux. Ðặc điểm của luật dòng là cầu nguyện liên lỉ, soạn sách báo, làm việc chân tay và trau dồi trí thức. Năm 1088, ngài chào biệt anh em và lên đường về La Mã giữ chức vụ cố vấn cho Ðức Giáo Hoàng Urbanô II, là một trong những học trò của ngài. (Theo nhóm truyền giáo Châu Kiên Long, Đà Lạt)

Chân Phước Phanxicô Xaviê Seelos Linh Mục Kính ngày 5 tháng 10

Cha Phanxicô Xaviê Seelos sinh năm 1819 tại Fuessen, miền Baviere, Nam Ðức. Ngay từ nhỏ, Phanxicô đã cảm thấy ước muốn làm linh mục, và năm 1842, khi được 23 tuổi, anh mãn triết học tại đại học Munich, và gia nhập đại chủng viện giáo phận. Nhờ quen biết với các thừa sai dòng Chúa Cứu Thế, chuyên hoạt động truyền giáo nơi những người bị bỏ rơi, nên thày Seelos quyết định xin gia nhập dòng này để thi hành công tác truyền giáo nơi những người Ðức di cư sang Mỹ lập nghiệp. Thày Seelos được nhận vào dòng tháng 11 cùng năm 1842, và năm sau, xuống tàu tại cảng Havre bên Pháp để tới New York vào tháng Tư năm 1843 sau 35 ngày hành trình. Sau khi mãn năm nhà tập và thần học, thày Seelos thụ phong linh mục ngày 22 tháng 12 năm 1844 tại Nhà Thờ Thánh Giacôbê dòng Chúa Cứu Thế tại thành Baltimore, bang Maryland. Sau khi chịu chức, cha Phanxicô Xaviê Seelos làm việc mục vụ trong 9 năm trời tại giáo xứ thánh Philomena ở thành phố Pittsburg, bang Pennsylvania, trước hết làm cha phó, rồi làm bề trên cộng đoàn và cha sở, đồng thời cũng làm giáo tập. Cùng với cha John neumann dòng Chúa Cứu Thế, sau này là thánh Giám Mục đầu tiên của Giáo Hội tại Mỹ, cha Seelos tận tụy thi hành công tác truyền giáo cho dân chúng qua lời rao giảng. Thái độ sẵn sàng và hòa nhã của cha Seelos trong việc tiếp đón và cảm thông những nhu cầu của dân chúng đã thu hút sự ngưỡng mộ của các tín hữu. Họ tuốn đến xin xưng tội với cha hoặc xin cha hướng dẫn về đàng thiêng liêng. Các tín hữu mô tả cha Seelos là một vị thừa sai với nụ cười luôn nở trên môi và có tâm hồn quảng đại, nhất là đối với những người túng thiếu và ở ngoài lề xã hội. Sau một thời gian hoạt động mục vụ giáo xứ ở thành phố Detroit, bang Michigan, cha Seelos được bổ về cộng đoàn ở thành phố New Orleans, bang Louisiana, và làm cha sở giáo xứ Ðức Mẹ Mông Triệu. Tại đây, cha cũng tỏ là một vị mục tử luôn vui tươi, sẵn sàng đối với mọi người, và luôn quan tâm tới những người nghèo bị bỏ rơi. Nhưng trong chương trình của Chúa, hoạt động của cha Seelos tại đây thật ngắn ngủi: tháng 9 năm 1867, cha bị nhiễm bệnh sốt vàng khi viếng thăm các bệnh nhân bị bệnh này. Sau nhiều tuần lễ kiên nhẫn chịu bệnh một cách thanh thản và kiên nhẫn, cha Phanxico Xavie Seelos qua đời ngày 4 tháng 10 năm 1867, lúc mới được 48 tuổi 9 tháng. Trong thánh lễ phong chân phước cho cha Seelos, ÐTC Gioan Phaolô II nói: “Xin ban cho con niềm vui được ơn phù trợ của Chúa; xin nâng đỡ con bằng một tinh thần nhiệt thành, để con dạy cho những kẻ tội lỗi con đường của Chúa và các tội nhân sẽ trở về cùng Chúa” (Ps 51,14-15).