Thánh Bêđa Vênêrabilê, Linh Mục Tiến Sĩ Hội Thánh (673-735) – Kính ngày 25/5

Thánh Bêđa sinh năm 673 tại Jarron vùng biên giới Anh Quốc và Ecosse. Ngài mồ côi cha khi lên bảy, nhưng bù lại người thụ hưởng nơi người mẹ một trí khôn sắc sảo và nhiều đức tính cao đẹp. Năm 682, ngài vào dòng Biển Ðức, sống một cuộc đời khiêm nhường, vâng lời và đơn sơ. Năm 29 tuổi, ngài lãnh chức linh mục và được cử làm giáo sư. Nhiệt thành với sứ mạng, ngài đã áp dụng những phương pháp mới, thích hợp với tâm lý. Ngoài việc dạy học, ngài còn viết nhiều sách có giá trị thuộc đủ mọi bộ môn như triết lý, toán học, và thường đảm nhiệm công tác đối chất với các lạc giáo. Nhưng điểm nổi bật hơn cả nơi ngài chính là đời sống nội tâm dồi dào, kết hiệp mật thiết với Chúa, hăng say cầu nguyện và trung thành với việc bổn mạng. Khi nằm trên giường bệnh với hai mắt mù lòa, ngài còn cố gắng đọc cho học trò chép bản dịch Phúc Âm Thánh Gioan. Ðến năm 735, ngài qua đời trong khi miệng vẫn còn đọc kinh “Sáng Danh” ca tụng Chúa. Ngày 13/11/1899, ngài được Ðức Giáo Hoàng Lêô XIII truy phong lên bậc Tiến Sĩ Giáo Hội.     (Theo nhóm truyền giáo Châu Kiên Long, Đà Lạt)

Tìm hiểu gốc tích Tháng Hoa Đức Mẹ

Là người Công giáo Việt Nam, nhất là những người đã lớn lên trong một xứ đạo miền Bắc, Trung hoặc Nam, có lẽ họ không lạ gì sinh hoạt tôn giáo trong tháng Năm, tháng Hoa Đức Mẹ. Khi ngàn hoa xanh, đỏ, trắng, tím, vàng nở rộ trong cánh đồng, thì con cái Mẹ cũng chuẩn bị cho những đội dâng hoa, những cuộc rước kiệu, để tôn vinh Mẹ trên trời. Nếu có ai tự hỏi: Tháng Hoa có từ đời nào? Do ai khởi xướng? thì câu trả lời cũng không khó khăn gì. Gốc tích như thế này: Vào những thế kỷ đầu, hàng năm, khi tháng Năm về, người Rôma tôn kính sự thức giấc sau mùa đông dài của thiên nhiên bằng những cuộc tổ chức gọi là những ngày lễ tôn kính Hoa là Nữ thần mùa Xuân. Các tín hữu Công giáo trong các xứ đạo đã thánh hóa tập tục trên. Họ tổ chức những cuộc rước kiệu hoa và cầu nguyện cho mùa màng phong phú. Có nơi người ta tổ chức các cuộc “Rước xanh”. Người ta đi cắt các cành cây xanh tươi đang nở hoa, đưa về trang hoàng trong các nhà thờ và đặc biệt các bàn thờ dâng kính Đức Mẹ. Các thi sĩ cũng như các thánh đua nhau sáng tác những bài hát, bài giảng ca tụng những ngày lễ đó cũng như ca tụng Đức Mẹ. Đến thế kỷ 14, linh mục Henri Suzo dòng Đaminh, vào ngày đầu tháng 5, đã dâng lên Đức Mẹ những việc tôn kính đặc biệt và lấy hoa trang hoàng tượng Đức Mẹ. Thánh Philipe đệ Nêri, cũng vào ngày 1 tháng 5, thích tập họp các trẻ em lại chung quanh bàn thờ Đức Mẹ, để cùng các bông hoa mùa xuân, Ngài dâng cho Đức Mẹ các nhân đức còn ẩn náu trong tâm hồn non trẻ của chúng. Đầu thế kỷ 17, tại Napoli, nước Ý, trong thánh đường kính thánh Clara của các nữ tu Dòng Phanxicô, tháng Đức Mẹ được cử hành công cộng: Mỗi chiều đều có hát kính Đức Mẹ, ban phép lành Mình Thánh. Từ ngày đó, tháng Đức Mẹ nhanh chóng lan rộng khắp các xứ đạo. Năm 1654, cha Nadasi, dòng Tên, xuất bản tập sách nhỏ khuyên mời giáo hữu dành riêng mỗi năm một tháng để tôn kính Đức Mẹ Chúa Trời. Đầu thế kỷ 19, hết mọi xứ trong Giáo hội đều long trọng kính tháng Đức Mẹ. Các nhà thờ chính có linh mục giảng thuyết, và gần như lấy thời gian sau mùa chay là thời gian chính thức để tôn kính Đức Mẹ. Trong việc này linh mục Chardon đã có nhiều công. Không những ngài làm cho lòng sốt sắng trong tháng Đức Mẹ được phổ biến trong nước Pháp mà còn ở mọi nước Công giáo khác nữa. – Đức Giáo Hoàng Phaolô 6, trong Thông điệp Tháng Năm, số 1 viết: “Tháng Năm là Tháng mà lòng đạo đức của giáo dân đã kính dâng cách riêng cho Đức Mẹ. Đó là dịp để ” bày tỏ niềm tin và lòng kính mến mà người Công giáo khắp nơi trên thế giới có đối với Đức Mẹ Nữ Vương Thiên đàng. Trong tháng này, các Kitô hữu, cả ở trong thánh đường cũng như nơi tư gia, dâng lên Mẹ từ các tấm lòng của họ những lời cầu nguyện và tôn kính sốt sắng và mến yêu cách đặc biệt. Trong tháng này, những ơn phúc của Thiên Chúa nhân từ cũng đổ tràn trên chúng ta từ ngai tòa rất dồi dào của Đức Mẹ” (Dictionary of Mary, Catholic book Pub. 1985, p. 236) (Theo Lm. Đoàn Quang, CMC, tinmung.net)

Luật Xưng Tội Rước Lễ Mùa Phục Sinh

Luật Xưng Tội Rước Lễ Mùa Phục Sinh Hỏi: Giáo hội rất đề cao Phép Thánh Thể… Xin cho biết: – Ai được rước lễ? Ai phải rước lễ trong mùa Phục sinh? Điều răn thứ 4 trong 6 điều răn của Hội thánh dạy “Rước Mình Thánh Chúa trong mùa Phục sinh”, bắt đầu và kết thúc ngày nào? Muốn rước lễ phải làm gì? Ai không được rước lễ? Đáp: Nói đến luật Hội thánh thì xin bắt đầu bằng việc mở giáo luật coi xem sao? 1- Trước hết, Giáo hội rất đề cao Phép Thánh Thể. Giáo luật viết: “Bí tích Thánh Thể là BT cao trọng nhất, trong đó Chúa Giêsu hiện diện, tự hiến và trở nên lương thực, nhờ đó Giáo hội tiếp tục được sống và tăng trưởng…” (điều 897) Theo những lời trên, ta hiểu rằng: nhờ Mình Thánh Chúa,  con cái Giáo hội được “sống và “lớn lên” trong Chúa. Nói ngược lại, không có Thánh Thể Chúa, linh hồn ta sẽ “yếu đuối, còm cõi, và chết”. Chúa đã phán:”Ai ăn Thịt Ta…sẽ sống muôn đời” (Ga 6,58) 2- Ai được rước lễ: “Bất cứ ai đã chịu Phép Rửa tội và không bị luật cấm, đều có thể và phải được nhận cho rước lễ” (điều 912) 3- Ai buộc rước lễ mùa Phục sinh? “Mọi tín hữu, sau khi rước lễ lần đầu, buộc phải rước lễ ít nhất mỗi năm một lần.(Giáo luật số 920,2). Mệnh lệnh này phải được chu toàn vào mùa Phục sinh (mùa Phục sinh bắt đầu từ lễ Chúa Phục sinh đến chiều lễ Chúa Thánh Thần hiện xuống), trừ khi có lý do chính đáng, có thể chu toàn vào mùa khác trong năm (điều 920,2). – Cho thân xác ăn một năm một bữa, hay cho linh hồn một năm rước Chúa một lần thí ít quá, vì vậy, Giáo hội dạy ta phải “siêng năng và sốt sắng nhận lãnh Mình Thánh Chúa, hết lòng thờ phượng bái kính Thánh Thể Chúa” (điều 898), – Giáo hội rộng ban: “Nếu một ngày ai dự 2 lễ, thì được rước lễ 2 lần” (Gl điều 917), miễn là họ kiêng ăn uống (trừ nước lã hoặc uống thuốc ít là 1 giờ trước khi lên rước lễ) nhưng không buộc 1 giờ đối với các người già, người bệnh và người săn sóc bệnh nhân, nếu họ ăn chút ít mà không đủ 1 giờ thì cũng được phép rước lễ (điều 919,3). – Người tín hữu nguy tử (gần chết), dù đã rước lễ rồi, cũng được rước lễ nữa như của “Ăn đàng” về trời. Các ngày sau còn nguy tử thì cứ được rước lễ nữa (điều 921-922). Trẻ em nguy tử cũng được rước lễ, nếu em (chưa xưng tội lần đầu) nhưng phân biệt được Mình Thánh Chúa và của ăn thường, và kính cẩn rước lễ (điều 913). 4- Muốn rước lễ phải làm gì? Ba điều kiện để rước lễ như giáo lý các em xưng tội lần đầu vẫn học là: 1/ Sạch tội trọng, 2/ Có ý ngay lành, 3/ giữ chay 1 giờ trước khi rước lễ. Mỗi khi rước lễ, phải dọn tâm hồn với lòng tin, cậy kính mến, khiêm nhường “Lạy Chúa, con chẳng đáng…” Chúng ta thật bất xứng và thiếu sót, không đáng rước Mình Máu thánh Chúa , nhưng ta được phép “nhờ Mẹ Maria” giúp dọn mình và cám ơn khi rước Chúa, đó lại là điều rất đẹp lòng Chúa. 5 – Những ai không được rước lễ? a/ Những ai “biết mình phạm tội trọng và chưa xưng tội trước thì không được rước lễ” (Gl điều 916). b/ Những ai bị vạ tuyệt thông (ví dụ: phá thai, (1398) và cấm chế sau khi hình phạt đã tuyên kết hay tuyên bố, c/ Những ai cố chấp trong tội trọng công khai, (ví dụ: ly dị rồi tự ý kết hôn không có phép Giáo hội) (Gl điều 915). Xin kể câu chuyện về ích lợi việc rước lễ: Ông thánh Thomas More (1478-1525) đã một thời làm quan tể tướng của vua Henri 8 nước Anh. Tuy làm quan lớn trong triều đình, nhưng ông vẫn đi lễ và rước lễ hằng ngày. Việc này làm các quan trong triều bàn tán, họ nói: – Một giáo dân như quan tể tướng bận rộn với biết bao công việc, bao lo âu… còn phải mất thời giờ đi lễ thường xuyên như thế. Quan tể tướng trả lời ngay: – Thế nhưng chính các vị đã chính xác nêu lên những lý do giải thích tại sao tôi cần phải Thường xuyên đi lễ và rước lễ. Nếu tôi có nhiều lo âu, việc rước lễ đem lại cho tôi sự can đảm, nếu mỗi ngày tôi phải gặp bao cơ hội làm phiền lòng Thiên Chúa, mỗi ngày việc rước lễ cho tôi những sức lực mới để tôi chống trả tội lỗi. Nếu tôi cần sự khôn ngoan và hiểu biết để chu toàn những phận vụ khó khăn, tôi tìm đến với Chúa mỗi một ngày để gặp được ánh sáng và những lời khuyên. – Lm. Đoàn Quang, CMC

Thư Mục Vụ của Cha Đại Diện Liên Lạc – Phục Sinh 2017

Phục Sinh  2017  “Phá Luật”  Năm nay ngày 15 tháng 4 rơi vào thứ Bảy ngay trước Chúa Nhật Phục Sinh cho nên sở thuế dời ngày khai “tax day” tới thứ Ba ngày 18. Dĩ nhiên ai muốn gia hạn tới tháng 10 có thể điền một đơn phụ cho mục đích đó, nhưng phải nhớ đóng thuế trước ngày 18, nếu không sau này phải trả thêm tiền lời. Người Mỹ nói với nhau rằng sống ở đời chỉ có hai điều là chắc chắn: đóng thuế và qua đời. Bao lâu còn sống thì còn phải đóng thuế, không thuế này thì thuế khác. Trong phúc âm, Chúa Giêsu cũng phải nói Phêrô móc miệng cá lấy đồng tiền để nộp thuế cho hai thầy trò (Mátthêu 17:27). Nhóm Pharisiêu đã muốn dùng chuyện thuế má để triệt hạ Chúa Giêsu (Mátthêu 22:17). Có cách nào sống mà không phải đóng thuế không? Ráng nghĩ đi. Riêng về sự chết chúng ta biết đó là luật chung, là số phận của con người. Luật tự nhiên này không ai phá được, ngoại trừ… Đấng ra luật đó. Chúa Giêsu đã “phá luật” chết, phá một lần, và một lần là đủ. Một lần thôi đủ để cho con người suy nghĩ đến tận thế về sự chết, sự sống đời này, và sự sống đời sau. Chúa Giêsu chết để phá luật chết, nhưng khi sống ở thế gian, ngài cũng hay “phá luật” lắm. Các môn đệ của Chúa không ăn chay như những môn đệ khác (Mátthêu 9:14) Rồi ăn mà không rửa tay trước (Mátthêu 15:2) Ăn không đúng chỗ đúng lúc, như bức lúa nơi cánh đồng trong ngày Sabbath (Mátthêu 12:1) Làm việc thiện cũng lỗi luật, vì Chúa chữa lành trong ngày Sabbath nhiều lần, điển hình là người mù từ lúc mới sinh (Gioan 11). Và nhiều chuyện khác nữa. Cũng vì chuyện “phá luật” mà Chúa bị đưa ra toà. “Chúng tôi có luật, và cứ theo luật đó thì hắn phải chết…” (Gioan 19:7). Và Chúa đã chết trên thập giá giữa hai tên phạm pháp, sau khi một tội nhân khác đã được tha trước đó. Đến với thế gian này thì không tránh khỏi lề luật, khỏi thuế má, khỏi sự chết, nhưng Chúa đến “sinh bởi người nữ, sinh trong lề luật, để cứu rỗi con người sống dưới ảnh hưởng của lề luật, và cho họ trở nên con cái của Thiên Chúa hằng sống trong thần khí” (Galata 4:4-7). Qua Phục Sinh, Chúa đã cho thấy Con Người không những làm chủ ngày Sabbath, làm chủ lề luật, mà còn quan trọng hơn, Ngài là chủ của sự chết và sự sống. “Không ai lấy đi mạng sống của ta. Ta tự hạ nó xuống, và ta cũng tự nhấc nó lên” (Gioan 10:17-18). Sống mầu nhiệm Phục Sinh có thể nói rộng ra gồm hai bước chính. Thứ nhất là nhận ra ta đang sống trong lề luật và sự hạn hẹp của nó. Thứ hai biết rằng chỉ có một Đấng giúp ta vượt lên khỏi lề luật và theo đuổi ngay Đấng “là đường, là sự thật, và là sự sống” (Gioan 14:6). Ngài vừa lên đường thì một chàng trai đến trước mặt và hỏi: “Lạy Thầy nhân lành, tôi phải làm gì để có sự sống đời đời?” Chúa trả lời: “Ngươi biết lề luật phải không nào”. Người ấy đáp: “Những điều đó tôi đã giữ cẩn thận từ nhỏ”. Chúa nhìn chàng trai một cách trìu mến rồi nói: “Hãy cho người nghèo hết những gì ngươi có, rồi đến theo ta”. (Máccô 10:17-21) “Ta đến không phải để bãi bỏ nhưng để kiện toàn lề luật” (Mátthêu 5:17). Bạn có muốn “phá luật” để “kiện toàn lề luật” không? – Lm. Phaolô Trần Bá Hùng

Tuần Thánh và Tam Nhật Vượt Qua

TUẦN THÁNH và TAM NHẬT VƯỢT QUA Sau thời gian cử hành Mùa Chay thánh, trong đó Giáo hội hướng về Đại lễ Phục sinh bằng việc chuẩn bị các dự tòng lãnh nhận các bí tích khai tâm Kitô giáo: rửa tội, thêm sức và thánh thể trong đêm Vọng Phục sinh; đồng thời dọn lòng con cái cho Đại lễ này với các việc đọc Lời Chúa, tham dự phụng vụ, cầu nguyện, ăn chay hãm mình, canh tân trở lại, sống bác ái và làm việc bố thí. Vì thế chúng ta tìm hiểu ý nghĩa những ngày này để có thể cử hành xứng đáng và đem lại nhiều ơn ích thiêng liêng. Ý nghĩa Tuần Thánh Thời gian cử hành: Về thời gian, Tuần thánh bắt đầu từ Chúa Nhật Lễ Lá, hay Chúa Nhật thương khó, ngày thứ hai, thứ ba, thứ tư sau đó, và sáng thứ năm. Bốn ngày này là những ngày cuối cùng của Mùa Chay thánh. Tam Nhật thánh, bắt đầu từ Thánh Lễ Tiệc ly vào chiều thứ năm tuần thánh, tiếp theo là thứ sáu Tuần thánh, thứ bảy Tuần thánh và Chúa Nhật phục sinh. Đây là tột đỉnh của Mùa Chay Thánh và trung tâm của Năm phụng vụ. Các Giáo phụ gọi Tuần thánh là tuần trọng nhất trong Năm phụng vụ, tuần lễ mẹ các tuần lễ. Nội dung của Tuần thánh và Tam nhật thánh Chúng ta có thể nói ngay: đó là những biến cố vượt qua của Chúa Giêsu Kitô: việc Chúa chịu đau khổ, chết trên thập giá và sống lại. Mầu nhiệm vượt qua là trung tâm điểm của các việc cử hành trong Năm phụng vụ, của Tuần thánh và Tam nhật thánh. Chúa nhật lễ lá Nghi thức của ngày Chúa nhật lễ lá gồm có việc rước kiệu tưởng nhớ biến cố Chúa Giêsu vào thành Giêrusalem cách trọng thể và tôn vinh Chúa Giêsu là Vua, rồi việc công bố trọng thể bài thương khó của Chúa Giêsu theo thánh Mathêô (năm A), Marcô (năm B) và Luca (năm C), và sau cùng là thánh lễ. Ba nghi thức này nói lên vinh quang của Chúa Kitô và đồng thời chiêm ngắm cuộc thương khó của Chúa. Tất cả cho thấy hành trình của Chúa Kitô trong những ngày cuối cùng cuộc đời Ngài. Ngài được tôn vinh qua thập giá. Thánh lễ làm phép và thánh hiến các loại dầu Thánh lễ làm phép và thánh hiến dầu nói lên biểu hiệu của dầu thánh trong các bí tích rửa tội, thêm sức, truyền chức thánh và xức dầu bệnh nhân, cũng như một số phụ tích như Nghi thức thánh hiến nhà thờ và bàn thờ. Ngoài ra thánh lễ làm phép dầu cũng biểu lộ sự hiệp thông giữa giám mục và linh mục đoàn trong giáo phận. Vì thế các linh mục cố gắng đến đồng tế với giám mục trong thánh lễ này tại nhà thờ chính tòa, ít là các vị có trọng trách đặc biệt trong giáo phận, như các cha quản hạt, cha sở   Chiều Thứ năm tuần thánh Trong thánh lễ Tiệc ly chiều thứ năm Tuần thánh, Giáo Hội cử hành nghi thức rửa chân, thánh lễ tưởng niệm việc Chúa Kitô lập phép Thánh Thể và chức linh mục, cũng như ban bố giới luật mới tức là giới luật yêu thương. Sau cùng có việc kiệu Thánh Thể và chầu Thánh Thể tại nhà nguyện nhỏ cho tới nửa đêm. Thánh lễ có hát kinh Vinh danh, có kinh “Cùng hiệp thông” riêng (Communicantes), cũng như kinh “Vậy lạy Cha” (Hanc igitur) riêng nếu đọc Kinh nguyện Thánh Thể I. Các thừa tác viên cũng phải có đủ, để giúp lễ và công bố Lời Chúa. Theo truyền thống, các người được chọn để rửa chân là những người đàn ông. Chuông, đàn được dùng cho tới hết kinh Vinh danh. Trước thánh lễ, cần để nhà tạm Mình thánh trống. Liệu đủ bánh lễ để truyền và dùng cho buổi cử hành phụng vụ ngày thứ năm và ngày hôm sau. Nhà tạm để chầu Mình thánh nên dọn đơn sơ, không quá nhiều hoa, nến, nhưng trưng bày có mực độ. Sau các nghi lễ, thì lột hết các khăn trên bàn thờ. Thánh giá được che bằng một tấm vải đỏ hay tím, nếu trước đó chưa được phủ từ chiều thứ bảy trước Chúa nhật thứ 5 Mùa chay. Ngày thứ sáu tuần thánh Tưởng niệm Chúa Giêsu chịu đau khổ và chết trên thánh giá. Vì thế Giáo Hội hồi tâm, thinh lặng ăn chay kiêng thịt để chia sẻ cuộc thương khó của Chúa và như là mở tâm hồn đón nhận ơn cứu rỗi. Chỉ trao Mình Thánh vào buổi cử hành phụng vụ sau trưa. Đối với bệnh nhân, thì có thể kiệu Mình Thánh bất cứ lúc nào. Không cử hành bí tích nào, ngoài bí tích giải tội và xức dầu bệnh nhân. Nếu phải cử hành nghi thức an táng, thì không có hát, đánh đàn, kéo chuông. Ngày thứ bảy tuần thánh Ngày thứ bảy Tuần Thánh, Giáo Hội ở bên mộ Chúa để suy ngắm cuộc tử nạn của Chúa Kitô, việc Ngài xuống mồ, biểu hiệu tính cách phổ quát của ơn cứu rỗi của Ngài, và chờ mong Chúa sống lại, qua việc cầu nguyện và ăn chay. Chiều đến Giáo Hội cử hành canh thức vọng đón chờ Chúa Kitô sống lại. Đây là buổi Canh thức chính yếu, là mẹ các buổi canh thức khác. Giáo Hội chờ Chúa sống lại và cử hành các bí tích khai tâm kitô giáo (Rửa tội, Thêm sức và Thánh thể). Buổi canh thức vọng phục sinh cũng mang tính cách cánh chung, vì Giáo Hội chờ ngày Chúa sẽ đến trong vinh quang. Buổi Canh thức … [Read more…]

Thánh Gioan Lasan, Linh Mục Lập Dòng (1651-1719)

Thánh Gioan Lasan, Linh Mục Lập Dòng (1651-1719)  Thánh Gioan Lasan là tấm gương phản chiếu trung thành đời sống Chúa Giêsu đối với trẻ thơ. Ngài sinh ngày 30/4/1651, trong một gia đình quyền quý. Cha ngài là một vị thẩm phán danh tiếng, và mẹ ngài là một thiếu phụ rất đạo đức. Từ nhỏ, Gioan đã sớm có một lòng đạo đức và thương người nghèo khó. Vốn tư chất thông minh, khi đến trường, ngài vượt xa bạn bè về đức cũng như về trí. Năm 11 tuổi, ngài đã được nhận vào hàng giáo sĩ và đến năm 16 lại được cất lên hàng kinh sĩ, rồi được nhận vào Chủng Viện Xuân Bích ở Ba Lê. Khi đã đậu tiến sĩ thần học, ngài lãnh chức linh mục năm 1678. Ít lâu sau, ngài được bầu làm Bề Trên dòng “Các chị chuyên lo giáo dục thiếu nữ”. Chính trong chiều hướng này mà Gioan được ơn soi sáng lập dòng “Các sư huynh” năm 1681, và được Ðức Bênêđictô XIII phê chuẩn. Thật là thích hợp cho thời bấy giờ, khi mà cả trăm ngàn thanh niên bơ vơ không có chỗ học hành. Nhờ sự hưởng ứng và giúp đỡ của nhiều người nên công việc của ngài khởi sự rất tốt đẹp. Ngoài việc huấn luyện trí dục, ngài đặc biệt chú trọng đến đức dục. Vui vẻ, cởi mở và bình dân là những đức tính nổi bật nơi ngài. Nhưng các giáo chức lại ghen tuông và hiềm khích khi thấy ngài có uy thế và bổng lộc. Ngài liền từ chức và khước từ mọi lương bổng, lại đem bán của cải để phân phát cho người nghèo. Nhờ lòng đạo đức sâu xa và kiên nhẫn, ngài lại tiếp tục công việc. Năm 1719, ngài tìm người thay thế, rồi sống mai ẩn. Ngày 07/4/1719, ngài trút linh hồn sau một cơn đau liệt giường, ngài được Ðức Giáo Hoàng Lêô XIII phong Chân Phước ngày10/02/1888 và được phong Hiển Thánh ngày 24/5/1900. Ðức Piô XII đã phong cho ngài tước hiệu “Ðấng bảo trợ các nhà giáo dục”. (Theo nhóm truyền giáo Châu, Kiên Long, Đà Lạt)

Thánh Phanxicô Ðệ Phaolô, Ẩn Tu và Lập Dòng (1416-1507)

Thánh Phanxicô Ðệ Phaolô, Ẩn Tu và Lập Dòng (1416-1507) – Kính ngày 2 tháng 4 Nhờ lời thánh Phanxicô Khó Khăn bầu cử, năm 1416, ông bà Jacques Martotille đã hạ sinh một hài nhi xinh đẹp, đó là Phanxicô đệ Phaolô. Coi con như hồng ân của Chúa, nên hai ông bà đã tận tình dạy dỗ, giúp con mến Chúa yêu người. Vì thế những đức tính tốt đã sớm nảy nở trong tâm hồn của Phanxicô. Ngài thích làm việc bác ái, cầu nguyện, yêu mến mẹ Maria. Ngài còn tỏ ra là một cậu bé biết vâng lời và khiêm tốn. Sau một thời gian sống tại tu viện thánh Marcô, ngài bắt đầu cuộc đời ẩn dật. Nhân đức của ngài mỗi ngày một lan rộng, Chúa thực hiện nhiều phép lạ qua tay ngài. Theo lời yêu cầu của Ðức Giáo Hoàng Sixtô IV, ngài lập dòng “Anh em hèn mọn” do chính ngài làm Bề Trên và soạn thảo luật dòng. Các nhân đức chính mà ngài nhắm tới là bác ái, khiêm tốn, giữ luật, vâng lời, say mê phần rỗi các linh hồn và đặc biệt sùng kính Ðức Maria. Ðầu năm 1507, ngài ngã bệnh sau một thời gian dài tận lực mở mang nước Chúa. Ngày 02/4/1507, ngài lâm cơn hấp hối. Trước khi chết, ngài đã áp giải Thánh Giá vào ngực và than thở: “Lạy Chúa, con xin phó thác linh hồn con trong tay Chúa. Lạy Chúa Giêsu nhân hiền, xin bảo trợ những người công chính và cải hóa những tâm hồn tội lỗi. Xin thương các tín hữu còn sống và đã qua đời. Xin ấp ủ con dù con chỉ là một tội nhân bất xứng”.   Ngày 01/5/1519, do những công đức ngài đã làm, Ðức Giáo Hoàng Lêô X đã ghi tên ngài vào sổ các vị Hiển Thánh của Giáo Hội.

Giuse, Con Người Của Niềm tin

LTS: Nhân dịp tháng giáo hội dành riêng để kính thánh Giuse cách đặc biệt, chúng tôi xin kính gửi đến quý độc giả bài viết về thánh Giuse của Đức Cha Giuse Vũ Duy Thống – vị chủ chăn đức độ của giáo phận Phan Thiết, vị nhạc sĩ tài hoa với bút hiệu Thông Vi Vu của giáo hội Việt Nam – người vừa được Chúa gọi về ngày 1 tháng 3, hưởng thọ 65 tuổi, để cùng suy ngẫm và thắp nén hương lòng tưởng nhớ đến vị Giám mục đáng kính này. Lên đường ra khỏi ý riêng để tìm theo thánh ý Cũng như bao người ngoan đạo thời bấy giờ, thánh Giuse thể hiện niềm tin tôn giáo qua việc tuân hành lề luật được ban hành dưới thời Môsê. Luật là kim chỉ nam đời sống, luật cao trọng hơn cả bạc vàng, luật quý giá hơn những lời tinh hoa, luật nên như ánh sáng soi đường công chính. Sự công chính của một người được đánh giá xếp hạng tuỳ vào sự tuân giữ lề luật này. Luật lệ với những quy định rạch ròi, càng tuân thủ khít khao bao nhiêu, càng được đánh giá ở mức độ cao trên đàng công chính bấy nhiêu. Nhưng bước vào chương trình của Thiên Chúa, Giuse được mời gọi phải lên đường ra khỏi ý riêng vốn được luật lệ khuôn định để đến với thánh ý Chúa, đón nhận và tuân hành. Giấc mộng báo thứ nhất đã nói lên tất cả. Nếu theo luật lệ, Giuse vốn là người công chính, chẳng những không được đón Maria đang mang thai lạ về nhà, mà còn phải nhân danh sự công chính để tố giác Maria trước cộng đồng nữa. Nhưng theo thánh ý thể hiện qua lời sứ thần trong mộng báo, Giuse đã đón nhận Maria trọn vẹn trong tình yêu, để trở nên công chính bằng cách ra khỏi lựa chọn theo tiêu chuẩn của thói quen luật lệ mà gắn bó với lời gọi đầy mạo hiểm của Thiên Chúa. Ý Chúa thật đáng ngại, làm đảo lộn tất cả khuôn sáo ngày trước để mở ra nẻo lối yêu thương. Giuse đã sẵn lòng từ bỏ sự công chính theo tiêu chuẩn của luật lệ để bước theo sự công chính theo chuẩn mực của tình yêu. Chính đây là việc lên đường đầu tiên của niềm tin. Lên đường ra khỏi sự yên ả để lao đầu vào sóng gió Đón nhận Maria về chung sống, tưởng rằng từ nay đời có Chúa êm trôi êm trôi, Chúa dắt dìu đi không ngơi không ngơi, nào ngờ tình yêu tuyệt vời chưa kịp thấy, Giuse đã gặp đường đi đơn côi và vất vả chừng như gia tăng gấp bội. Nào là phải lên đường trở về nguyên quán Belem đăng ký hộ khẩu khi Maria đang ở những ngày cuối thai kỳ, nào là phải gạt lệ chịu để Chúa Giêsu được sinh ra trong hang đá nơi trú ẩn của bò lừa, và đỉnh cao là giấc mộng báo thứ hai: “Hãy đem trẻ Giêsu và mẹ Người trốn sang Ai Cập”. Quả là trách nhiệm một thân với đôi vai gánh gồng. Niềm tin là như thế đó, không phải là chọn lấy cuộc sống yên ả êm đềm, mà ngược lại luôn bị đẩy đưa ra giữa biển khơi sóng gió để chèo chống mà lớn lên trong lòng tin cậy mến. Tin chính là một gặp gỡ cá vị với Thiên Chúa để sống gắn bó bền lòng bất kể những thử luyện để mà lớn lên, những khổ đau để mà minh chứng, những cùng cực để mà thêm tín thác cậy trông. Thánh Giuse đã trải qua những biến cố thăng trầm ấy để trở nên tượng đài của lòng tin kiên cường. “Ai muốn theo Ta, hãy bỏ mình, vác thập giá hằng ngày mà đi theo”. Chúa Giêsu đã ra tiêu chuẩn như vậy. Kitô hữu, thuộc về Chúa Kitô và cũng bước đi theo Người, theo gương thánh Giuse và trong tinh thần Mùa Chay giữa lòng Năm Đức Tin, ta cũng sẵn sàng đón nhận thập giá bổn phận của bậc sống để vác lấy hằng ngày qua việc to việc nhỏ, được nhiều người biết đến hay chỉ trong âm thầm, mà bước đi theo Chúa bền bỉ trong cuộc đời mình. Lên đường ra khỏi vòng hạn hẹp để sống chan hoà Nếu giấc mộng thứ ba báo tin bạo chúa Hêrôđê băng hà là tin buồn cho người thuộc phe cánh ông thì lại là tin vui cho gia đình thánh: chấm dứt nỗi lo canh cánh bao ngày canh giữ và bảo toàn sinh mạng cho Đấng Cứu Thế, đồng thời cũng chấm dứt cảnh tha hương trốn chạy. Giấc mộng hồi hương tưởng xa biền biệt giờ đây đã đến. Quê hương vấn vương ngày nào giờ đây đã thân thương tỏ hiện. Nhưng trong chính cảm xúc rất đỗi tự nhiên ấy, thánh Giuse lại được thúc đẩy để không xuôi về Giuđêa miền nam mà ngược lên sinh sống tại Galilêa miền bắc để Chúa Giêsu sau này được người ta nhìn nhận như người Nazarét. Quả là tình tiết nhiệm mầu. Nếu Giuse trở lại miền nam co cụm bên ít gia đình quen biết kẻ mất người còn thì có lẽ mối quan hệ sẽ không tránh khỏi bị hạn chế, đàng này ngài đi xa hơn, mạo hiểm hơn, nhưng cũng đầy tính tiên liệu để trẻ Giêsu sau này lớn lên sẽ có môi trường rộng rãi hơn để thi thố ơn gọi đời mình. Đây không chỉ là việc tính toán mang mầu xã hội mà còn là thể hiện một sứ mạng tôn giáo. Niềm tin không dừng lại trong vòng tròn hạn hẹp địa lý tình thân sở thích, … [Read more…]

Tìm Hiểu Về Mùa Chay theo Sách Lễ Rô-ma

– Mùa Chay nhằm chuẩn bị cử hành lễ Vượt Qua. Phụng vụ Mùa Chay giúp các dự tòng và các tính hữu cử hành mầu nhiệm Vượt Qua. Các dự tòng được chuẩn bị qua những giai đoạn khác nhau của việc nhập đạo; còn các tín hữu thì qua việc tưởng niệm bí tích Thánh Tẩy và việc sám hối. – Mùa Chay bắt đầu từ Thứ Tư Lễ Tro và kết thúc ngay trước Thánh Lễ Tiệc Ly – Không đọc (hay hát) Alleluia từ đầu Mùa Chay cho tới lễ Canh Thức Vượt Qua – Các Chúa Nhật mùa này gọi là Chúa Nhật I, II, III,IV, V Mùa Chay.Chúa Nhật thứ sáu, bắt đầu Tuần Thánh, gọi là Chúa Nhật Lễ Lá tưởng niệm cuộc thương khó của Chúa. – Tuần Thánh nhằm tưởng niệm cuộc Thương Khó cùa Chúa Kitô từ lúc Người vào thành Giê-ru-sa-lem với tư cách là Đấng Mê-si-a. Sáng thứ Năm Tuần Thánh, Đức Giám Mục đồng tế với Linh mục đoàn, làm phép dầu thánh và cung hiến dầu hiến thánh.   Luật Giữ Chay và Kiêng Thịt Giáo luật điều 1251 dạy: “Thứ Tư Lễ Tro và Thứ Sáu Tuần Thánh phải giữ chay và kiêng thịt.” Trong ngày ăn chay, chỉ được ăn một bữa no và hai bữa ăn ít không được ăn no.  Khôngđược ăn vặt giữa các bữa ăn. Có thể uống sữa hay các loại nước trái cây. Tuổi giữ chay: Theo Giáo Luật điều 1252: “Mọi người từ tuổi thành niên cho đến khi bắt đầu 60 tuổi thì phải giữ chay.” Và Giáo Luật điều 97, khoản 1 qui định: “Ai đã được 18 tuổi trọn thì là thành niên. Luật kiêng thịt buộc những người từ 14 tuổi trọn. Tuy nhiên, các Chủ Chăn và các phụ huynh phải lo dạy cho các em chưa đến tuổi buộc ăn chay và kiêng thịt để chúng hiểu biết ý nghĩa đích thực của việc thống hối (Giáo Luật 1252). Luật của Giáo Hội Hoa Kỳ quy định: tất cả các ngày thứ Sáu trong Mùa Chay phải kiêng thịt   Ba việc làm truyền thống trong Giáo Hội Công Giáo vào Mùa Chay là ăn chay, cầu nguyện, và làm việc lành phúc đức (giúp đỡ người nghèo, v.v.) và một trong 6 điều răn Hội Thánh buộc chúng ta “chịu Mình Thánh Chúa Giêsu ít là trong Mùa Phục Sinh.” Và để xứng đáng rước Chúa ngự vào lòng, chúng ta phải sạch tội. Bởi vậy chúng ta phải liệu đi xưng tội.   Nguồn gốc của việc xức tro có từ khi nào? Nguồn gốc của việc xức tro thuộc về khuôn khổ của việc sám hối chính thức. Nguồn gốc này bắt đầu bắt buộc đối với toàn bộ cộng đồng Kitô hữu từ thế kỷ thứ mười. Phụng vụ hiện nay vẫn giữ được yếu tố truyền thống xức tro và giữ chay nghiêm ngặt. Tro lấy từ đâu? Theo truyền thống từ thế kỷ thứ mười hai, Tro lấy từ những lá ô liu hoặc lá dừa được làm phép trong Chúa Nhật Lễ Lá của năm trước. Lời chúc lành nhắc nhớ lại tình trạng tội lỗi cho nhưng ai được nhận lãnh. Có những biểu tượng nào của tro? Các biểu tượng của tro là như sau: –   Tình trạng suy yếu và tự mãn của con người dẫn họ tiếp cận gần đến sự chết. –    Tình trạng tội lỗi của con người. –   Cầu nguyện và khẩn nài tha thiết để Thiên Chúa đến trợ giúp. –   Được sống lại, vì lẽ tất cả mọi người đều được kêu gọi tham dự vào chiến thắng của Chúa Kitô Những khía cạnh mục vụ nào cần nhấn mạnh trong Mùa Chay? Mùa Chay là mùa cao điểm của phụng vụ, trong đó toàn thể Giáo Hội chuẩn bị cho việc cử hành Lễ Phục Sinh. Lễ Vượt Qua của Chúa, Bí tích Rửa tội và lời mời hòa giải, thông qua bí tích giải tội, đó là những mối tương quan quan trọng. Nên sử dụng phương tiện mục vụ như: Việc dạy Giáo Lý về mầu nhiệm Phục sinh và các Bí tích; Tiếp cận và cử hành thường xuyên Lời Chúa. Nếu có thể được, nên tham gia hàng ngày các phụng vụ mùa Mùa Chay, cử hành sám hối, và nhất là việc tiếp nhận bí tích giải tội. Các kỳ Linh thao, các cuộc hành hương như là một dấu hiệu của sự ăn năn, sự tự nguyện ăn chay, làm phúc bố thí, các công việc từ thiện và truyền giáo. (tổng hợp theo tài liệu Sách Lễ Rô-ma và “Pastoral Statement on Penance and Abstinence” của HĐGM Hoa Kỳ)

Gương Thánh Trong Tuần – Thánh Laurensô Hưởng

Thánh Laurensô Hưởng, Linh Mục (1802-1856) – Kính ngày 13 tháng 2 Thánh Laurensô sinh năm 1802 tại Tụy Hiền, xứ Kẻ Sải, tổng Trinh Khiết, Hà Nội. Ngài gia nhập Chủng Viện Vĩnh Trị, nhưng vào năm Minh Mạng thứ XIV, cơn bách đạo càng ngày càng gay gắt nên Chủng Viện phải tạm đóng cửa. Ngài phải về gia đình. Mọi người đều mến phục lòng đạo hạnh và đức bác ái của ngài. Sau một thời gian, ngài trở lại Chủng Viện và tiếp tục học. Sau khi thụ phong linh mục, ngài làm việc tại các xứ Giang Sơn, Lạc Thổ, Yên Lộc và Bạch Bát. Ðến thời cấm đạo dưới thời Tự Ðức, năm 1855, khi đi kẻ liệt, ngài bị bắt trên sông tại làng Vân Du. Ngài bị giam ở huyện Yên Mô một thời gian rồi bị áp giải về tỉnh Ninh Bình. Tại đây, mặc dầu bị tra khảo đánh đập nhiều lần, ngài vẫn hiên ngang tuyên xưng đức tin và ước ao được phúc tử đạo. Ngày 13/02/1856, ngài bị trảm quyết tại pháp trường Ninh Bình. Ðức Giáo Hoàng Piô X đã tôn phong ngài lên bậc Chân Phước ngày 02/5/1909. Ðức Thánh Cha Gioan Phaolô đã tôn phong Hiển Thánh ngày 19/6/1988. (Theo nhóm truyền giáo Châu Kiên Long, Đà Lạt)