Tìm hiểu gốc tích Tháng Hoa Đức Mẹ

Là người Công giáo Việt Nam, nhất là những người đã lớn lên trong một xứ đạo miền Bắc, Trung hoặc Nam, có lẽ họ không lạ gì sinh hoạt tôn giáo trong tháng Năm, tháng Hoa Đức Mẹ.  Khi ngàn hoa xanh, đỏ, trắng, tím, vàng nở rộ trong cánh đồng, thì con cái Mẹ cũng chuẩn bị cho những đội dâng hoa, những cuộc rước kiệu, để tôn vinh Mẹ trên trời. Nếu có ai tự hỏi: Tháng Hoa có từ đời nào? Do ai khởi xướng? thì câu trả lời cũng không khó khăn gì. Gốc tích như thế này: Vào những thế kỷ đầu, hàng năm, khi tháng Năm về, người Rôma tôn kính sự thức giấc sau mùa đông dài của thiên nhiên bằng những cuộc tổ chức gọi là những ngày lễ tôn kính Hoa là Nữ thần mùa Xuân. Các tín hữu Công giáo trong các xứ đạo đã thánh hóa tập tục trên. Họ tổ chức những cuộc rước kiệu hoa và cầu nguyện cho mùa màng phong phú. Có nơi người ta tổ chức các cuộc “Rước xanh”. Người ta đi cắt các cành cây xanh tươi đang nở hoa, đưa về trang hoàng trong các nhà thờ và đặc biệt các bàn thờ dâng kính Đức Mẹ. Các thi sĩ cũng như các thánh đua nhau sáng tác những bài hát, bài giảng ca tụng những ngày lễ đó cũng như ca tụng Đức Mẹ.  Đến thế kỷ 14, linh mục Henri Suzo dòng Đaminh, vào ngày đầu tháng 5, đã dâng lên Đức Mẹ những việc tôn kính đặc biệt và lấy hoa trang hoàng tượng Đức Mẹ. Thánh Philipe đệ Nêri, cũng vào ngày 1 tháng 5, thích tập họp các trẻ em lại chung quanh bàn thờ Đức Mẹ, để cùng các bông hoa mùa xuân, Ngài dâng cho Đức Mẹ các nhân đức còn ẩn náu trong tâm hồn non trẻ của chúng. Đầu thế kỷ 17, tại Napoli, nước Ý, trong thánh đường kính thánh Clara của các nữ tu Dòng Phanxicô, tháng Đức Mẹ được cử hành công cộng: Mỗi chiều đều có hát kính Đức Mẹ, ban phép lành Mình Thánh. Từ ngày đó, tháng Đức Mẹ nhanh chóng lan rộng khắp các xứ đạo. Năm 1654, cha Nadasi, dòng Tên, xuất bản tập sách nhỏ khuyên mời giáo hữu dành riêng mỗi năm một tháng để tôn kính Đức Mẹ Chúa Trời. Đầu thế kỷ 19, hết mọi xứ trong Giáo hội đều long trọng kính tháng Đức Mẹ. Các nhà thờ chính có linh mục giảng thuyết, và gần như lấy thời gian sau mùa chay là thời gian chính thức để tôn kính Đức Mẹ. Trong việc này linh mục Chardon đã có nhiều công. Không những ngài làm cho lòng sốt sắng trong tháng Đức Mẹ được phổ biến trong nước Pháp mà còn ở mọi nước Công giáo khác nữa. –  Đức Giáo Hoàng Phaolô 6, trong Thông điệp Tháng Năm, số 1 viết: “Tháng Năm là Tháng mà lòng đạo đức của giáo dân đã kính dâng cách riêng cho Đức Mẹ. Đó là dịp để ” bày tỏ niềm tin và lòng kính mến mà người Công giáo khắp nơi trên thế  giới có đối với Đức Mẹ Nữ Vương Thiên đàng. Trong tháng này, các Kitô hữu, cả ở trong thánh đường cũng như nơi tư gia, dâng lên Mẹ từ các tấm lòng của họ những lời cầu nguyện và tôn kính sốt sắng và mến yêu cách đặc biệt. Trong tháng này, những ơn phúc của Thiên Chúa nhân từ cũng đổ tràn trên chúng ta từ ngai tòa rất dồi dào của Đức Mẹ” (Dictionary of Mary, Catholic book Pub. 1985, p. 236)   (Theo Lm. Đoàn Quang, CMC, tinmung.net)                          

Thánh Piô V, Giáo Hoàng (1504-1572) Kính ngày 30 tháng 4

Thánh Piô V, Giáo Hoàng (1504-1572) Kính ngày 30 tháng 4 Thánh Piô V tên thật là Ghiliêri, sinh ngày 17/01/1504 tại làng Boscô (xứ Piémont) Alêsan. Thuở nhỏ, ngài phải đi chăn chiên, đến năm 13 tuổi mới được đi học. Ngài xin nhập dòng Ða Minh và được khấn trọng thể sau đó… Năm 1566, ngài được bầu làm Giáo Hoàng. Lên ngôi, ngài để ý ngay đến việc thánh hóa hàng giáo sĩ. Khiêm tốn nhưng rất cương quyết, ngài mở rộng lãnh vực hoạt động và đem lại hòa bình cho nhiều quốc gia… Ngài chết năm 1572 sau một cơn bệnh nặng, hưởng thọ 68 tuổi. Năm 1712, Ðức Clêmentê XI đã tôn phong ngài lên bậc Hiển Thánh.

Thánh Catarina Thành Siêna Ðồng Trinh, Tiến Sĩ Hội Thánh (1347-1380) Kính ngày 19 tháng 4

Thánh Catarina Thành Siêna Ðồng Trinh, Tiến Sĩ Hội Thánh (1347-1380) Kính ngày 19 tháng 4 Catarina sinh năm 1347 trong một gia đình đạo hạnh. Từ lúc thiếu thời, Catarina đã thụ hưởng đức tính cương nghị của cha, lòng đạo đức và sự dịu hiền của mẹ. Ngài đã khấn dâng cuộc đời cho Chúa. Ðến tuổi thành hôn, nhiều người đến dạm hỏi, nhưng đều bị từ chối. Ý Chúa nhiệm màu đã giúp ngài vượt qua tất cả những thử thách cam go. Sau khi được sự ưng thuận của gia đình, ngài xin vào dòng Ða Minh, với tên là chị Pénitence (Thống Hối) năm 1364. Ngài đã sống một cuộc đời khổ hạnh gương mẫu. Có lần thánh Ða Minh hiện ra an ủi khuyến khích ngài. Chính Chúa Giêsu nhiều lần hiện đến nói chuyện và dạy bảo ngài. Ngài đã hòa mình vào cuộc sống hằng ngày để giúp đỡ những người đồng loại, thăm viếng các bệnh nhân, săn sóc, giúp đỡ những người yếu đuối. Ngài cũng đã hòa giải được bao gia đình đã chia rẽ nhau vì những mối thù truyền kiếp… nhưng rồi cũng có những kẻ manh tâm ghen tuông công việc của ngài, cho là ngài giả hình. Ngài cũng rất băn khoăn cho vận mạng Giáo Hội: Chấn hưng lòng đạo đức đang bị sa sút, vận động dời Giáo triều về La Mã lúc đó bị lưu vong ở Avignon (nước Pháp), xin tổ chức đạo binh Thánh Giá để chống người Hồi Giáo. Ngài còn được triệu về La Mã làm cố vấn cho Giáo Triều. Ngài chết ngày 29/4/1380. Năm 1491, Ðức Giáo Hoàng Piô II đã tôn phong ngài lên bậc Hiển Thánh.   (dongcong.net)

Thánh Anselmô, Tổng Giám Mục Cantorbéry, Tiến Sĩ Hội Thánh (1032-1109) – Kính ngày 21 tháng 4

Anselmô sinh tại Aoste, một thành phố nhỏ nằm trên ranh giới xứ Piémont và Thụy Sĩ. Gia đình thuộc dòng quý tộc Công Giáo. Mẹ ngài rất đạo đức. Cha ngài lại có vẻ khô khan, nhưng đến cuối đời, ông đã dâng mình trong một tu viện. Vừa lớn lên, Anselmô đã nhận rõ mặt trái của cuộc đời. Ngài quyết bỏ thế gian để đi tu. Lúc đầu gặp những chuyện trắc trở, nhưng sau đó ngài đã đạt được ý nguyện. Năm 27 tuổi, ngài vào tu tại dòng Biển Ðức. Với ơn Chúa và sự hăng say của tuổi trẻ, ngài ra công tu luyện nhân đức. Không bao lâu, nhân đức của ngài đã được đồn thổi khắp nơi. Ngài được bầu làm Bề Trên tu viện. Nhiều người từ khắp nơi đã đến nghe những lời chỉ giáo của ngài. Khi vua nước Anh băng hà, tân vương tìm cách áp chế hàng giáo sĩ, chiếm đoạt tài sản của Giáo Hội. Thánh nhân lập tức lên đường sang Anh quốc để can ngăn nhà vua. Với tài lợi khẩu và đức khôn ngoan hiếm có, thánh nhân đã thuyết phục được con người kiêu căng đó. Khi thấy Ðức Cha Lanfranc, Tổng Giám Mục Cantorbéry và cũng là thầy cũ, qua đời (1093), ngài được gọi lên thay, làm Tổng Giám Mục giáo khu này. Sau đó, cũng vì tính tham lam và hà tiện, nhà vua và bọn nịnh thần đã ra tay tìm cách lăng mạ, vu khống Giáo Hội. Can ngăn không được, ngài liền trở về Rôma. Ngài đã tham dự công đồng Bari, chống lại lạc thuyết của những người Hy Lạp cố chấp. Tại công đồng, ngài đã minh chứng một cách chính xác và khôn ngoan tín điều Chúa Thánh Thần do Chúa Cha và Chúa Con nhiệm sinh. Khi Henri I lên ngôi, nhà vua cho mời ngài trở lại để lấy lòng dân. Trở về địa phận được một thời gian ngắn, với tuổi cao sức kiệt, ngài linh cảm thấy giờ cuối cùng đã tới, thánh nhân sốt sắng chịu các phép Bí Tích sau hết và nhắm mắt từ trần ngày 21/4/1109. (Theo dongcong.net)

Thánh Conrad Parzham, Tu sĩ (1818-1894) – Kính ngày 20 tháng 4

Suốt 41 năm, Conrad làm người gác cổng tu viện ở Altoetting, Bavaria, cho người nghèo vào nhà dòng và gián tiếp khuyến khích họ để Chúa bước vào cuộc đời họ. Cha mẹ ngài là Bartholomew (Batôlômêô) và Gertrude Birndorfer, sống gần Parzham, Bavaria. Thời đó, vùng này đang phục hồi sau chiến tranh Napolêôn (Napoleonic). Ngài ưa cầu nguyện riêng và kiến tạo hòa bình từ hồi còn thanh niên, rồi ngài vào dòng Phanxicô. Ngài tuyên khấn năm 1852 và được phái đến tu viện ở Altoetting. Nhà thờ thành phố này  dâng kính Đức Maria rất nổi tiếng. Tại dòng Phanxicô gần đó có nhiều việc như giữ cổng hoặc khuân vác. Mới đầu, một số tu sĩ ghen tức với Conrad còn trẻ mà được làm việc quan trọng. Lòng kiên nhẫn và sự thánh thiện của ngài đã khiến họ hết nghi ngờ. Ngài luôn đối xử lịch sự như thánh Phanxicô mong muốn. Sự giúp đỡ của ngài đôi khi làm người khác khó chịu. Có lần linh mục Vincent muốn tĩnh lặng để soạn bài giảng nên lên tháp chuông nhà thờ để suy nghĩ. Có người chỉ muốn xưng tội với linh mục Vincent nên ngài đi tìm, và ngài bị linh mục này quở trách. Ngài rất được trẻ em trong vùng quý mến. Ngài hăng hái xúc tiến hội Bác ái Thiên thần (Seraphic Work of Charity) để giúp các trẻ em cơ nhỡ. Ngài dành nhiều giờ cầu nguyện trước Thánh Thể, ngài còn thường xuyên xin Đức Mẹ cầu bầu cho ngài và cho nhiều người khác. Ngài được phong thánh năm 1934.

Thánh Bênêđictô, người Phi châu (1526-1589) Kính ngày 3 tháng 4

Bênêđictô giữ những cương vị quan trọng trong dòng Phanxicô và khéo léo thích nghi với công việc khác khi hết nhiệm kỳ. Cha mẹ ngài bị bán làm nô lệ ở Messina, Sicily. Được trả tự do lúc 18 tuổi, Bênêđictô làm nông nghiệp để có lương và đủ tiền mua cặp bò. Ngài rất hảnh diện với cặp bò này. Khi sống với nhóm ẩn tu tại Palermo, ngài được đề cử làm lãnh đạo. Vì nhóm ẩn tu này sống theo tu luật của Thánh Phanxicô Khó nghèo, ĐGH Piô IV truyền cho họ gia nhập Dòng Nhất. Bênêđictô làm giáo tập (novice master) và rồi là quản lý dòng ở Palermo – các vị trí này thời đó hiếm khi được giao cho một tu sĩ. Thật vậy, Bênêđictô buộc phải chấp nhận việc bầu cử mình làm quản lý. Khi hết nhiệm kỳ, ngài vui mừng được trở lại làm bếp. Bênêđictô sửa lỗi anh em với lòng khiêm ngường và bác ái. Có lần ngài sửa lỗi một tập sinh và giao làm việc đền tội và rồi biết rằng tập sinh đó không phạm lỗi. Ngài lập tức quỳ trước mặt tập sinh đó và xin tha thứ. Cuối đời, Bênêđictô không sở hữu thứ gì cho mình dùng. Ngài không bao giờ nói là “của tôi” mà luôn nói là “của chúng ta”. Ngài có tiếng là chuyên cần cầu nguyện và có biệt tài hướng dẫn các linh hồn khiến khắp vùng Sicily đều biết sự thánh thiện của ngài. Theo gương thánh Phanxicô Assisi, Bênêđictô ăn chay quanh năm, mỗi đêm chỉ ngủ vài giờ. Trong dòng Phanxicô thời đó, cương vị lãnh đạo được hạn chế về thời gian. Khi hết nhiệm kỳ, các cựu lãnh đạo đôi khi gặp khó khăn để thích nghi với vị trí mới. Giáo hội cần các nam nữ tu sĩ sẵn sàng cố gắng trong cương vị lãnh đạo – nhưng họ lại không sẵn sàng ở cương vị khác khi mãn nhiệm kỳ lãnh đạo. Sau khi ngài qua đời, vua Philip III của Tây Ban Nha xây cho ngài một ngôi mộ đặc biệt. Ngài được phong thánh năm 1807, và được người Mỹ gốc Phi tôn kính là thánh bổn mạng. Chúa Giêsu nói: “Tôi đến để phục vụ chứ không để được phục vụ” (x. Mt 20:28). Thánh Phanxicô Assisi viết trong Lời Khuyên IV (Admonition IV): “Những người được đặt trên những người khác nên vinh dự làm việc đó chỉ khi nào họ nhận trách nhiệm rửa chân cho anh em. Họ càng buồn vì mất chức vụ thì họ càng mất nhiệm vụ rửa chân, và họ càng tích lũy kho tàng những mối hiểm họa cho linh hồn (x. Ga 12:6)”. (Theo nhóm truyền giáo Châu, Kiên, Long, Đà Lạt)

Thánh Phanxicô Ðệ Phaolô Ẩn Tu và Lập Dòng (1416-1507) Kính ngày 2 tháng 4

Thánh Phanxicô Ðệ Phaolô Ẩn Tu và Lập Dòng (1416-1507) Kính ngày 2 tháng 4 Nhờ lời thánh Phanxicô Khó Khăn bầu cử, năm 1416, ông bà Jacques Martotille đã hạ sinh một hài nhi xinh đẹp, đó là Phanxicô đệ Phaolô. Sau một thời gian sống tại tu viện thánh Marcô, ngài bắt đầu cuộc đời ẩn dật. Nhân đức của ngài mỗi ngày một lan rộng, Chúa thực hiện nhiều phép lạ qua tay ngài. Theo lời yêu cầu của Ðức Giáo Hoàng Sixtô IV, ngài lập dòng “Anh em hèn mọn” do chính ngài làm Bề Trên và soạn thảo luật dòng. Các nhân đức chính mà ngài nhắm tới là bác ái, khiêm tốn, giữ luật, vâng lời, say mê phần rỗi các linh hồn và đặc biệt sùng kính Ðức Maria. Ngày 02/4/1507, ngài lâm cơn hấp hối. Trước khi chết, ngài đã áp giải Thánh Giá vào ngực và than thở: “Lạy Chúa, con xin phó thác linh hồn con trong tay Chúa. Lạy Chúa Giêsu nhân hiền, xin bảo trợ những người công chính và cải hóa những tâm hồn tội lỗi. Xin thương các tín hữu còn sống và đã qua đời. Xin ấp ủ con dù con chỉ là một tội nhân bất xứng”. Ngày 01/5/1519, do những công đức ngài đã làm, Ðức Giáo Hoàng Lêô X đã ghi tên ngài vào sổ các vị Hiển Thánh của Giáo Hội. (Theo nhóm truyền giáo Châu, Kiên, Long, Đà Lạt)  

Thánh Hugh Grenoble, Giám mục (1052-1132) Kính ngày 1 tháng 4

Thánh Hugh Grenoble, Giám mục (1052-1132) Kính ngày 1 tháng 4 Thánh Hugh Grenoble có thể là bổn mạng của nhưng người có quá nhiều vấn đề đè nặng mà không biết bắt đầu từ đâu. Ngài phục vụ trong chức vụ giám mục ở Pháp suốt 52 years. Sự suy đồi có vẻ xuất hiện trong mọi chiều hướng: Mua bán chức quyền trong giáo hội, vi phạm luật độc thân giáo sĩ, người đời cai quản tài sản giáo hội, dửng dưng và làm ngơ tôn giáo. Sau khi làm giám mục 2 năm, ngài đã làm đầy đủ trách nhiệm. Ngài ẩn mình vào một tu viện, nhưng ĐGH gọi ngài trở lại tiếp tục công việc cải cách. Ngài làm việc tương đối hiệu quả trong cương vị nhà cải cách – chắc hẳn nhờ lòng nhiệt thành với giáo hội, và cũng nhờ cá tính mạnh mẽ của ngài nữa. Trong những cuộc xung đột giữa giáo hội và nhà nước, ngài cương quyết bảo vệ giáo hội tới cùng và bảo vệ giáo hoàng. Ngài giảng đạo như nhà hùng biện. Ngài khôi phục nhà thờ chính tòa, cải thiện đô thị và và bị đi đày một thời gian ngắn. Ngài được biết nhiều là thánh bổn mạng và nhà hảo tâm của thánh Bruno, vị sáng lập dòng Carthusian (Carthusian Order0. Ngài qua đời năm 1132, và được phong thánh chỉ 2 sau đó. (Theo nhóm truyền giáo Châu, Kiên, Long, Đà Lạt)  

Thánh Turibiô Mongrôvêjô, Giám Mục (1538-1606) – Kính ngày 23 tháng 3

Thánh Turibiô Mongrôvêjô, Giám Mục (1538-1606) – Kính ngày 23 tháng 3 Thánh Turibiô sinh tại Léon năm 1538. Ngài được vua Philippine II tín nhiệm nên mặc dù còn là giáo dân, ngài đã được gọi thụ phong Giám Mục cai quản giáo phận Lima vào năm 1581. Vừa đặt chân tới miền đất Pérou xa lạ, ngài vô cùng xúc động trước những tệ đoan gặp phải, nhất là việc người Âu Châu đàn áp dân bản xứ và sự sa đọa của hàng giáo sĩ. Ngài bắt đầu thăm viếng giáo phận, chuyên tâm cầu nguyện, ăn chay và hãm mình. Cuộc thăm viếng lần thứ nhất kéo dài 5 năm, vì giáo phận ngài chạy dài tới 500 cây số dọc theo bờ biển Thái Bình Dương. Ngài đã chết giữa cuộc hành trình thứ ba vào ngày 23/3/1606. Lúc còn tại chức, ngài đã triệu tập nhiều hội đồng giáo phận và thiết lập nhiều cơ sở Công Giáo. Hơn nữa, ngài còn mạnh tay trong việc bài trừ những tệ đoan trong khu vực trách nhiệm. Cuộc sống thánh thiện và cầu nguyện đã là đường đưa ngài về cùng Chúa, Ðấng mà ngài đã hy sinh trót đời để phụng sự.   (Theo nhóm truyền giáo Châu, Kiên, Long, Đà Lạt)      

Thánh Phêrô Damianô, Giám Mục Tiến Sĩ Hội Thánh (988-1072) Kính ngày 21 tháng 2

Thánh Phêrô Ðamianô sinh tại Ravenna nước Ý năm 988, mồ côi cha mẹ khi vừa cất tiếng khóc chào đời. Nhờ sự chăm sóc của người anh, và với tư chất thông minh sắc sảo, Phêrô Ðamianô đã tiến mau và thu lượm nhiều kết quả trên đường học vấn rồi trở thành giáo sư danh tiếng. Ðể sống đời hoàn thiện hơn, ngài xin vào tu viện Aven thuộc dòng Thánh Giá do Chân Phước Ludolphô sáng lập. Sau đó chính ngài làm tu viện trưởng. Với sự thông minh và tài ba đức độ của ngài, dòng đã tiến triển rất nhiều. Hiểu rõ vai trò của Ðức Mẹ trong đời sống trọn lành, ngài nhấn mạnh cho các tu sĩ dòng việc sùng kính Mẹ Maria. Vào thời của Phêrô Ðamianô, Giáo Hội gặp phải những phong ba và sa đọa. Tội lỗi đã len lỏi vào ngay cả tòa thánh Phêrô. Hoàn cảnh đồi bại trong toàn Giáo Hội đã làm cho biết bao người thất vọng và ly khai khỏi Giáo Hội. Trước thảm trạng đó, thánh Phêrô Ðamianô chỉ biết sống thân mật với Chúa trong việc cầu nguyện. Ðời sống thánh thiện ấy đã làm cho nhiều người cảm phục và tin tưởng. Ðức Giáo Hoàng Stêphanô IX phong ngài làm Hồng Y Giáo Hội Rôma và Giám Mục thành Otti (1058). Nhưng đến đời Ðức Alêsan II thì ngài được phép lui về Aven để sống đời hy sinh hãm mình và khiêm nhường tuyệt đối với kỷ luật khắt khe, làm bạn cùng roi da, xích sắt, ăn bằng chậu rửa chân và ngủ trên manh chiếu dưới đất. Năm 1071, Ðức Giám Mục Ravenna mất, ngài phải lên thay. Tuy già yếu với số tuổi đã cao, ngài cũng đem hết tâm trí nỗ lực chu toàn nhiệm vụ chủ chăn cho đến ngày 22/02/1072, Chúa gọi ngài về trên đường đi La Mã. Ðức Lêô XII đã tôn ngài lên bậc Hiển Thánh. Xin Chúa vì công nghiệp của thánh nhân, xin cho vị cha chung của chúng ta biết luôn sáng suốt, hướng dẫn dân Chúa theo đường lối của Ngài. (dongcong.net)