Các Thánh Tử Ðạo Tiên Khởi Của Hội Thánh Rôma – Kính ngày 30 tháng 6

Các Thánh Tử Ðạo Tiên Khởi Của Hội Thánh Rôma – Kính ngày 30 tháng 6 Giáo Hội muốn dành riêng ngày hôm nay để kính nhớ một số rất đông các vị anh hùng tử đạo tiên khởi của Giáo Hội Rôma dưới thời bạo chúa Néron: các ngài bị vu oan là đã đốt thành, vì vậy bạo chúa ra lệnh hành quyết các ngài bằng đủ mọi cách. Có những vị bị đem ra làm mồi cho thú vật xâu xé, những vị khác bị treo trên Thập Giá cho đến chết, cũng có những vị bị tẩm dầu vào thân xác rồi đốt như một ngọn đuốc cháy mỗi khi đêm xuống. Tất cả những vị đó đều là môn đệ của các thánh tông đồ, các ngài đã được hiến dâng cho Chúa như của lễ đầu mùa, như hạt giống đức tin gieo vào lòng lương dân để từ đó nảy sinh những hoa trái tốt tươi cho các thế hệ kế tiếp.  

Thánh Tôma Tông Đồ – Kính ngày 3 tháng 7

Thánh Tôma, còn gọi là Ðiđimô, người xứ Galilêa là một trong số mười hai môn đệ của Chúa Giêsu. Phúc Âm, đặc biệt là Phúc Âm thánh Gioan, đã cho ta thấy ngài là người rất nhiệt thành và tận tụy. Một lần Chúa Giêsu muốn về Giuđêa để cho Lazarô sống lại, nhưng nơi đó người Do Thái đang âm mưu giết Chúa, nên Tôma đã can đảm nói: “Nào chúng ta cùng đi để được chết với Thầy”. Sau khi Chúa sống lại, lòng cứng tin của Tôma đã là bài học đích đáng cho muôn thế hệ. Ðối với sự Phục Sinh của Chúa, ngài chỉ biết thốt lên: “Lạy Chúa tôi và là Chúa Trời tôi” Sau khi nhận lãnh Chúa Thánh Thần, có lẽ ngài đã đi rao giảng Tin Mừng ở Patia, Ba Tư. Một văn kiện khác cho rằng ngài đã đặt chân lên Ấn Ðộ và chịu tử đạo ở đó, vì người ta đã tìm thấy nhiều tài liệu chứng minh ngay từ xưa dân tộc Ấn Ðộ đã có một lòng tôn kính đặc biệt đối với thánh Tôma tông đồ.

Thánh Tôma More Tử Ðạo (1478-1525) – Kính ngày 22 tháng 6

Thánh Tôma More sinh tại Luân Ðôn năm 1478. Ngài được gửi đi giúp việc cho Ðức Giám Mục Morton. Năm 14 tuổi, ngài trở lại Oxford và tiếp tục việc học. Hai năm sau, cha ngài gọi về quê nhà và kèm riêng cho ngành luật. Trong khoảng thời gian đó, ngài sống tiết hạnh và hãm mình như một thầy dòng. Một ngày kia, ngài chợt muốn xin gia nhập đạo, nhưng ý tưởng đó vụt tắt và mùa xuân năm 1505, ngài đã bắt đầu cuộc sống đôi bạn. Tuy nhiên ngài vẫn duy trì nếp sống đạo đức và trở thành một người chính thống gương mẫu. Sau khi được vinh thăng đến bậc tướng, ngài bị nhiều người mua chuộc. Mặc dù với bao nhiều lời quyến rũ, ngài vẫn cức lực phản đối cuộc hôn nhân giữa vua Henri VIII với cô Anna Bolen, nhất quyết không gia nhập Anh giáo ly khai. Ngài từ chối chức vụ Tổng Giám Mục của Anh giáo. Nhà vua qúa thất vọng bực tức, bắt giam ngài trong một nhà tù ở Luân Ðôn. Sau cùng, ngài đã chịu tử đạo ngày 06/7/1525. Khi nghe án tử, ngài mạnh dạn nói những lời này: “Tôi biết lý do tại sao tôi bị kết án, chỉ là vì tôi không ủng hộ, không chấp nhận cuộc hôn nhân bất chính thứ hai của nhà vua. Bỏ cuộc sống đời này, tôi được đi vào cuộc sống mới trong sự quan phòng của Chúa. Xin Chúa nhận lấy tôi, đó là lời cầu xin và là niềm hy vọng của tôi, xin Chúa chúc lành ban ơn cho Ðức Giám Mục Fisher và cải hóa nhà vua. Xin Người hãy nhận lời tôi”. Và cuộc đời của thánh Tôma More đã chấm dứt trong sự thánh thiện và vinh quang.

Thánh Gioan Fisher, Hồng Y Tử Ðạo (+1535)– Kính ngày 22 tháng 6

Thánh Gioan Fisher, Hồng Y tử đạo thuộc dòng họ bá tước. Ngài thụ giáo tại Cambridge, sau làm giáo sư và khoa trưởng tại đây, đồng thời ngài còn là cha Giải Tội trong hoàng cung. Năm 1504, ngài được đặt làm Giám Mục giáo phận Rochester. Khi vua Henri VIII ngỏ ý muốn kết hôn với Anna Bolen, ngài hết sức ngăn cản và quyết liệt phản đối. Nhưng nhà vua vẫn làm theo ý định của mình. Ðức Giáo Hoàng Clêmentê VII ra vạ rút phép thông công, nhưng nhà vua lại tự phong cho mình là Giáo Chủ Anh giáo. Riêng về phần Ðức Giám Mục Fisher, người ta bắt giam ngài ở Luân Ðôn. Vì lòng nhiệt thành và nhân đức của ngài, Ðức Giáo Hoàng Phaolô III đặt ngài lên chức Hồng Y, đồng thời cũng là dịp để cho nhà vua ăn năn hối lỗi. Nhưng trái lại, vua Henri VIII tuyên bố: “Ðức Giáo Hoàng có gửi mũ Hồng Y nhưng Giám Mục Fisher chẳng còn đầu để mà đội”. Ngay sau đó, ngài bị kết án tử hình. Ngài bằng lòng chấp nhận và cảm thấy yên lòng vì đã chu toàn bổn phận Chúa đã trao phó. Bước lên đoạn đầu đài, ngài cất cao bài Te Deum để tạ ơn Chúa. Trong khi hoan hỉ với niềm cứu thoát của Chúa, đầu ngài rơi xuống dưới lưỡi gươm của tên đao phủ. Ngài vĩnh viễn ra đi ngày 22/6/1535.

Sinh Nhật Thánh Gioan Baotixita – Kính ngày 24 tháng 6

Sinh Nhật Thánh Gioan Baotixita – Kính ngày 24 tháng 6   “Có một người được Thiên Chúa sai đến, người đó tên là Gioan, ông đến để làm chứng cho ánh sáng” (Gio 1, 6). Ðó là lời mở đầu Phúc Âm IV mà Thiên Chúa đã dùng để ám chỉ vị sứ giả của Ðấng Cứu Thế. Ðịa vị của ngài rất quan trọng trong hàng các tiên tri của lịch sử dân Chúa. Ngay từ lúc sinh ra, Thiên Chúa đã bao bọc ngài bằng những dấu lạ, và người đương thời băn khoăn tự hỏi: rồi đây con trẻ này sẽ làm nên những gì?   Ðến tuổi khôn lớn, ngài từ giã gia đình vào trong rừng vắng sống đời cầu nguyện và khổ hạnh. Phúc Âm ghi lại: “Thức ăn của ngài là châu chấu và mật ong rừng, áo ngài mặc là tấm da thú”. Thân xác ngài phải chịu cơ cực, nhưng tinh thần của ngài lại đầy nguồn ơn thánh phong phú.   Năm thứ XV, dưới thời hoàng đế Tibêriô Cêsarê, Phontiô Philatô đang làm tổng trấn xứ Giuđêa, Thiên Chúa đã gọi ngài từ hoang địa để rao giảng phép Rửa thống hối, kêu gọi mọi người thành tâm sửa soạn ngày Ðấng Cứu Thế đến. Toàn dân Do Thái đổ xô nghe ngài giảng và chịu phép Rửa. Rất nhiều người tin vào ngài, nhưng ngài vội minh xác: “Tôi không phải là Ðấng Cứu Thế, sẽ có một người đến sau tôi và tôi không xứng đáng cởi dây giày Người” (Lc 3, 16). Chúa Giêsu cũng đã đến xin ngài làm phép Rửa. Thánh nhân đã nhận ra Người và chỉ cho các môn đệ của mình biết Ðấng Cứu Thế.    Sứ mạng dọn đường cho Ðấng Cứu Thế được ngài thi hành rất nghiêm chỉnh. Ngài đã quở trách Hêrôđê vì vua đã lấy vợ em mình. Ngài bị tống giam vào ngục và cuối cùng bị chém đầu vì đã cương quyết làm chứng cho chân lý.                                                                                                  (Theo nhóm tryền giáo Châu Kiên Long, Đà Lạt)

Thánh Antôn Pađua, Linh Mục Tiến Sĩ Hội Thánh (1195-1231) – Kính ngày 13 tháng 6

Thánh Antôn Pađua, Linh Mục Tiến Sĩ Hội Thánh (1195-1231) – Kính ngày 13 tháng 6                                Antôn Pađua sinh năm 1195 tại Lisbonne thủ đô nước Bồ Ðào Nha, trong một gia đình quyền quý và đạo đức. Vốn được giáo dục theo tinh thần Phúc Âm nên ngài sớm ý thức được việc dâng mình cho Chúa. Ðầu tiên, ngài nhập dòng thánh Augustinô và được chịu chức linh mục tại đó. Cảm thấy lý tưởng sống khiêm tốn và khắc kỷ hợp với mình hơn và nhất là ngài ao ước được truyền giáo cho dân ngoại và được tử đạo, nên ngài xin gia nhập dòng Phanxicô năm 1220. Tại đây, ngài được Bề Trên sai đi truyền giáo cho dân Sarrasins ở Phi Châu, thể theo ý nguyện của ngài. Nhưng ý Chúa quan phòng lại định liệu cách khác. Vừa tới Phi Châu, ngài ngã bệnh nặng và phải trở về điều trị. Trên đường về quê, tàu ngài bị bão thổi dạt vào đảo Sicile thuộc nước Ý và ngài ở lại nhà dòng tại Monte Paulo. Nhờ gương đạo đức và tài giảng thuyết, ngài được Bề Trên cử đi giảng khắp nơi và lo việc huấn luyện các tu sĩ trong dòng. Bất cứ ở đâu, lời giảng của ngài đều có sức lôi cuốn nhiều người đến nghe. Chúa còn minh xác lời ngài bằng nhiều phép lạ. Không những tại Ý, mà tại đất Pháp, ngài làm việc không biết mệt mỏi. Và người ta đã ghép cho ngài tên “Hòn Bia giao ước” và “Cái búa của bọn lạc giáo”. Ngài trở về Pađua một năm trước khi chết. Ngài nổi tiếng vì công đức và các phép lạ đã làm. Ngày 13/6/ 1231, ngài về an nghỉ trong Chúa, hưởng thọ 36 tuổi. Năm 1946, Ðức Giáo Hoàng Piô XII đã tôn phong ngài làm Tiến Sĩ Hội Thánh.

Thánh Êphrem, Phó Tế, Tiến Sĩ Hội Thánh (308-373) – Kính ngày 09 tháng 6

Thánh Êphrem sinh năm308 tại Nisible nước Syria. Từ khi còn nhỏ, ngài đã bị cha đuổi ra khỏi gia đình vì ngài có cảm tình với đạo Công Giáo, ngài đến với Ðức Cha Giacôbê học đạo và chịu phép Rửa. Vì sự tiến triển quá mau chóng về đường tu đức và học vấn, Ðức Cha đã trao cho ngài giữ chức vụ giáo sư thần học tại Nisible, miền Mésopotamia, và ít lâu sau phong chức phó tế cho ngài. Vì sự khiêm tốn, ngài xin từ chối không lãnh chức linh mục. Nhờ khôn ngoan, thông minh và đạo đức, ngài đã được mang danh hiệu Tiến Sĩ Giáo Hội ngay khi ngài còn sống. Ngài có lòng mộ mến Ðức Maria Vô Nhiễm cách đặc biệt. Ngài cũng là một nhà chiêm niệm với nếp sống khổ hạnh, một tiến sĩ với những lời giảng thuyết cao sâu cũng như những bài giáo lý bình dị cho đại chúng. Hơn nữa ngài còn là một thi sĩ với danh hiệu “Cây đàn của Chúa Thánh Linh”. Ngài đã dùng thơ văn trong việc giảng dạy Phúc Âm. Dưới hình thức Thánh Vịnh, ngài đã chuyển đạt cho dân chúng những bài học dễ hiểu và dễ nhớ. Những bài thơ của ngài đầy ý vị diễn tả tình yêu đối với Chúa Giêsu và Ðức Mẹ Maria. Năm 363, Nisible bị rơi vào tay người Ba Tư, ngài phải chạy về Edesse (Mésopotamia) và chết ở đó ngày 16/6/373. Năm 1920, Ðức Giáo Hoàng Bênêđictô XV đã tuyên phong ngài làm Tiến Sĩ Hội Thánh.

Thánh Justinô Tử Ðạo – Kính ngày 1 tháng 6

Justinô sinh ra trong một gia đình Hy Lạp tại Naplousse, trong xứ Syria Palestina. Mặc dù sống trong bầu khí ngoại giáo, ngài vẫn khao khát được tìm biết Thiên Chúa chân thật. Ước vọng đó kèm theo một óc suy luận và tra cứu đã khiến ngài hiểu tất cả các triết đương thời như pháo Khắc Kỷ, Pythagore, Platon…, nhưng tất cả đều không làm ngài thỏa mãn. Một lần kia, tình cờ ngài gặp một ông lão lạ mặt. Qua cuộc đàm thoại, ông lão chỉ vẽ cho ngài con đường ngay thật để tìm đến Thiên Chúa: đó là học hỏi qua Thánh Kinh. Nghiền ngẫm lời cụ già, ngài bắt đầu mở Thánh Kinh. Nhờ ơn Chúa soi sáng, ngài đã cảm phục và say mê các giá trị luân lý của đời sống Kitô Giáo. Cuối cùng, ngài đã được Rửa Tội để lãnh nhận một đức tin như những người Công Giáo khác. Tự thâm tâm, ngài nhận thấy mình có bổn phận phải rao truyền lời Chúa. Những kiến thức uyên thâm của ngài đã làm cho những người đối thoại phải đuối lý. Nổi danh nhất là cuộc đối chất với Tryphon, một học giả Do Thái. Ngài đã trưng ra tất cả bằng chứng thánh kinh để minh xác Chúa Giêsu là Ðấng Cứu Thế. Nhờ những buổi diễn thuyết, những cuộc đối thoại của ngài, rất nhiều người đã trở lại đạo Công Giáo. Năm 138, vua Antonin Pieux đã mở màn một cuộc bách hại tàn khốc. Thánh Justinô đã mạnh dạn đứng ra bệnh vực giáo hữu. Ngài dùng ba tấc lưỡi cố gắng đòi cho được quyền tự do tín ngưỡng. Tiến đến triều đại Marc Autèle, cuộc bách hại càng gắt gao hơn. Với ý chí sắt đá, ngài đã quyết bảo vệ chân lý. Sau cùng, vì những thất bại chua cay, lương dân đã nộp ngài cùng một số bạn hữu và tống giam vào ngục. Khuyên nhủ ngài không được, năm 165, họ đã kết án tử hình ngài. Năm 1882, Ðức Giáo Hoàng Lêô XIII đã phổ biến lễ kính ngài trên toàn Giáo Hội, đặt ngài làm quan thầy các tâm hồn ngay chính.

Thánh Bêđa Vênêrabilê, Linh Mục Tiến Sĩ Hội Thánh (673-735) – Kính ngày 25 tháng 5

Thánh Bêđa Vênêrabilê, Linh Mục Tiến Sĩ Hội Thánh (673-735) Kính ngày 25 tháng 5   Thánh Bêđa sinh năm 673 tại Jarron vùng biên giới Anh Quốc và Ecosse. Ngài mồ côi cha khi lên bảy, nhưng bù lại người thụ hưởng nơi người mẹ một trí khôn sắc sảo và nhiều đức tính cao đẹp. Năm 682, ngài vào dòng Biển Ðức, sống một cuộc đời khiêm nhường, vâng lời và đơn sơ. Năm 29 tuổi, ngài lãnh chức linh mục và được cử làm giáo sư. Nhiệt thành với sứ mạng, ngài đã áp dụng những phương pháp mới, thích hợp với tâm lý. Ngoài việc dạy học, ngài còn viết nhiều sách có giá trị thuộc đủ mọi bộ môn như triết lý, toán học, và thường đảm nhiệm công tác đối chất với các lạc giáo. Nhưng điểm nổi bật hơn cả nơi ngài chính là đời sống nội tâm dồi dào, kết hiệp mật thiết với Chúa, hăng say cầu nguyện và trung thành với việc bổn mạng. Khi nằm trên giường bệnh với hai mắt mù lòa, ngài còn cố gắng đọc cho học trò chép bản dịch Phúc Âm Thánh Gioan. Ðến năm 735, ngài qua đời trong khi miệng vẫn còn đọc kinh “Sáng Danh” ca tụng Chúa.  Ngày 13/11/1899, ngài được Ðức Giáo Hoàng Lêô XIII truy phong lên bậc Tiến Sĩ Giáo Hội.  

Thánh Bernađinô thành Siêna, Linh Mục (1380-1444) Kính ngày 20 tháng 5

Thánh Bernađinô thành Siêna, Linh Mục (1380-1444) Kính ngày 20 tháng 5 Ngày 07/9/1380 là ngày sinh nhật và cũng là ngày thánh Bernađinô Albizesca lãnh phép Rửa Tội. Ngài bị mồ côi mẹ từ hồi lên ba và mồ côi cha khi chưa đầy sáu tuổi, được một bà dì đạo đức nuôi nấng và dạy dỗ chu đáo. Với một lòng bác ái và thương xót đối với người nghèo, ngài tự nguyện hiến thân phục vụ các bệnh nhân tại nhà thương Ðức Bà Scala, ở Siêna. Ngày 08/9/1402, nhận ra tiếng Chúa, ngài liền bán hết của cải và xin nhập dòng Phanxicô. Sau đó, ngài lãnh chức linh mục và được các Bề Trên giao cho sứ mạng đi giảng thuyết. Mặc dù biết mình không có khả năng, nhưng ngài đặt hết tin tưởng vào sự trợ giúp của Thiên Chúa và đã lướt thắng được những khó khăn. Rảo qua khắp thành thị và làng xóm, lời giảng dạy và ơn cứu độ danh Chúa Giêsu đã lôi cuốn được nhiều người nghe theo. Ngài đã khôi phục lại được đời sống đạo đức và thuần phong mỹ tục đang trên đà xuống dốc. Ngài luôn hăng say và nhiệt thành với nghĩa vụ cho tới khi lâm bệnh nặng. Trước khi nhắm mắt, ngài xin chịu các phép Bí Tích và đã trút linh hồn trong tay Chúa tại thành Aquila, thọ 66 tuổi, vào ngày lễ Chúa Thánh Thần hiện xuống năm 1444.  (Theo nhóm truyền giáo Châu Kiên Long Đà Lạt)