Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời – ngày 15 tháng 8

Ngày 1-11-1950, ĐGH Piô XII tuyên bố việc Đức Mẹ lên trời là tín điều: “Giáo hội xác quyết đây là tín điều về Mẹ Thiên Chúa, Đức Trinh Nữ Maria, đã hoàn tất hành trình trần gian, hồn xác Mẹ được hưởng vinh quang thiên quốc”. Chúng ta tìm thấy những bài giảng về Đức Mẹ lên trời từ thế kỷ VI. Các thế kỷ sau, Giáo hội Đông  phương đã kiên quyết với tín điều này, nhưng một số tác giả Tây phương vẫn do dự. Tuy nhiên, hồi thế kỷ XIII đã có sự đồng thuận toàn cầu. Kinh thánh không nói về việc Mẹ về trời. Tuy nhiên, sách Khải huyền chương 12 có nói về một phụ nữ chiến đấu giữa điều thiện và điều ác. Nhiều người coi phụ nữ này là người của Thiên Chúa. Vì Đức Mẹ là hiện thân của cả Cựu ước và Tân ước, việc Mẹ về trời có thể coi là một minh họa về chiến thắng của phụ nữ này. Vả lại, trong thư 1 Corintô 15:20, thánh Phaolô nói về sự phục sinh của Chúa Kitô là hoa trái đầu mùa của những người còn ngủ mê. Đức Mẹ kết hợp mật thiết với các mầu nhiệm trong cuộc đời Chúa Giêsu, thì không lạ gì khi Chúa Thánh Thần đã dẫn dắt Giáo hội tin vào việc đồng hưởng vinh quang của Thiên Chúa. Mẹ gần gũi với Chúa Giêsu trên thế gian, chắc hẳn Mẹ phải gần gũi với Ngài trên trời cả hồn và xác. (Trầm Thiên Thu – chuyển ngữ từ: BeliefNet.com, Saints.sqpn.com, AmericanCatholic.org, Catholic.org)

Thánh Maximilian Mary Kolbe (1894-1941) – Kính ngày 14 tháng 8

Cha mẹ ngài nói: “Tao không biết mày sẽ làm nên trò trống gì nữa!” Maximilian Mary Kolbe nói: “Con cầu xin rất nhiều với Đức Mẹ cho con biết những gì sẽ xảy ra với con. Đức Mẹ hiện ra, cầm 2 triều thiên trong tay, một trắng và một đỏ. Đức Mẹ hỏi con thích cái nào – một cái tượng trưng sự thanh khiết, một cái tượng trưng sự tử đạo. Con đã nói con chọn cả hai. Đức Mẹ mỉm cười và biến đi”. Ngài vào Dòng Phanxicô ở Lvív (lúc đó thuộc Ba Lan, nay là Ukraina), gần nơi ngài sinh, ngài mặc áo dòng lúc 16 tuổi. Sau đó ngài có học vị tiến sĩ về triết học và thần học, ngài cũng rất say mê khoa học, thậm chí ngài còn phác họa tàu hỏa tiễn (rocket ships). Ngài thụ phong linh mục lúc 24 tuổi, ngài coi sự lãnh đạm tôn giáo thời đó là chất độc nguy hiểm nhất. Nhiệm vụ của ngài là đấu tranh chống lại điều đó. Ngài thành lập Đạo binh Vô nhiễm (Militia of the Immaculata), mục đích là chống lại ma quỷ bằng đời sống tốt lành, cầu nguyện, làm việc và chịu đau khổ. Ngài cũng đã ấn hành tạp chí Hiệp sĩ Vô nhiễm (Knight of the Immaculata), một tờ báo tôn giáo nhờ sự bảo trợ của Mẹ Maria để rao truyền Tin Mừng khắp các quốc gia. Ngài thành lập Thành phố Vô nhiễm (City of the Immaculata) – Niepokalanow – gồm 700 tu sĩ Phanxicô. Sau đó ngài thành lập một nhà khác ở Nagasaki, Nhật. Cả Đạo binh và Tạp chí đều đạt mức 1 triệu thành viên và ấn bản. Tình yêu ngài dành cho Thiên Chúa qua lòng sùng kính Đức Mẹ.  Năm 1939, Đức quốc xã xuất hiện khắp Ba Lan. Niepokalanow bị đánh bom. Thánh Kolbe và các tu sĩ bị bắt, rồi được thả sau 3 tháng, nhằm ngày lễ Mẹ Vô Nhiễm. Năm 1941, ngài lại bị bắt. Mục đích của Đức quốc xã là triệt tiêu những người đã chọn lựa, những nhà lãnh đạo. Một tù nhân bỏ trốn. Viên cai tù ra lệnh 10 người khác phải chết thay. Hắn chọn: “Thằng này. Thằng này”. Tử tù mang số 16670 tiến lên: “Tôi xin thay người này. Anh ta còn có vợ con”. Cai tù hỏi: “Mày là thằng nào?”. Thánh Kolbe nói: “Tôi là linh mục”. Tên cai tù đá trung sĩ Phanxicô Gajowniczek ra khỏi hàng và ra lệnh cho LM Kolbe đứng vào chỗ thứ 9. Các tử tù bị lột trần và bị bỏ đói cho chết dần chết mòn. Không một tiếng than thở, la hét, nhưng họ hát vang. Vào chiều lễ vọng Mẹ Mông Triệu, có 4 người còn sống. LM Kolbe đang cầu nguyện ở góc phòng. Tên cai tù đến chích cho ngài một mũi axít carbolic. Họ đốt xác ngài cùng với các tử tù khác. LM Kolbe được giáo hội phong chân phước năm 1971 và được phong thánh năm 1982.

Học Hỏi Sống Đạo – Tuần Thứ 18 Năm A

Hỏi: Nghi thức bẻ bánh có ý nghĩa gì? Đáp:   Nghi thức bẻ bánh lập lại cử chỉ của Chúa Kitô trong bữa Tiệc Ly: “Người cầm lấy bánh, bẻ ra và trao cho các môn đệ”. Vào thời các Tông đồ, thánh lễ được gọi là việc “bẻ bánh”. Thánh Phaolô giải thích: “Tấm bánh mà chúng ta bẻ ra chẳng phải là thông phần vào Mình Chúa đó sao? Vì có một tấm bánh, nên chúng ta tuy nhiều người, chúng ta cũng chỉ là một thân thể, vì hết thảy chúng ta thông phần vào một tấm bánh” (1 Cor 10,16-17). Cử chỉ bẻ bánh thể hiện rõ ràng giá trị và tầm quan trọng của dấu hiệu hiệp nhất của mọi người trong cùng một tấm bánh, và của dấu hiệu yêu thương trong việc mọi người cùng chia với nhau tấm bánh duy nhất. Trước đó, kinh nguyện Thánh Thể đã nhấn mạnh điều này khi bày tỏ lời nguyện sau: “Chúng con tha thiết nài xin Chúa cho chúng con khi thông phần Mình và Máu Đức Kitô, được quy tụ nên một nhờ Chúa Thánh Thần” (kinh nguyện Thánh Thể II). Chúng ta không thể tăng triển trong sự hiệp nhất với Chúa Kitô nếu chúng ta không cùng một lúc tăng triển trong sự hiệp nhất huynh đệ. Ngày xưa, nghi thức bẻ bánh chiếm nhiều thời gian vì phải chia sẻ bánh thánh cho tất cả cộng đoàn. Ngày nay, vì những lý do mục vụ (số người rước lễ đông chẳng hạn), người ta thường sử dụng những bánh lễ nhỏ cho giáo dân và một bánh lễ lớn cho linh mục. Ngài chỉ bẻ bánh lớn này mà thôi. Do đó nghi thức bẻ bánh có thể khó nhận ra được, nhưng vẫn luôn giữ được ý nghĩa sâu sắc của nó. Hỏi: Tại sao đọc Kinh Tin Kính ? Đáp: Trong thánh lễ, một trong những giây phút liên hệ chặt chẽ với Lời Chúa, đó là lúc đọc kinh Tin Kính hay lời tuyên xưng đức tin. Kinh Tin Kính được đọc trong các lễ Chúa nhật và lễ trọng như là sự chấp nhận và đáp lại Lời Chúa mà giáo dân đã nghe trong các bài đọc và bài diễn giảng.  Kinh Tin Kính tóm tắt tất cả các điều căn bản của đức tin Kitô giáo.  Đọc kinh Tin Kính là dấu hiệu nhìn nhận niềm tin của mọi Kitô hữu.  Có hai bản Kinh Tin Kính: Kinh Tin Kính các Tông Đồ và Kinh Tin Kính Nixêa.  –   Kinh Tin Kính các Tông Đồ, cũng gọi là Biểu Tín các Tông Đồ (symbole des Apôtres), là kinh Tin Kính xưa nhất, có từ thế kỷ thứ II. Bản này tổng hợp các công thức đã có trước đó. Từ thế kỷ thứ VI, bản này có hình thức như chúng ta thấy hiện nay. Đây là bản tuyên xưng những tín điều chính yếu nhất khi chịu phép Rửa. –  Kinh Tin Kính Nixêa do Công Đồng Nixêa (Nicée) chấp thuận vào năm 325 nhằm đối phó với lạc thuyết Arianô chối bỏ thần tính của Chúa Giêsu Kitô. Sau đó bản này được Công Đồng Constantinople bổ túc vào năm 381 nhằm để xác quyết thần tính của Chúa Thánh Thần do nhiều bè rối chối bỏ, vì thế đôi khi người ta gọi bản này là kinh Tin Kính của các Công Đồng Nixêa-Constantinople. Giáo dân Việt Nam thường đọc bản này trong thánh lễ. (Trích từ tập sách “40 CÂU HỎI VỀ THÁNH LỄ” của Lm. Giuse Vũ Thái Hòa)

Thánh Bênêđictô, Tu Viện Trưởng – Kính ngày 11 tháng 7

Bênêđictô chào đời năm 480, tại Norcia. Sự giáo dục đạo đức trong gia đình đã sớm làm cho ngài trưởng thành về phương diện luân lý. Dù mới chỉ là một thiếu niên 16, 17 tuổi, mà ngài đã có những tư cách thật khôn ngoan, không ham chi những thú vui, khoái lạc, coi thường danh vọng, của cải trần gian. Sau những ngày hạnh phúc sống dưới mái nhà êm ấm, ngài được gửi đi du học tại La Mã. Ðang mải mê việc học thì Bênêđictô tìm ra ý Nhiệm Màu của Thiên Chúa. Ngài vào hoang địa Subiacô cách La Mã 40 dặm để sống đời tịch liêu thân mật với Chúa. Danh tiếng và lòng đạo đức thánh thiện của ngài được truyền tụng khắp nơi. Không một ai mà không biết đến tên ngài. Gần nơi ngài trú có một nhà dòng, vị Bề Trên vừa mới mất, nên toàn thể cộng đồng đã đến xin thánh nhân kế vị và coi sóc. Trước lời van xin tha thiết, ngài đã bằng lòng. Sau một thời gian, ngài lại trở về hang cũ, sống mật thiết với Chúa hơn. Số người đến xin làm môn đệ ngài càng ngày càng đông. Ngài phải lập ra nhiều nhà cho họ trú. Với bầu nhiệt huyết sẵn có, ngài ra sức giảng thuyết cho dân chúng xa rời các ngẫu tượng trở về với Thiên Chúa. Kèm theo lời giảng, Chúa đã dùng tay ngài thực hiện những phép lạ cả thể, chữa bệnh tật cho kẻ chết sống lại. Chúa cũng ban cho thánh nhân ánh sáng để thấu rõ lòng người, biết trước công việc xảy ra. Cuộc sống của ngài đã chứng minh lòng tin cậy nơi Chúa rất sâu xa, và nhân đức khó nghèo trọn hảo. Vì tuổi già sức yếu do thời gian chay tịnh, hy sinh hãm mình, ngài đã mong ước về cùng Chúa sau những ngày dọn mình sốt sắng. Nhiều phép lạ xuất hiện sau cái chết của ngài, làm cho danh thơm và sự nghiệp của ngài loan truyền, tồn tại mãi mãi. Chính sự phát triển mau lẹ của nhà dòng ở khắp năm châu đã nói lên được điều đó. (Theo nhóm truyền giáo Châu, Kiên, Long, Đà Lạt)

Thánh Gaetanô, Linh Mục (1480-1547) – Kính ngày 7 tháng 8

Thánh Gaetanô sinh năm 1480 tại Vivence nước Ý, thuộc gia đình quý phái mang tên là Thiena. Nhờ sự giáo dục chu đáo của người mẹ, ngay từ nhỏ ngài đã biết tận hiến cho Ðức Maria và siêng năng học tập các nhân đức. Ngài còn tỏ ra là một tâm hồn rất quảng đại, biết yêu thương đồng loại, nhất là kẻ bần cùng khốn khổ. Ngài học luật ở Padua. Nhờ trí thông minh và lòng đạo đức, ngài được Ðức Juliô II mời gọi vào làm trong Giáo Triều Rôma và sau đó được phong chức linh mục năm 1516. Ngài lập nhiều nhà thương miễn phí và trong khi bệnh dịch hoành hành, ngài vẫn cứ trực tiếp chăm sóc bệnh nhân. Ðặc biệt ngài rất lưu tâm đến phần rỗi của kẻ khác, nên người ta có thói quen gắn cho ngài biệt hiệu là “Thợ săn các linh hồn”. Sống trong lúc kỷ luật Giáo Hội sa sút, ngài đã cố gắng tái lập lại bằng đời sống gương mẫu hoạt động tông đồ. Ngài lập hội các linh mục triều, sống tinh thần Phúc Âm đích thực, bán các tư sản, không cần giáo dân đảm bảo cho tương lai, chỉ nhận những của bố thí tự phát. Ngài đã đào tạo cho Giáo Hội nhiều cán bộ tài đức. Sau bốn ngày lâm bệnh, ngài trút hơi thở cuối cùng vào đầu tháng 8/1547 tại Naples trước sự chứng kiến của anh em trong dòng.

Học Hỏi Lời Chúa

Hỏi: Tại sao buộc đi lễ ngày Chúa nhật? Đáp: Ngày nay, nhiều tín hữu nhiệt thành không thích kiểu nói “buộc đi lễ ngày Chúa nhật”. Họ khó chấp nhận việc dâng lễ ngày Chúa nhật như là một bổn phận phải giữ! Thật vậy, người ta thường nói đến Kitô giáo với những bổn phận phải chu toàn. Những kiểu nói “luật buộc”, “bổn phận” đúng ra nên được hiểu như là những dấu hiệu báo động: chúng không chỉ định một lý tưởng phải vươn tới, nhưng chỉ là một nhắc nhở lòng trung thành cần phải giữ và phát triển. Khi đức tin sống động, thì không cần phải nói đến việc buộc giữ ngày Chúa nhật. Nếu yêu mến Chúa Kitô thì chúng ta không thể không đáp lại lời mời gọi của Người. Khi đang đói và được người ta dọn một bữa ăn thịnh soạn, hỏi rằng chúng ta có thực sự bị bắt buộc ăn hay không? Nếu chúng ta khao khát hạnh phúc và bình an, thì chỉ có Chúa Kitô mới có thể làm cho chúng ta thỏa lòng. Vậy có bị bắt buộc phải tiếp đón Chúa Kitô khi Người mời gọi chúng ta đến dự tiệc Thánh Thể của Người không? Tham dự thánh lễ không phải là dịp để chúng ta lấy lại sức cho đời sống thường nhật của chúng ta hay sao? Trước câu hỏi: “Có buộc đi lễ các ngày Chúa nhật hay không?”, câu trả lời sẽ là “có” cho những ai không mắc ngăn trở thật sự để đến tham dự thánh lễ. Vả lại, Giáo hội khuyên nhủ các tín hữu cử hành thánh lễ hằng ngày. Tham dự thánh lễ mỗi ngày là thông phần hoàn toàn với hành vi phụng vụ của Giáo hội để dâng lên bàn thờ tất cả đời sống và lịch sử của con người. Đối với các tín hữu có thể đi nhà thờ được, thánh lễ hằng ngày đặt sự phục sinh của Chúa Kitô ngay giữa các hoạt động trong ngày của họ: nghề nghiệp, gia đình, xã hội, v.v… Trong mối quan hệ của chúng ta đối với Thiên Chúa, khi chúng ta bắt đầu tính toán để khỏi làm hơn bổn phận đòi hỏi, làm vừa vặn cho đúng luật buộc, khi chúng ta cố “mặc cả” về điều “được phép” và “điều cấm đoán” để tìm ra những điều dễ làm hơn, khi chúng ta muốn tìm ơn cứu rỗi “rẻ tiền”, thì lúc đó chúng ta nên xét lại tình trạng sức khỏe đức tin của chúng ta !  

Thánh Alphongsô Maria Liguori, Giám Mục Tiến Sĩ Hội Thánh (1696-1787) Kính ngày 1 tháng 8

Thánh Alphongsô Maria Liguori sinh ngày 27/9/1696 trong một gia đình quý phái và đạo đức tại Marinella gần Naples. Nhờ ảnh hưởng gia đình, cậu bé Alphongsô luôn trỗi vượt về học vấn cũng như về đức hạnh. Mười sáu tuổi, sinh viên ưu tú Alphongsô giật được mảnh bằng tiến sĩ giáo luật và dân luật, trở thành một trạng sư danh tiếng. Giữa cảnh giàu sang phồn thịnh và quyến rũ của thế gian, Alphongsô đã nhất quyết nghe theo tiếng gọi của Thiên Chúa, và cậu đã phải trải qua nhiều trở ngại. Trở ngại cam go nhất là của gia đình. Cha cậu không đồng ý để cậu dâng mình cho Chúa. Thế nhưng trước ý chí cương quyết của Alphongsô, người cha cũng đã phải nhượng bộ. Thầy bắt đầu học thần học và dành nhiều thời giờ để làm việc tông đồ. Thật là cảm động khi thấy một thanh niên con nhà quyền quý từ bỏ cuộc đời nhung lụa đi lang thang khắp phố tìm kiếm trẻ nhỏ dẫn vào nhà thờ dạy giáo lý. Nhìn cách sống khiêm cung với những đồ trang phục đơn sơ của thầy, các bạn cũ trong luật sư đoàn tỏ vẻ khinh khi. Nhiều lần họ còn nói những lời mỉa mai diễu cợt khiến ngài hết sức khổ tâm. Nhưng với ơn Chúa, thầy vui lòng chịu đựng để nên giống Ðức Giêsu hơn. Thầy thụ phong linh mục ngày 21/12/1726. Suốt cuộc đời, cha Alphongsô chỉ chuyên chú vào việc giảng dạy và khuyên bảo mọi người tiến bước trên đường nhân đức. Chính lời rao giảng của ngài đã đánh động người cha yêu quý. Ông ôm lấy con và nói: “Ôi con yêu dấu, Alphongsô con cha, giờ đây cha rất vui sướng vì thấy con đã ôm ấp được một lý tưởng cao quý. Cha xin lỗi con vì trước kia cha đã làm phiền lòng con và dám chống lại ý Chúa”. Ngài sáng lập dòng Chúa Cứu Thế năm 1732, một dòng đã giúp ích rất nhiều cho Giáo Hội. Các tu sĩ chuyên lo giảng dạy Tin Mừng và truyền bá lòng tôn sùng Ðức Mẹ. Năm 1762, ngài được phong làm Giám Mục giáo phận thánh Agatha Gothorum. Những năm cuối đời, thánh nhân phải chịu rất nhiều thử thách: bị bách hại, bị lo âu…, nhưng sau cùng, ngài tìm lại được bình an và yên nghỉ thánh thiện trong tay Chúa vào ngày 01/8/1787. Ðức Giáo Hoàng Piô IX đã đặt cho ngài tước hiệu Tiến Sĩ Giáo Hội năm 1871, và Ðức Piô XII đặt ngài làm quan thầy các cha giải tội và các nhà luân lý. (Theo nhóm truyền giáo Châu, Kiên, Long, Đà Lạt)

Thánh Bregitta, Góa Phụ (1303-1373) – Kính ngày 21/7

Thánh Brigitta sinh năm 1303 tại Thụy Ðiển (Suède). Cha mẹ ngài là bậc vị vọng và rất đạo đức. Ngài thích suy gẫm về sự thương khó Chúa. Kết hôn với ông Ulf Gusmarsson, quận công miền Névécie. Bằng lời nói và việc làm gương mẫu, ngài đã khéo hướng dẫn chồng đến tột đỉnh nhân đức. Ngài còn là người mẹ của tám đứa con. Lối giáo dục nhân từ dịu dàng và khôn ngoan đã giúp chúng biêt yêu thương kẻ nghèo và đau yếu. Sau khi chồng vào dòng Citeaux và chết ít lâu sau đó, ngài bắt đầu sống một đời rất khắc khổ (1344). Ngài đã được Thiên Chúa mạc khải nhiều lần điều bí nhiệm. Ngài đã lập một dòng ở Vadsténa theo luật dòng Saint Sauveur. Sau khi sang Giêrusalem hành hương, ngài trở về Rôma và mắc phải một chứng bệnh nan y. Sau một năm trường vật lộn với cơn bệnh, ngài từ trần năm 1373. Giáo Hội luôn kính nhớ những phép lạ ngài đã làm. Ngày 07/10/1391, Ðức Giáo Hoàng Bonifaciô IX đã ghi tên ngài vào sổ các Hiển Thánh. (Theo nhóm truyền giáo Châu Kiên Long, Đà Lạt)

Thánh Laurensô Brindisi, Linh Mục, Tiến Sĩ Hội Thánh (1559-1619) – Kính ngày 21/7

Jules César Russô sinh tại Brindisi, vùng Apulia, miền Nam nước Ý, vào năm 1559. Suốt cuộc đời ngài muốn trở thành một chiến sĩ của Thiên Chúa, một người hướng dẫn các linh hồn. Vì thế ngài đã xin gia nhập dòng thánh Phanxicô ở Vêrôme. Năm 1575, ngài được mặc áo dòng với tên là Laurensô Brindisi. Những năm học tại Padua đã giúp ngài trở thành một học giả, thông thạo các thứ tiếng Pháp, Ðức, Hy Lạp, Syrie, Do Thái. Ngài đã chuẩn bị sẵn sàng để bắt tay vào việc cải cách. Trước hết bằng lời giảng dạy: ngài đã không lý luận suông nhưng đặt vào lời Chúa một sức sống hầu lôi kéo các linh hồn. Danh tiếng ngài vang dội khắp Trung Âu. Ngoài ra, ngài còn là một người hăng say với Thập Tự Quân, ngài đã dẫn đầu đạo binh Hung Gia Lợi, với Thánh Giá cầm tay, để chống lại quân Thổ Nhĩ Kỳ. Và ngài đã thành công năm 1601. Ngài còn là một nhà ngoại giao tài giỏi của Ðức Giáo Hoàng. Ngài có một đời sống kết hợp thân mật với Ðức Kitô một cách đặc biệt. Ngoài những hoạt động bên ngoài, ngài dành rất nhiều thời giờ cho việc cầu nguyện và thực tập các nhân đức. Năm 1619, đang khi thi hành sứ mạng được trao phó ở Lisbone, ngài đã từ biệt cõi đời trong sự nghèo khó, đơn sơ và thánh thiện. Ngài đã để lại nhiều tác phẩm rất có giá trị bảo vệ đức tin Công Giáo. Ðức Giáo Hoàng Lêô XIII đã tấn phong ngài lên bậc Hiển Thánh năm 1881 và Ðức Giáo Hoàng Gioan XXIII đã tôn vinh ngài làm Tiến Sĩ Giáo Hội năm 1959.

Thánh Bênêđictô, Tu Viện Trưởng – Kính ngày 11 tháng 7

Bênêđictô chào đời năm 480, tại Norcia. Sự giáo dục đạo đức trong gia đình đã sớm làm cho ngài trưởng thành về phương diện luân lý. Dù mới chỉ là một thiếu niên 16, 17 tuổi, mà ngài đã có những tư cách thật khôn ngoan, không ham chi những thú vui, khoái lạc, coi thường danh vọng, của cải trần gian. Sau những ngày hạnh phúc sống dưới mái nhà êm ấm, ngài được gửi đi du học tại La Mã. Ðang mải mê việc học thì Bênêđictô tìm ra ý Nhiệm Màu của Thiên Chúa. Ngài vào hoang địa Subiacô cách La Mã 40 dặm để sống đời tịch liêu thân mật với Chúa. Danh tiếng và lòng đạo đức thánh thiện của ngài được truyền tụng khắp nơi. Không một ai mà không biết đến tên ngài. Gần nơi ngài trú có một nhà dòng, vị Bề Trên vừa mới mất, nên toàn thể cộng đồng đã đến xin thánh nhân kế vị và coi sóc. Trước lời van xin tha thiết, ngài đã bằng lòng. Sau một thời gian, ngài lại trở về hang cũ, sống mật thiết với Chúa hơn. Số người đến xin làm môn đệ ngài càng ngày càng đông. Ngài phải lập ra nhiều nhà cho họ trú. Với bầu nhiệt huyết sẵn có, ngài ra sức giảng thuyết cho dân chúng xa rời các ngẫu tượng trở về với Thiên Chúa. Kèm theo lời giảng, Chúa đã dùng tay ngài thực hiện những phép lạ cả thể, chữa bệnh tật cho kẻ chết sống lại. Chúa cũng ban cho thánh nhân ánh sáng để thấu rõ lòng người, biết trước công việc xảy ra. Cuộc sống của ngài đã chứng minh lòng tin cậy nơi Chúa rất sâu xa, và nhân đức khó nghèo trọn hảo. Vì tuổi già sức yếu do thời gian chay tịnh, hy sinh hãm mình, ngià đã mong ước về cùng Chúa sau những ngày dọn mình sốt sắng. Nhiều phép lạ xuất hiện sau cái chết của ngài, làm cho danh thơm và sự nghiệp của ngài loan truyền, tồn tại mãi mãi. Chính sự phát triển mau lẹ của nhà dòng ở khắp năm châu đã nói lên được điều đó.