Thánh Phêrô Và Phaolô Tông Ðồ, Kính ngày 29 tháng 6

Cả hai thánh đều chịu tử đạo tại Rôma. Thánh Phêrô năm 64 và Phaolô năm 67. Giáo Hội Rôma đã chọn ngày 29/6 để kính trọng thể hai đấng. Tuy nhiên, ngày hôm nay phải là ngày lễ của toàn thể Giáo Hội đã được nảy sinh do dòng máu oai hùng của các ngài. Một ngày vui mừng và hân hoan, vì cả hai thánh với những ơn huệ nhận lãnh, đã ra sức quy tụ thành một gia đình Chúa Giêsu, và giờ đây cả hai cùng kết hợp trong vinh quang và đáng được ca ngợi. Ngày hôm nay chúng ta tôn kính hai khuôn mặt tiêu biểu cho Giáo Hội sơ khai, mặc dù khác biệt nhưng bổ túc lẫn cho nhau. Thánh Phêrô và Phaolô đã hăng hái rao giảng Phúc Âm, nhờ đó chúng ta đón nhận được lời loan truyền đầu tiên của đức tin. Vì thế ngày hôm nay chúng ta cũng mừng kính mầu nhiệm Giáo Hội đặt nền tảng trên các ngài. Nhờ lời bầu cử của các ngài, chúng ta hãy cầu xin để trung thành với lời giáo huấn của các ngài, sống một đời bác ái như những Kitô hữu đầu tiên. (Theo nhóm truyền giáo Châu, Kiên, Long, Đà Lạt)    

Thánh Cyrillô, Giáo Phụ Alexandria, Tiến Sĩ Hội Thánh (+444) – Kính ngày 27 tháng 6

Cyrillô là cháu của Théophile, Giám Mục Alexandria. Ngay từ buổi thiếu thời, ngài đã tỏ ra những dấu chỉ thiên tài khác thường. Sau khi Ðức Théophile chết (412), được gọi lên thay, ngài chu toàn chức vụ của một vị chủ chăn hiền từ và tài ba. Ngài chú tâm lo bảo vệ đức tin Công Giáo và canh tân đời sống trong giáo phận. Ngài quan tâm đến đám dân nghèo thất học. Thời đó, ở Ðông Phương nổi lên một lạc giáo khá mạnh do Nestoriô cầm đầu. Theo Nestoriô, Ðức Maia không phải là Mẹ Thiên Chúa, mà chỉ là Mẹ Chúa Giêsu xét về nhân tính mà thôi. Như vậy, Nestoriô phủ nhận hai bản tính nơi Chúa Giêsu, đồng thời phủ nhận cả mầu nhiệm Nhập Thể. Ðức Cyrillô đã cấp thời đệ trình lên Ðức Thánh Cha và Tòa Thánh đã chỉ thị cho ngài chống lại bè rối. Trong những lần tranh luận với Nestoriô, lúc đó là Giám Mục Constantinople, ngài luôn tỏ ra một chủ chăn bình tĩnh và nhã nhặn, nhưng rất cứng rắn về giáo thuyết. Tòa Thánh đã loại Nestoriô ra khỏi Giáo Hội Công Giáo. Về vấn đề này, Giáo Hội đã xác định rõ ràng (431) chính Thiên Chúa đã trở thành người thật. Chính bản tính Thiên Chúa đã hợp với bản tính nhân loại trong lòng Ðức Trinh Nữ Maria. Vậy, Ðức Maria phải là Mẹ Thiên Chúa. Sau biến cố bè rối Nestoriô, ngài đem hết năng lực bảo vệ toàn vẹn đức tin Công Giáo và tái lập hòa bình cho giáo phận, đã bị giáo thuyết đầu độc nhiều năm. Ngài tạ thế ngày 28/6/444. Ðức Giáo Hoàng Cêlestinô đã tôn ngài danh hiệu Tiến Sĩ Hội Thánh.  

Ca Tiếp Liên

CA TIẾP LIÊN (đọc tất cả hoặc từ câu 21 cho đến hết) 1. Hỡi Sion, hãy ngợi khen Đấng cứu độ ngươi, Đấng lãnh đạo và mục tử của ngươi / với những bài vãn và những khúc ca! 2. Ngươi có sức chừng nào, hãy rán ngợi khen chừng nấy, vì Người vĩ đại hơn mọi lời khen ngợi, và ngươi cũng không đủ sức ngợi khen Người. 3. Đề tài của sự ngợi khen đặc biệt, đó là bánh sống và tác thành sự sống, ngày hôm nay đã đặt ra cho ngươi. 4. Đó là bánh mà trên bàn tiệc thánh, cho đoàn thể mười hai người anh em, Chúa đã ban tặng chẳng khá nghi ngờ. 5. Hãy xướng lên lời ca khen ngợi đầy đủ, lời ca hoan hỉ và râm ran, tâm thần hãy vui mừng rạng rỡ! 6. Vì đây là ngày trọng thể, ngày kỷ niệm bàn tiệc thánh / lần đầu tiên được thiết lập ra. 7. Tại bàn tiệc này của Đấng Tân Vương, lễ Vượt Qua mới theo luật pháp mới / chấm dứt lễ Vượt Qua của thời đại cũ. 8. Lễ nghi cũ nhường chỗ cho sự thực; đêm tối tăm nhường chỗ cho sự sáng sủa. 9. Điều mà Chúa Kitô đã làm trong bữa tiệc ly, thì Người đã ra lệnh cho thực thi điều đó để nhớ lại Người. 10. Nhờ lời thánh huấn của Người dạy bảo, chúng ta làm phép cho bánh và rượu / trở nên lễ vật hy sinh ban ơn cứu độ. 11. Đây là tín điều dạy người Kitô hữu rằng / bánh trở nên thịt Chúa, và rượu trở nên máu Người. 12. Điều bạn không hiểu, không xem thấy, thì đức tin mạnh mẽ xác nhận xảy ra, ngoài luật lệ thiên nhiên. 13. Dưới những hình sắc khác nhau, chúng chỉ là biểu hiệu, không còn thực chất, có ẩn nấp những thực tại cao siêu. 14. Thịt Chúa là của ăn, máu Người là thức uống, nhưng Chúa Kitô vẫn còn đầy đủ dưới mỗi sắc hình. 15. Người không bị kẻ lãnh nhận nghiền nát, không bị bẻ gẫy, không bị phân chia, nhưng Người được thiên hạ lãnh nhận toàn thân. 16. Một người lãnh nhận, ngàn người lãnh nhận, những người này cũng lãnh bằng những người kia, thiên hạ ăn thịt Người mà Người không bị tiêu hao. 17. Người lương thiện lãnh, kẻ ác nhân cũng lãnh, nhưng số phận họ không đồng đều: hoặc được sống hay là phải chết. 18. Kẻ ác nhân phải chết, người lương thiện được sống; hãy coi, cùng một của ăn như nhau, mà kết quả khác xa biết mấy. 19. Hình bánh bị vỡ, chớ khá lo âu, nhưng hãy nhớ rằng / trong miếng vỡ cũng như trong toàn thể / Chúa vẫn hiện diện đầy đủ như nhau. 20. Bản chất không hề bị bẻ vỡ, duy có biểu hiệu bị phân chia, nhưng không giảm thiểu tình trạng và dáng vóc của Đấng ẩn dật bên trong. 21. Này đây bánh của các thiên thần, biến thành lương thực của khách hành hương; thực là bánh của những người con cái, không nên ném cho loài khuyển. 22. Bánh này đã được báo trước bằng hình ảnh, khi người ta sát tế Isaac, chiên của lễ vượt qua đã được kể ra, khi cha ông chúng ta được tặng manna. 23. Lạy Chúa Giêsu là mục thủ tốt lành, là bánh thực, xin Người thương xót, chăn nuôi và bảo vệ chúng con; xin Người ban cho chúng con nhìn thấy / những điều thiện hảo trong cõi nhân sinh. 24. Chúa là Đấng thông biết và có thể làm nên mọi sự, Chúa nuôi dưỡng chúng con trong đời sống tạm gửi này, trên cõi cao xanh, xin cho chúng con được trở nên thực khách đồng bàn của Chúa, đồng thừa kế và đồng danh phận / với những công dân thánh của nước trời. Amen. Alleluia.

Thánh Phêrô Đa, Giáo Dân (1862)

Thánh Phêrô Đa, Giáo Dân (1862) – Kính ngày 17 tháng 6 Thánh Phêrô Đa là vị tử đạo cuối cùng trong 117 vị chứng nhân đức tin tại Việt Nam đã được Giáo Hội tôn vinh. Cái chết của ngài chấm dứt một giai đoạn cam go và khai mạc một giai đoạn thanh bình mới của Giáo Hội Việt Nam. Tuy chỉ là một tín hữu tầm thường thiếu học, sinh trưởng trong một gia đình lao động nghèo khó, nhưng lòng dũng cảm và đức tin kiên vững của ông thợ mộc Phêrô Đa không thua gì các vị mục tử của mình : chấp nhận hy sinh trọn vẹn, kể cả chính mạng sống, để giữ lòng trung tín với Đức Kitô. Phêrô Đa chào đời khoảng năm 1802 trong một gia đình lao động tại làng Ngọc Cục, xứ Lục Thủy, tỉnh Nam Định, thuộc giáo phận Trung Đàng Ngoài. Thân phụ cậu là một Kitô hữu, nhưng thân mẫu lại là một người ngoại đạo. Tuy thế, cậu Đa đã được đón nhận bí tích rửa tội ngay từ nhỏ, và được giáo dục chu đáo niềm tin Kitô. Ông Phêrô Đa theo nghề thợ mộc và đã lập gia đình. Ông là một gia trưởng gương mẫu, lưu tâm săn sóc con cái và hướng dẫn chúng bằng chính đời sống thánh thiện của mình. Đàng khác ông rất nhiệt tình với việc chung và nhận làm ông Từ phụ trách kéo chuông và dọn đồ lễ tại thánh đường giáo xứ. Sau chiếu chỉ phân sáp, ông Phêrô Đa bị bắt vào khoảng 60 tuổi, và bị giải về phủ Xuân Trường với nhiều Kitô hữu khác. Sau sáu ngày bị giam ông được giải đến Quá Linh. Tại đây ông chịu nhiều cuộc tra tấn giã man và nhiều khổ hình kinh khiếp, nhưng vị anh hùng luôn bền chí chịu đựng, không than van và nhất định không bước qua thánh Giá. Khi biết chắc không thể làm khuất phục, quan liền kết án thiêu sinh ông Phêrô Đa cùng với một số chứng nhân đức tin khác. Ngày 17-06-1862, vị tôi tớ trung kiên Phêrô Đa bị dẫn đến nơi xử án. Trên đường đi, ông biểu lộ nét hân hoan vui mừng. Ông bình thản cầu nguyện và phó dâng mọi sự trong tay quan phòng của Chúa. Đồng thời ông khấn xin Chúa cho mình đủ can đảm chiến thắng cực hình sau cùng vì danh Thày Chí Thánh. Khi ngọn lửa thiêu đốt sắp tàn, quân lính thấy ông hình như vẫn còn sống, liều vung đao chém bay đầu vị tử đạo. Thế là thánh Phêrô Đa, người giáo hữu kiên cường, bất khuất, có thể nói đã hy sinh vì chân lý bất diệt đến hai lần: vừa bị thiêu đốt, vừa bị chém đầu. Thi hài của người tôi trung Đức Kitô được giáo hữu chôn ngay tại pháp trường. Năm sau giáo hữu lại cải về an táng tại quê nhà. Ngày 29.04.1951, người thợ mộc làng Ngọc Cục, Phêrô Đa, được Đức Piô XII suy tôn lên bậc Chân Phước. Ngày 19-06-1988, Đức Gioan Phaolô II suy tôn ngài lên bậc Hiển thánh.

Thánh Antôn Pađua, Linh Mục Tiến Sĩ Hội Thánh (1195-1231)

Thánh Antôn Pađua, Linh Mục Tiến Sĩ Hội Thánh (1195-1231) – Kính ngày 13 tháng 6 Antôn Pađua sinh năm 1195 tại Lisbonne thủ đô nước Bồ Ðào Nha, trong một gia đình quyền quý và đạo đức. Vốn được giáo dục theo tinh thần Phúc Âm nên ngài sớm ý thức được việc dâng mình cho Chúa. Ðầu tiên, ngài nhập dòng thánh Augustinô và được chịu chức linh mục tại đó. Cảm thấy lý tưởng sống khiêm tốn và khắc kỷ hợp với mình hơn và nhất là ngài ao ước được truyền giáo cho dân ngoại và được tử đạo, nên ngài xin gia nhập dòng Phanxicô năm 1220. Tại đây, ngài được Bề Trên sai đi truyền giáo cho dân Sarrasins ở Phi Châu, thể theo ý nguyện của ngài. Nhưng ý Chúa quan phòng lại định liệu cách khác. Vừa tới Phi Châu, ngài ngã bệnh nặng và phải trở về điều trị. Trên đường về quê, tàu ngài bị bão thổi dạt vào đảo Sicile thuộc nước Ý và ngài ở lại nhà dòng tại Monte Paulo. Nhờ gương đạo đức và tài giảng thuyết, ngài được Bề Trên cử đi giảng khắp nơi và lo việc huấn luyện các tu sĩ trong dòng. Bất cứ ở đâu, lời giảng của ngài đều có sức lôi cuốn nhiều người đến nghe. Chúa còn minh xác lời ngài bằng nhiều phép lạ. Không những tại Ý, mà tại đất Pháp, ngài làm việc không biết mệt mỏi. Và người ta đã ghép cho ngài tên “Hòn Bia giao ước” và “Cái búa của bọn lạc giáo”. Năm 1946, Ðức Giáo Hoàng Piô XII đã tôn phong ngài làm Tiến Sĩ Hội Thánh.  

Thánh Nêrê Và Achillêô Tử Ðạo (+304) – Kính ngày 12 tháng 5

Thánh Nêrê Và Achillêô Tử Ðạo (+304) – Kính ngày 12 tháng 5 Khách hành hương đến Rôma thường viếng thăm hai vương cung thánh đường kính thánh Nêrê và Achillêô: một được xây trên phần mộ của các ngài tại đường Ardeatina (vào thế kỷ IV), một do Ðức Thánh Cha Lêô III (795-816) cung hiến tại đường Appia. Cũng như thánh Sêbastianô, thánh Nêrê và Achillêô đều phục vụ trong quân đội dưới triều hoàng đế Ðiôclêtianô. Lúc đầu khi cơn bách hại bùng nổ (304), các ngài còn là những người ngoại, nhưng trước tấm gương can đảm của những vị tử đạo, các ngài đã trở lại và tin theo Chúa Giêsu. Bức bích họa trong vương cung thánh đường tại Ardeatina đã diễn tả cuộc hành quyết của thánh Achillêô: hai tay bị trói, ngài hiên ngang lãnh nhận lưỡi gươm của lý hình.    

Ðức Mẹ Ði Thăm Bà Isave – Kính ngày 31 tháng 5

Ngay sau biến cố truyền tin, Ðức Maria đã vội vã lên đường đi thăm chị họ mình là Elisabeth sắp tới ngày sinh. Thoạt khi nghe lời Maria chào, người con trong lòng bà đã nhảy mừng. Ðược Chúa Thánh Thần linh ứng, bà đã thốt lên: “Bởi đâu tôi được diễm phúc Mẹ Thiên Chúa đến thăm tôi… và phúc cho em vì em đã tin và lời Chúa phán truyền cho em sẽ được ứng nghiệm”. Trong lần gặp gỡ này, Ðức Trinh Nữ tràn ngập nỗi hân hoan, đã đáp lời bằng ca khúc Magnificat, bài ca biểu lộ lòng biết ơn và tình yêu đối với Thiên Chúa, bài ca Người đã thầm hát trong lòng ngay từ giây phút thiên sứ báo tin. Giáo Hội đã đặt ngày lễ hôm nay để kính nhớ cuộc hội ngộ đầu tiên của Ðấng Cứu Thế và vị Tiền Hô của ngài. Lễ này đã được thánh Bonaventura cổ vũ bên Tây phương, và đến năm 1389 được phổ biến trong toàn thể Giáo Hội. Chúng ta hãy xin Ðức Mẹ ban cho chúng ta được tâm tình bác ái như ngài đã có trong cuộc viếng thăm và giúp đỡ bà Elisabeth.  

Thánh Justinô Tử Ðạo – Kính ngày 1 tháng 6

Justinô sinh ra trong một gia đình Hy Lạp tại Naplousse, trong xứ Syria Palestina. Mặc dù sống trong bầu khí ngoại giáo, ngài vẫn khao khát được tìm biết Thiên Chúa chân thật. Ước vọng đó kèm theo một óc suy luận và tra cứu đã khiến ngài hiểu tất cả các triết đương thời như pháo Khắc Kỷ, Pythagore, Platon…, nhưng tất cả đều không làm ngài thỏa mãn. Một lần kia, tình cờ ngài gặp một ông lão lạ mặt. Qua cuộc đàm thoại, ông lão chỉ vẽ cho ngài con đường ngay thật để tìm đến Thiên Chúa: đó là học hỏi qua Thánh Kinh. Nghiền ngẫm lời cụ già, ngài bắt đầu mở Thánh Kinh. Nhờ ơn Chúa soi sáng, ngài đã cảm phục và say mê các giá trị luân lý của đời sống Kitô Giáo. Cuối cùng, ngài đã được Rửa Tội để lãnh nhận một đức tin như những người Công Giáo khác. Tự thâm tâm, ngài nhận thấy mình có bổn phận phải rao truyền lời Chúa. Những kiến thức uyên thâm của ngài đã làm cho những người đối thoại phải đuối lý. Nổi danh nhất là cuộc đối chất với Tryphon, một học giả Do Thái. Ngài đã trưng ra tất cả bằng chứng thánh kinh để minh xác Chúa Giêsu là Ðấng Cứu Thế. Nhờ những buổi diễn thuyết, những cuộc đối thoại của ngài, rất nhiều người đã trở lại đạo Công Giáo. Năm 138, vua Antonin Pieux đã mở màn một cuộc bách hại tàn khốc. Thánh Justinô đã mạnh dạn đứng ra bệnh vực giáo hữu. Ngài dùng ba tấc lưỡi cố gắng đòi cho được quyền tự do tín ngưỡng. Tiến đến triều đại Marc Autèle, cuộc bách hại càng gắt gao hơn. Với ý chí sắt đá, ngài đã quyết bảo vệ chân lý. Sau cùng, vì những thất bại chua cay, lương dân đã nộp ngài cùng một số bạn hữu và tống giam vào ngục. Khuyên nhủ ngài không được, năm 165, họ đã kết án tử hình ngài. Năm 1882, Ðức Giáo Hoàng Lêô XIII đã phổ biến lễ kính ngài trên toàn Giáo Hội, đặt ngài làm quan thầy các tâm hồn ngay chính.

Thánh Maria Mađalêna Ðệ Pazzi Ðồng Trinh (1566-1607) – kính ngày 25/5

Thánh nữ sinh ngày 02/4/1566 tại Florence nước Ý, thuộc gia đình Pazzi giàu sang và thế giá. Nhờ sự hướng dẫn của bà mẹ, Maria Mađalêna càng lớn càng thêm đức hạnh, nhất là lòng thương người và sự yêu thích cầu nguyện. Năm 16 tuổi, ngài từ hôn với một vị lãnh chúa và ngày 14/8/1582, ngài từ giã cha mẹ để hiến thân trong dòng kín, sống cuộc đời hoàn toàn khiêm nhượng, không làm mất lòng ai và luôn chu toàn những công tác theo luật dòng. Thêm vào đó, ngài thường giúp đỡ các chị em khác chu toàn công tác và săn sóc các chị em đau yếu. Về cuối đời, thánh nữ đã phải chịu cơn bệnh ung thư kéo dài lâu năm. Ngài luôn luôn lặp đi lặp lại câu: “Thà đau khổ hơn là chết”. Sau cùng, vì cơn bệnh quá đau và kéo dài lâu ngày, ngài kiệt sức và trút hơi thở cuối cùng ngày 25/5/1607, hưởng thọ 41 tuổi. Ðức Giáo Hoàng Lêô IX đã tuyên phong ngài lên bậc Hiển Thánh ngày 28/4/1669. (Theo nhóm truyền giáo Châu Kiên Long, Đà Lạt)

Thánh Grêgôriô VII, Giáo Hoàng (1015- 1085) – Kính ngày 25/5

Thánh Grêgôriô VII tên thật là Hildebrand, sinh năm 1015 tại Sovana miền Toscane trong một gia đình trung lưu nước Ý. Ngài đã có công phục hưng tinh thần dạo đức của hàng giáo sĩ và tranh đấu cho tự do của Giáo Hội. Từ thời niên thiếu, ngài đã được sống trong bầu khí tu viện; và nhờ trí thông minh và lòng đạo đức, ngài đã thu lượm nhiều kết quả tốt đẹp. Khi Ðức Lêô IX lên ngôi, ngài được cử giữ những chức vụ quan trọng, và nhân dịp này, ngài đã đem hết tài lực ra ngăn chặn làn sóng sa đọa đang bành trướng trong Giáo Hội, bênh vực đức tin chống lại những giáo thuyết sai lầm của các bè rối. Ðược chọn làm Hồng Y, ngài giữ nhiều chức vụ và sứ mạng quan trọng dưới thời Lêô IX, Victo II, Stêphanô IX, Nicolao II và Alexandre II. Sau khi đức Alexandre mất (1073), ngài được bầu lên kế vị. Dù ở địa vị Giáo Hoàng, ngài vẫn tiếp tục sống một cuộc đời khắc khổ như cũ. Dưới triều đại của ngài, Giáo Hội phải trải qua những giây phút đen tối nhất: tinh thần đạo đức bị sa sút, các đế quốc xâm lăng thánh địa và quyền hành của Hội Thánh bị chi phối. Bằng nguyện cầu, hy sinh và lòng nhiệt thành hăng hái, ngài cương quyết bảo vệ tự do, uy quyền và tài sản Giáo Hội. Chính vì thế, ngài đã gặp phải nhiều đau khổ. Bị ép buộc rời khỏi Rôma, và sau đó, ngày 25/5/1805, ngài qua đời tại Salec. Lời vàng ngọc của ngài trối lại khi sắp chết: “Tôi yêu sự công chính và ghét điều bất công. Ðó là lý do tôi phải chết trong cảnh lưu đày này”. Tuy không đổ máu, nhưng đời sống tranh đấu của ngài xứng đáng được Ðức Grêgôriô VIII liệt vào hàng các vị tử đạo và được Ðức Phaolô V phong lên bậc Hiển Thánh.   (Theo nhóm truyền giáo Châu Kiên Long, Đà Lạt)