Thánh Venceslaô Tử Ðạo (907-929) – Kính ngày 28 tháng 9

Thánh Venceslaô công tước xứ Bôhême chào đời khoảng năm 907. Thân sinh ngài, ông Wratislas, làm quan trấn miền Bôhême, Tiệp Khắc. Mẹ ngài là một người ngoại giáo Draghomire. Năm 920, thân phụ ngài từ trần, ngài phải sống với bà nội Ludmilla, một người đàn bà rất thánh thiện. Chính bà đã hun đúc cho Veceslaô thành một người đạo đức. Nhưng mẹ ngài lại theo bè rối và vì ganh tị đã giết bà nội ngài và bắt ngài phải sống xa các người Công Giáo. Dù vậy Chúa không hề bỏ rơi ngài. Trước ách thống trị của em út ngài là Bôleslas và mẹ ngài, dân thành Prague đã đứng lên hạ bệ chế độ cũ vì những tội ác họ đã làm. Chính họ đã bầu Veceslaô lên thay vào năm 925. Trong một buổi đại hội, trước mặt các lãnh chúa bè rối, ngài công khai bênh vực quyền tự do tín ngưỡng. Ngài hợp tác chặt chẽ với các linh mục để bảo vệ đức tin và bênh kẻ nghèo cũng như người bị áp bức. Ngài dùng đức tin để trị dân, lo lắng giúp đỡ hết mọi người, dâng cúng những của cải để mở mang những cơ sở Công Giáo. Còn riêng ngài thì sống rất bình dị. Trong suốt mùa chay, ngài chỉ dùng bánh khô và nước lã. Chính nhân đức của ngài là những gai nhọn đâm vào mắt kẻ bất lương. Vì thế quận công Bôleslas lại âm mưu giết ngài, đang lúc ngài cầu nguyện trong nhà thờ khoảng năm 929.

Thánh Vinh Sơn Ðệ Phaolô, Linh Mục Lập Dòng (1581-1660) Kính ngày 27 tháng 9

Vinh Sơn đệ Phaolô sinh tại Puoy miền Aquitaine khoảng năm 1581. Ngay từ nhỏ, ngài đã tỏ ra có một lòng bác ái cao cả đối với người nghèo khó. Ngài chịu chức linh mục năm 1600. Ít lâu sau, ngài lọt vào tay người Thổ Nhĩ Kỳ và bị giam giữ tại Phi Châu nhưng được cứu ra và trở về Pháp. Ngài nhiệt thành với các linh hồn và được nhiều người tín nhiệm. Khoảng năm 40 tuổi, ngài làm Bề Trên dòng Thăm Viếng và chu toàn bổn phận với sự khôn ngoan phi thường. Mặc dù đã cao niên, ngài vẫn không ngừng rao giảng Tin Mừng cho người nghèo, nhất là cho kẻ quê mùa. Vì thế ngài được mệnh danh là vị tông đồ của giới lao động. Năm 1633, ngài lập hội các linh mục triều để tiếp tục các công việc của ngài. Ngài cố lập nhiều tu hội khác nhằm an ủi kẻ đau khổ và giáo dục các thiếu nữ. Vì quá tận tụy trong chức vụ và vì tuổi già sức yếu, ngài đã an nghỉ trong Chúa năm 1660. Do những phép lạ ngài làm, năm 1738, Ðức Giáo Hoàng Clêmentê XII đã nâng ngài lên bậc Hiển Thánh và Ðức Lêô XIII đã tôn ngài làm bổn mạng các hội từ thiện Công Giáo.

Tổng Lãnh Thiên Thần Micae, Raphae, Gabrie – Kính ngày 29 tháng 9

Micae tiếng Hy Bá có nghĩa là “Ai bằng Thiên Chúa”. Thánh Micae đã chống lại thần dữ để bênh vực quyền tối cao của Thiên Chúa. Giáo Hội nhận thánh Micae như Ðấng bảo trợ và tin rằng ngài vẫn dâng lời cầu nguyện của chúng ta lên ngai tòa Chúa. Tổng Lãnh Thiên Thần Micae cũng đã hiện ra với nhiều người, đặc biệt năm 708, ngài hiện ra với Ðức Giám Mục thành Arranche và Ðức Giám Mục đã xây một thánh đường nguy nga để kính dâng Ðức Micae tại Mont Saint Michel. Raphae có nghĩa là “Thầy thuốc của Thiên Chúa”. Chúng ta biết danh hiệu của Tổng Lãnh Thiên Thần này qua những trang sách Tôbia. Chính ngài đã được Thiên Chúa sai đến giúp đỡ gia đình ông trong cơn hoạn nạn. Ngài đã giúp ông đòi được nợ, chữa ông khỏi mù và lo cho con ông được yên bề gia thất. Gabrie có nghĩa là “Uy lực của Thiên Chúa” cũng còn gọi là “Sứ Thần truyền tin”. Ngài luôn can thiệp vào những sứ mạng liên quan đến việc cứu rỗi loài người. Chính ngài đã báo cho tiên tri Ðaniel thời đại xuất hiện của Ðấng Cứu Thế và là sứ giả được phái đến cùng với Trinh Nữ Maria để loan báo ý định của Thiên Chúa, và cũng chính là người đã nhiều lần hiện ra với thánh Giuse. Chúng ta cũng một lòng hiệp cùng Ðức Micae để luôn bảo vệ Giáo Hội, hiệp ý với Ðức Gabrie mỗi khi đọc kinh “Kính Mừng” để tỏ lòng sùng kính Ðức Mẹ, và xin cùng Ðức thánh Raphae thương chữa bệnh phần xác và ban ơn cứu rỗi phần hồn cho chúng ta.

Thánh Piô năm dấu thánh – Kính ngày 23 tháng 9

Cha thánh Piô sinh ngày 25-05-1887 tại Pietrelcina, thuộc tỉnh Benevento (miền nam nước Ý) ngày 25 tháng 5 năm 1887, trong gia đình nông thôn, rất sùng đạo. Năm 1903, ngài vào dòng Phanxicô.  Một năm sau nhận tu phục Dòng Phanxicô Capucinô và có tên mới là Piô. Pietrelcina, được gọi tên là Francesco Forgione.  Ngài lớn lên trong một gia đình Công giáo đạo đức.  Lúc khoảng 6, 7 tuổi, ngài đã có được sự liên kết rất đặc biệt với Thiên Chúa.  Ngài thường trò chuyện với Thiên Chúa ở nơi đồng vắng.  Từ thuở nhỏ, ngài có thói quen rất tốt lành là sốt mến cầu nguyện.  Ngài nhìn ngắm Chúa Giêsu trên Thánh giá và thân thưa cùng Chúa cho mình được chia sẻ những đau đớn với Chúa… Cha Pio có nhiều kinh nghiệm về những khả năng siêu nhiên với các phép lạ kèm theo: nhìn thấu suốt tâm hồn con người, nói tiên tri, ở hai nơi cùng một thời điểm, hương thơm đời sống thánh thiện, biết biện phân các thần khí, ngủ ít nhưng vẫn sống được, chữa người ta khỏi bệnh cách lạ lùng, được Chúa Giêsu và Mẹ Maria đến thăm, nhất là hằng ngày được rước lễ với Thiên thần bản mệnh của mình… Một trong những ân huệ siêu nhiên nổi tiếng nhất của ngài là được Chúa ghi Năm Dấu Thánh trên thân xác vào năm 1918 khi ngài cầu nguyện trước Thánh giá… Đức Gioan Phaolo II đã chủ sự lễ phong hiển thánh cho cha Pio vào ngày 16/6/2002. (Trích lược theo Lm Giuse Nguyễn Hữu An, dongcong.net)

Thánh Matthêu, Tông Ðồ Thánh Sử – Kính ngày 21 tháng 9

Thánh Matthêu còn gọi là Lêvi, con ông Alphê. Một hôm đi qua sở quan thuế thành Capharnaum gần bờ hồ Tibêriat, Chúa Giêsu thấy Matthêu ngồi ở bàn thu thuế, Ngài liền bảo ông: “Hãy theo Ta”. Không do dự, ông liền đứng lên, bỏ mọi sự mà theo Chúa. Và sau đó, ông thiết tiệc tại nhà để khoản đãi Chúa Giêsu, các môn đệ và các bạn hữu, trong số đó có cả những người biệt phái. Họ thắc mắc khi thấy Chúa hiện diện giữa những người mà họ cho là tội lỗi. Chúa Giêsu đã giải thích cho họ: “Ta không đến để gọi những người công chính nhưng để gọi người tội lỗi…” Trước khi rời Giuđêa để đi giảng đạo, thánh Matthêu đã soạn thảo Phúc Âm đầu tiên bằng tiếng Do Thái vào khoảng năm 50. Vì viết cho người Do Thái nên ngài nhấn mạnh đến kiểu nói và quan niệm riêng họ. Ngài nhắc cho họ biết rằng: “Phúc Âm hoàn tất luật cũ”. Ngài chứng minh Chúa Giêsu chính là Ðấng Cứu Thế mà Cựu Ước hằng mong đợi. Có thể nói Phúc Âm của ngài được coi là đầy đủ nhất. Theo nhiều văn kiện lịch sử để lại thì thánh Matthêu đã đi truyền giáo ở Êthiopi, Ba Tư, Parthes và sau cùng ngài đã được lãnh phúc tử đạo tại Tarium thuộc Êthiopi. Thánh Matthêu thường coi như vị thánh quan thầy của những nhà trí thức Công Giáo. (Theo Nhóm truyền giáo Châu Kiên Long, Đà Lạt)

Thánh Gioan Kim Khẩu Giám Mục Tiến Sĩ Hội Thánh (334-407) – Kính ngày 13/9

Thánh Gioan thành Antiokia, mệnh danh là Chrysostome (Kim Khẩu) vì sự khôn ngoan và tài hùng biện. Thánh nhân sinh năm 334 tại Antiokia nước Thổ Nhĩ Kỳ. Từ bé, ngài đã được hấp thụ do mẹ ngài một đức ái nhân hậu, một đức tin sắt đá và một lòng hy sinh hào hiệp. Mùa xuân năm 373, ngài được tuyển vào chức đọc sách và từ đó danh tiếng ngài bắt đầu lừng lẫy. Ðược tôn lên chức Giám Mục, nhưng cảm thấy bất xứng nên ngài đã rút lui vào nơi kín đáo. Ngài ước ao sống cuộc sống khổ hạnh nhưng chỉ được bốn năm, vì mắc bệnh đau dạ dày nên buộc lòng ngài phải trở về Antiokia. Năm 386, ngài thụ phong linh mục và suốt 12 năm ngài đã làm cho thính giả thành Antiokia say mê và mến phục tài giảng thuyết. Ngài đả kích mãnh liệt những cổ tục mê tín, cuộc sống xa hoa của những người giàu có. Ngài nhấn mạnh đặc biệt đến những người nghèo và nêu gương bằng cách hết lòng giúp đỡ họ. Năm 397, ngài được bầu làm Giám Mục thành Constantinople. Ngài lo nghiên cứu đặc biệt về thánh Phaolô, cải tổ hàng giáo sĩ, thiết lập một số quy chế để thánh hóa bản thân, hủy bỏ mọi tập tục xa xỉ. Ngài cũng tận lực chiến đấu chống lại những bè rối như Ariô, Novatio… Vì phản đối nữ hoàng Eudoxie, đã chiếm đoạt gia sản của một góa phụ ở Callitrope, ngài bị kết án lưu đày năm 403. Người ta không được biết bao nhiêu khổ cực ngài đã phải chịu vì Ðức Kitô và bao nhiêu người đã trở lại cùng Chúa, nhưng mọi người đều phải thán phục lòng bác ái và những lời giảng thuyết và sách vở của ngài. Sau cùng, ngài qua đời vào ngày 13/9/407. Ðức Thánh Cha Piô X đã nâng ngài lên bậc Tiến Sĩ Hội Thánh và bổn mạng của những nhà giảng thuyết. (Theo Nhóm truyền giáo Châu Kiên Long, Đà Lạt)

Thánh Phêrô Claver, Linh mục (1581-1654) – Kính ngày 11/8

Thánh Phêrô Claver, Linh mục (1581-1654) – Kính ngày 11/8 Ngài là người Tây Ban Nha, vào Dòng Tên năm 1610 và truyền giáo ở thuộc địa của Tân Thế Giới. Ngài đi Cartagena (nay là Colombia) và thụ phong linh mục năm 1615. Thời đó, việc buôn bán nô lệ đã xảy ra ở người Mỹ gần 100 năm, Cartagena là trung tâm của nạn này. 10.000 nô lệ bị đưa vào cảng mỗi năm sau khi vượt Đại tây dương từ Tây Phi trong điều kiện khắc nghiệt và dã man, ước tính có tới 1/3 số nô lệ bị chết trong khi vận chuyển. Dù nạn buôn bán nô lệ đã bị ĐGH Phaolô III lên án, và sau đó bị ĐGH Piô IX gọi là “cực kỳ côn đồ” (supreme villainy), tệ nạn này vẫn phát triển. Tiền bối của thánh Peter Claver là Lm Alfonso de Sandoval đã dấn thân phục vụ người nô lệ suốt 40 năm trước khi thánh Claver đến tiếp tục công việc, và ngài tự nhận mình là nô lệ của người da đen mãi mãi. Ngay khi tàu chở nô lệ cặp bến, ngài lẻn vào để giúp đỡ những người bị xử tệ. Sau khi các nô lệ phải sắp hàng như thú vật, ngài len vào giữa họ để giúp đỡ bằng thuốc men, đồ ăn, thức uống, chanh và thuốc hút. Suốt 40 năm làm như vậy, ngài đã rửa tội cho khoảng 300.000 nô lệ. Ngoài ra, ngài còn rao giảng ở các công viên, giao sứ vụ cho các thủy thủ và thương gia để giúp các nô lệ. Sau 4 năm bị bệnh, ngài qua đời ngày 8-9-1654. Chính quyền địa phương cảm kích, ra lệnh tổ chức táng lễ trang trọng và an táng ngài ở nơi công cộng. Ngài được phong thánh năm 1888, và ĐGH Lêô XIII tuyên bố ngài là thánh bổn mạng của các nhà truyền giáo làm việc giữa những người da đen.   (Theo Nhóm truyền giáo Châu Kiên Long, Đà Lạt)

Thánh Louis IX, Vua Nước Pháp (1214-1270) – Kính ngày 24/8

Thánh Louis sinh năm 1214 tại Poissy nước Pháp. Cha ngài là vua Louis VIII. Mẹ ngài là hoàng hậu Blanche de Castille. Chính gương mẫu đời sống thánh thiện của bà đã ảnh hưởng sâu đậm đến Louis trong thời niên thiếu. Cho tới khi trưởng thành, Louis vẫn thường hay nhắc lại lời nói của mẹ ngài: “Mẹ thà thấy con chết trước mặt mẹ còn hơn thấy con phạm tội trọng”. Ngài lên ngôi vua kế vị cha năm 12 tuổi và tới năm 19 tuổi, Louis kết hôn với Marguerite, con gái quận công miền Provence và cả hai sinh hạ được 11 người con. Trên ngai vàng, Luois luôn tỏ ra thanh liêm chính trực và hết mực thương dân, đặt danh dự của Giáo Hội và của dân tộc lên trên tư lợi và danh vọng cá nhân. Ðời sống đạo đức của nhà vua chẳng khác chi một thầy dòng khổ tu: dự lễ và đọc kinh mỗi ngày, xưng tội và đánh tội mỗi tuần. Ngoài ra, nhà vua còn tìm dịp thể hiện đức bác ái đối với người nghèo và những người bệnh tật. Chính ngài đã lập Ðạo Binh Thánh Giá đi chiến đấu tại Giêrusalem. Lúc trở về, ngài đã xây một nhà nguyện để kính mão gai Chúa Giêsu do hoàng đế Constantin trao lại. (Theo Nhóm truyền giáo Châu Kiên Long, Đà Lạt)

Thánh Bartôlômêô Tông Ðồ – Kính ngày 24/8

Bartôlômêô là một trong số 12 tông đồ của Chúa Giêsu quê tại Cana. Theo truyền thống thì chính ngài là Natanael đã được Philipphê dẫn tới gặp Chúa (Gio I, 45-50) và được Chúa khen: “Ðây là người Israel chân chính không có gì xảo trá”. Sau ngày lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống, ngài được sai giảng Phúc Âm tại miền Lycôni, Ấn Ðộ và Arménie. Nhờ tài ăn nói hùng biện, lòng đạo đức và những phép lạ của ngài, nhiều người ngoại đã từ bỏ tà thần trở về với Thiên Chúa. Ngài cũng đã trừ quỷ cho nhiều người, đặc biệt là công chúa của vua Polêmon và giúp cả gia đình nhà vua theo đạo. Các sư sãi và quan chức triều đình thấy thế ghen tức và âm mưu làm hại ngài bằng cách vu cáo với vua Attiges để ra lệnh hành hạ ngài bằng đủ mọi cực hình và cho trảm quyết ngài vào năm 52.

Thánh Rôsa Lima, Ðồng Trinh (1586-1617) Kính ngày 23/8

Rôsa là thánh nữ tiên khởi của miền Nam Mỹ Châu. Cha mẹ ngài gốc Tây Ban Nha, nhưng vì sinh kế phải sang Pérou lập nghiệp tại thủ đô Lima vào khoảng năm 1543. Chính tại đây, Rôsa đã chào đời vào năm 1586. Ngay từ nhỏ, Rôsa đã có một đời sống đạo đức gương mẫu. Mặc dầu được mọi người trong gia đình chiều chuộng, Rôsa vẫn luôn tỏ ra thùy mị đơn sơ từ lời nói tới cách ăn mặc. Ðược cắp sách tới trường, Rôsa chăm lo trau dồi các môn học, nhất là về văn chương. Khi cha mẹ già yếu bệnh tật, Rôsa phải bỏ học hầu giúp gia đình và phụng dưỡng cha mẹ. Ðể giữ mình trinh khiết, năm 1608, ngài xin mặc áo dòng Ba Thánh Ða Minh. Từ đó ngài bắt đầu sống một cuộc đời ăn chay đền tội nhiệm nhặt, xa tránh những thú vui ồn ào. Những lúc nhàn rỗi, ngài thường tìm nơi vắng vẻ để cầu nguyện, đọc Thánh Kinh và suy gẫm về ý nghĩa lễ Misa. Cuộc sống chiêm niệm ấy đã đem lại nhiều lại nhiều tư tưởng đạo đức cao sâu cho ngài. Ngoài ra, ngài còn ao ước đi truyền giáo các nơi xa xôi, nhưng vì gánh nặng gia đình, vì sức yếu nên ngài không thực hiện được ước mơ. Bù lại, ngài hăng hái tham gia vào việc từ thiện giúp đỡ các bệnh nhân và người nghèo khổ. Ngài chết ngày 23/8/1617 vì bệnh ung thư, sau những năm dài say mê với công việc bác ái. Ngài được nổi tiếng vì những phép lạ đã làm. Ðức Giáo Hoàng Clêmentê X đã phong ngài lên hàng các thánh trinh nữ năm 1671.