Thánh Laurensô Brindisi, Linh Mục, Tiến Sĩ Hội Thánh (1559-1619)

Thánh Laurensô Brindisi, Linh Mục, Tiến Sĩ Hội Thánh (1559-1619)  Kính ngày 21 tháng 7  Jules César Russô sinh tại Brindisi, vùng Apulia, miền Nam nước Ý, vào năm 1559. Suốt cuộc đời ngài muốn trở thành một chiến sĩ của Thiên Chúa, một người hướng dẫn các linh hồn. Vì thế ngài đã xin gia nhập dòng thánh Phanxicô ở Vêrôme. Năm 1575, ngài được mặc áo dòng với tên là Laurensô Brindisi. Những năm học tại Padua đã giúp ngài trở thành một học giả, thông thạo các thứ tiếng Pháp, Ðức, Hy Lạp, Syrie, Do Thái. Ngài đã chuẩn bị sẵn sàng để bắt tay vào việc cải cách. Trước hết bằng lời giảng dạy: ngài đã không lý luận suông nhưng đặt vào lời Chúa một sức sống hầu lôi kéo các linh hồn. Danh tiếng ngài vang dội khắp Trung Âu. Ngoài ra, ngài còn là một người hăng say với Thập Tự Quân, ngài đã dẫn đầu đạo binh Hung Gia Lợi, với Thánh Giá cầm tay, để chống lại quân Thổ Nhĩ Kỳ. Và ngài đã thành công năm 1601. Ngài còn là một nhà ngoại giao tài giỏi của Ðức Giáo Hoàng. Ngài có một đời sống kết hợp thân mật với Ðức Kitô một cách đặc biệt. Ngoài những hoạt động bên ngoài, ngài dành rất nhiều thời giờ cho việc cầu nguyện và thực tập các nhân đức. Năm 1619, đang khi thi hành sứ mạng được trao phó ở Lisbone, ngài đã từ biệt cõi đời trong sự nghèo khó, đơn sơ và thánh thiện. Ngài đã để lại nhiều tác phẩm rất có giá trị bảo vệ đức tin Công Giáo. Ðức Giáo Hoàng Lêô XIII đã tấn phong ngài lên bậc Hiển Thánh năm 1881 và Ðức Giáo Hoàng Gioan XXIII đã tôn vinh ngài làm Tiến Sĩ Giáo Hội năm 1959.

Thánh Bregitta, Góa Phụ (1303-1373) – Kính ngày 23 tháng 7  

Thánh Bregitta, Góa Phụ (1303-1373) – Kính ngày 23 tháng 7  Thánh Brigitta sinh năm 1303 tại Thụy Ðiển (Suède). Cha mẹ ngài là bậc vị vọng và rất đạo đức. Ngài thích suy gẫm về sự thương khó Chúa. Kết hôn với ông Ulf Gusmarsson, quận công miền Névécie. Bằng lời nói và việc làm gương mẫu, ngài đã khéo hướng dẫn chồng đến tột đỉnh nhân đức. Ngài còn là người mẹ của tám đứa con. Lối giáo dục nhân từ dịu dàng và khôn ngoan đã giúp chúng biêt yêu thương kẻ nghèo và đau yếu. Sau khi chồng vào dòng Citeaux và chết ít lâu sau đó, ngài bắt đầu sống một đời rất khắc khổ (1344). Ngài đã được Thiên Chúa mạc khải nhiều lần điều bí nhiệm. Ngài đã lập một dòng ở Vadsténa theo luật dòng Saint Sauveur. Sau khi sang Giêrusalem hành hương, ngài trở về Rôma và mắc phải một chứng bệnh nan y. Sau một năm trường vật lộn với cơn bệnh, ngài từ trần năm 1373. Ngày 07/10/1391, Ðức Giáo Hoàng Bonifaciô IX đã ghi tên ngài vào sổ các Hiển Thánh.   (Theo nhóm truyền giáo Châu Kiên Long, Đà Lạt)

Thánh Camillô Lellis, Linh Mục Lập Dòng (1550-1614) – Kính ngày 14 tháng 7

Thánh Camillô sinh năm 1550, tại Bucchianicô, thuộc giáo phận Chieti, trong một gia đình quyền quý miền Lellis. Thời niên thiếu, ngài gia nhập quân đội và bắt đầu đua đòi ăn chơi phóng túng. Từ năm 20 đến năm 25 tuổi, ngài đã sống một quãng đờ sa đọa. Kết cuộc ngài phải vào nằm bệnh viện thánh Giacôbê tại Rôma. Những đau khổ rên xiết của các bệnh nhân đã khiến ngài xúc động sâu xa. Lời Chúa Giêsu như còn vang dội bên tai ngài: “Ta đau yếu và các con đã thăm viếng”. Những lời đó đã thắp lên trong tim ngài một ngọn lửa yêu thương đối với người đau khổ. Bởi đó ngài đã tình nguyện giúp việc tại bệnh viện và xin gia nhập dòng Phanxicô. Ðã hai lần xin xuất tu nhưng cả hai lần ngài đều xin nhập lại, và được chấp thuận. Cuối cùng, ngài thụ phong linh mục để giúp đỡ những kẻ bệnh tật (1582). Do lời khấn thứ 4 rất nghiêm khắc, người tu sĩ buộc phải dấn thân hoàn toàn cho bệnh nhân bất chấp bệnh truyền nhiễm, vì đó là tiếng mời gọi của lòng nhân từ Chúa. Ngài qua đời vào ngày 14/7/1614. Ðức Giáo Hoàng Lêô XIII phong ngài lên bậc Hiển Thánh và đặt ngài làm đấng bảo trợ các bệnh viện và người ốm đau. (Theo nhóm truyền giáo Châu, Kiên, Long, Đà Lạt)

Thánh Elisabeth Lusitania, Hoàng Hậu Bồ Ðào Nha (1271-1336) Kính ngày 4 tháng 7

Elisabeth sinh năm 1271, là con vua Aragon Pierre II. Thánh nữ được ca tụng rất nhiều về việc hãm mình, siêng năng cầu nguyện và lòng bác ái vị tha. Ngài thành hôn với Denys, vua xứ Bồ Ðào Nha năm 1283. Suốt đời, ngài luôn làm vui lòng chồng và giáo dục con cái theo ý Chúa. Ngài xây nhiều tu viện, trường học và nhà thờ. Ngài cũng được ngưỡng mộ vì đã hòa giải những mối bất đồng giữa các quan, giúp đỡ những khổ cực lầm than của dân chúng. Sau khi vua Denys băng hà, ngài được mặc áo dòng Sêraphim năm 1325 và dâng cúng mọi tài sản cho nhà thờ chánh tòa Compostelle. Sau cùng, đang khi cố thuyết phục hòa giải mối tranh chấp giữa con trai và con rể, ngài đã lâm bệnh và qua đời ngày 04/7/1336. Năm 1626, Ðức Giáo Hoàng Urbanô VIII nâng ngài lên bậc Hiển Thánh.

Các Thánh Tử Ðạo Tiên Khởi Của Hội Thánh Rôma – Kính ngày 30 tháng 6

Giáo Hội muốn dành riêng ngày hôm nay để kính nhớ một số rất đông các vị anh hùng tử đạo tiên khởi của Giáo Hội Rôma dưới thời bạo chúa Néron: các ngài bị vu oan là đã đốt thành, vì vậy bạo chúa ra lệnh hành quyết các ngài bằng đủ mọi cách. Có những vị bị đem ra làm mồi cho thú vật xâu xé, những vị khác bị treo trên Thập Giá cho đến chết, cũng có những vị bị tẩm dầu vào thân xác rồi đốt như một ngọn đuốc cháy mỗi khi đêm xuống. Tất cả những vị đó đều là môn đệ của các thánh tông đồ, các ngài đã được hiến dâng cho Chúa như của lễ đầu mùa, như hạt giống đức tin gieo vào lòng lương dân để từ đó nảy sinh những hoa trái tốt tươi cho các thế hệ kế tiếp. (Theo nhóm truyền giáo Châu, Kiên Long, Đà Lạt)

Thánh Irênê, Giám Mục Tử Ðạo (+202) – Kính ngày 28 tháng 6

Theo phần đông các sử gia thì thánh Irênê sinh gần Smyrnes thuộc Thổ Nhĩ Kỳ. Ngay từ thời niên thiếu, ngài đã từng theo học với thánh Polycarpô Giám Mục thành Smyrnes, môn đệ thánh Gioan tông đồ. Sau đó, ngài được thánh Polycarpô cử sang giảng đạo tại Lyon. Nhờ tài hùng biện cũng như lòng hy sinh hiếm có, ngài đã đưa nhiều người trở về với đức tin Công Giáo. Ngài cũng giữ một địa vị quan trọng trong giáo đoàn Lyon, nhất là khi giáo đoàn này phải qua cơn cấm đạo hết sức gắt gao. Ngài được đề cử sang Rôma để trình bày với Ðức Giáo Hoàng về tình trạng của giáo đoàn và bày tỏ lòng trung thành với Tòa Thánh. Tại đây, ngài được Ðức Thánh Cha đón tiếp niềm nở. Trong suốt thời gian lưu tại Rôma, ngài đãdành nhiều thời giờ để học hỏi về tập tục, lễ nghi của các tông đồ truyền lại. Ngài đã học thuộc lòng các tài liệu đó để đối chất với bọn lạc giáo và ly giáo khiến họ phải thất bại vì sự khôn ngoan và lý chứng của ngài. Khi trở về Lyon, ngài lãnh chức linh mục. Sau khi Ðức Giám Mục Lyon qua đời, toàn thể giáo dân đã bầu ngài làm Giám Mục. Nhờ lòng đạo đức và kiến thức dồi dào, ngài đã đem lại nhiều kết quả cho giáo đoàn và gây một ảnh hưởng sâu rộng nơi lương dân, và nhất là ra sức giữ đoàn chiên Chúa khỏi những mầm mống tà giáo vừa xuất hiện. Ngoài ra, ngài còn viết rất nhiều sách chống lại bọn lạc giáo, minh chứng Giáo Hội Rôma, quyền tối thượng và việc kế vị của các Giám Mục là tông truyền và bền vững mãi mãi. Ðến thời hoàng đế Sévere, cuộc bách hại trở nên dữ dội hơn, nhất là tại Lyon. Thánh Irênê, vị Giám Mục can trường của Chúa cũng không thoát khỏi tai họa đó. Ngài bị giam giữ, bị tra tấn dã man và bị trảm quyết ngày 28/6/202.

Thánh Phêrô Và Phaolô Tông Ðồ – Kính ngày 29 tháng 6

Thánh Phêrô Và Phaolô Tông Ðồ – Kính ngày 29 tháng 6  Cả hai thánh đều chịu tử đạo tại Rôma. Thánh Phêrô năm 64 và Phaolô năm 67. Giáo Hội Rôma đã chọn ngày 29/6 để kính trọng thể hai đấng. Tuy nhiên, ngày hôm nay phải là ngày lễ của toàn thể Giáo Hội đã được nảy sinh do dòng máu oai hùng của các ngài. Một ngày vui mừng và hân hoan, vì cả hai thánh với những ơn huệ nhận lãnh, đã ra sức quy tụ thành một gia đình Chúa Giêsu, và giờ đây cả hai cùng kết hợp trong vinh quang và đáng được ca ngợi. Ngày hôm nay chúng ta tôn kính hai khuôn mặt tiêu biểu cho Giáo Hội sơ khai, mặc dù khác biệt nhưng bổ túc lẫn cho nhau. Thánh Phêrô và Phaolô đã hăng hái rao giảng Phúc Âm, nhờ đó chúng ta đón nhận được lời loan truyền đầu tiên của đức tin. Vì thế ngày hôm nay chúng ta cũng mừng kính mầu nhiệm Giáo Hội đặt nền tảng trên các ngài. Nhờ lời bầu cử của các ngài, chúng ta hãy cầu xin để trung thành với lời giáo huấn của các ngài, sống một đời bác ái như những Kitô hữu đầu tiên và bén rễ sâu trong tình thương dạt dào. (Theo nhóm truyền giáo Châu Kiên Long, Đà Lạt)

Thánh Louis Gonzague, Tu Sĩ (1568-1591) – Kính ngày 21 tháng 6

Thánh Louis Gonzague con của vua Ferdinand de Gonzague sinh năm 1568 tại Catiglione, nước Ý. Vừa mới lọt lòng mẹ, người ta đã vội Rửa Tội cho ngài vì thấy khó sống. Với một nền giáo dục hoàn bị và nhất là dưới ảnh hưởng đạo đức của người mẹ hiền, ngài đã sớm nhận ra tiếng Chúa gọi. Năm 17 tuổi, ngài cương quyết từ bỏ mọi của cải trần thế, nhường quyền thừa kế cho em để gia nhập dòng Tên (1585), dùng những phương pháp của thánh Ignatiô như một lợi khí hầu chu toàn bổn phận tông đ. ồ. Ngài đã phải vượt qua bao nhiêu khó khăn đau khổ để tiến tới một cuộc sống chìm đắm trong cầu nguyện, thanh sạch không một chút vẩn đục… Ngài yêu mến Chúa hết lòng và đã thể hiện tình yêu đó qua việc hiến thân phục vụ bệnh nhân trong một nhà thương, bất chấp những bệnh truyền nhiễm. Ngài đã thắng vượt con người cũ cách vinh quang đến nỗi không ai tưởng tượng nổi, và người ta đã gọi ngài là “con người không xác” hay “thiên thần nhập thế”. Cuối cùng Chúa đã gọi ngài về ngày 21/6/1591, vừa hưởng trọn 24 xuân xanh. Ðức Giáo Hoàng Bênêđictô XIII sau khi phong thánh cho ngài, đã đặt ngài làm quan thầy các người giữ đức trinh khiết, năm 1762.

Thánh Romualđô, Tu Viện Trưởng (+ 1027) – Kính ngày 19 tháng 6

Thánh Romualđô, Tu Viện Trưởng (+ 1027) – Kính ngày 19 tháng 6  Romualđô xuất thân từ một gia đình quý tộc bên Ý. Khi còn là thanh niên, ngài rất thích đi săn bắn. Chính những cuộc săn đuổi thú rừng đã đem tâm hồn ngài lại gần với thiên nhiên và thúc đẩy khuynh hướng sống đời tịch liêu hoàn toàn. Nhân lúc buồn vì cảnh gia đình, ngài trốn vào tu trong dòng Bênêđictô tại Classa. Một thời gian sau, ngài được mặc áo dòng. Từ đó, Romualđô tiến nhanh trên đường nhân đức và nên gương mẫu cho anh em trong dòng. Sau ba năm sống trong tu viện Bênêđictô, ngài lại đi tìm nếp sống khổ hạnh hơn trong sa mạc bên cạnh Marinô, bậc thầy khả kính. Ngày ngày, thầy trò đi dạo dưới lùm cây và hát thánh vịnh. Mỗi tuần chỉ ăn có ba ngày. Lương thực là một miếng bánh mì và một nắm đỗ. Nhưng sau ba năm, ngài muốn trở về cải tổ các tu viện Bênêđictô đang sa sút trầm trọng. Chính ngài đã sửa đổi và xây thêm hàng trăm tu viện. Rất nhiều người bỏ cuộc sống trần tục theo ngài vào tu trong rừng. Thấy ngài sống thánh thiện, nhiệm nhặt, ma quỷ tìm hết cách tấn công, nhưng ngài vẫn quyết dùng khí giới là lời cầu nguyện để dẹp yên bọn chúng. Một vài anh em trong dòng cũng khó chịu vì đời sống bác ái yêu thương của ngài đối với người nghèo. Ít lâu sau, thể theo lời của hoàng đế Othon III và sự yêu cầu của các thầy, ngài về làm Bề Trên tu viện Classa. Cảm mến nhân đức của ngài, nhiều ông hoàng đã xin vào tu trong dòng. Ngài ước ao đi truyền giáo bên Hung Gia Lợi, nhưng ý Chúa không muốn, ngài lại tìm đến một nơi trong hoang địa để kết liễu cuộc đời tận hiến. Tại đây ngài sống hoàn toàn trong yên lặng, cầu nguyện, ăn chay và đánh tội. Năm 1009, ngài biết ý Chúa muốn cho ngài thành lập một tu viện mới, nên ngài đến xin một bá tước miền núi Apennin mảnh đất để bắt tay vào việc. Nơi đây nghiễm nhiên trở thành trung tâm những tu viện của ngài. Các Ðức Giáo Hoàng kính nể, ban nhiều đặc ân và bảo vệ bộ luật dòng ngài. Ngài qua đời vào mùa hè năm 1027, thọ 120 tuổi. Giáo Hội mừng lễ ngài vào ngày 19/6 mỗi năm. (Theo nhóm tryền giáo Châu Kiên Long, Đà Lạt)

Thánh Barnabê Tông Ðồ – Kính ngày 11 tháng 6

Thánh Barnabê gốc Do Thái, thuộc chi họ Lêvi nhưng sinh ra tại đảo Chypre. Ngài có dịp nghe Chúa giảng và trở nên một trong số 72 môn đệ đầu tiên. Sau khi chúa Giêsu sống lại và lên trời, Barnabê vâng lệnh các tông đồ đi giảng Phúc Âm tại Antiokia, một địa điểm truyền giáo thịnh vượng nhất thời bấy giờ. Ðược đầy Chúa Thánh Thần và nhờ tài lợi khẩu, ngài đã lôi cuốn được nhiều người trở về với Thiên Chúa. Ngài đã tìm và mời thánh Phaolô tới giảng dạy với ngài tại đây. Sau đó, các ngài trở lại Giêrusalem mang theo món tiền quyên được và trao cho các kỳ mục cùng gặp gỡ các vị tông đồ khác. Nhưng ý Chúa muốn trao phó cho Barnabê và Phaolô sứ mạng rao giảng Tin Mừng cho dân ngoại, nên các ngài đã trẩy đi Séleucie và Chypre. Các ngài được dân bản xứ đón tiếp và tin theo. Tuy nhiên, một vài nơi, có những người Do Thái thủ cựu ghen tuông đã thốt ra nhiều lời ngạo mạn đối với các ngài. Các ngài cũng được Chúa ban quyền làm nhiều phép lạ: chữa các bệnh tật, làm cho kẻ chết sống lại… để củng cố niềm tin của tân tòng. Hoạt động của các ngài được ghi lại trong sách Công Vụ Sứ Ðồ. Thánh Barnabê cùng với Marcô ở lại Chypre tiếp tục giảng đạo và lãnh phúc tử đạo tại đây. Chính những người Do Thái từ Syria âm mưu xúi dân ném đá và xử tử ngài. Năm 488, đời hoàng đế Zenon, người ta đã tìm được hài cốt thánh Barnabê tại Salamine, đảo Chypre.  (Theo nhóm truyền giáo Châu Kiên Long, Đà Lạt)