Học Hỏi Sống Đạo – Chúa Nhật Thứ 29 Thường Niên Năm B

Hỏi: Lời Tuyên Xưng Đức Tin là gì ? Đáp: Lời Tuyên Xưng Đức Tin là bản tóm tắt đức tin và những chân lý trong đạo Công Giáo. –      Kinh Tin Kính của Công đồng Ni-xê Công-tan-ti-nốp : chúng ta đọc trong thánh lễ. –      Kinh Tin Kính các tông đồ : thường đọc trong các buổi đọc kinh và học trong các giờ giáo lý. –      Công Thức Tuyên Xưng Đức Tin khi chịu phép Rửa, được cộng đoàn lặp lại trong Đêm Vọng Phục Sinh.   Hỏi: Sự thinh lặng trong phụng vụ có ý nghĩa như thế nào ? Đáp: Thinh lặng trong phụng vụ giúp mỗi người đi sâu vào nội tâm, để suy niệm và cầu nguyện, cách riêng trong những lúc : sám hối đầu lễ, sau các bài đọc và bài giảng, sau rước lễ (x. QCTQ/SLR 45).   Hỏi: Dấu Thánh Giá có nghĩa gì ? Đáp: Dấu Thánh Giá là việc tuyên xưng Thiên Chúa Ba Ngôi, được các tín hữu ghi dấu trước khi cử hành bất cứ việc đạo đức nào.  (Theo Giáo Phận Đà Lạt, simonhoadalat.com)

Học Hỏi Sống Đạo – Chúa Nhật Thứ 28 Thường Niên Năm B

Hỏi: Vinh tụng ca là gì ? Đáp: Vinh tụng ca là công thức để chúc tụng và tôn vinh Thiên Chúa về những kỳ công của Người. Có nhiều câu chúc tụng như : –      “Nhờ Đức Giêsu Kitô…” là câu kết thúc lời nguyện, hướng lòng chúng ta về Ba Ngôi Thiên Chúa. –      “Vinh Danh Thiên Chúa trên các tầng trời…” là thánh thi lễ Giáng Sinh mà chúng ta đọc đầu lễ (trừ Mùa Vọng, Mùa Chay) –      “Chính nhờ Đức Kitô, cùng với Đức Kitô và trong Đức Kitô…” là Vinh Tụng Ca long trọng nhất kết thúc Kinh Tạ Ơn, dành riêng cho vị tư tế.   Hỏi: Lời cầu là những lời gì ? Đáp: Lời cầu là những công thức cầu nguyện ngắn gọn. Việc lặp đi lặp lại giúp ý cầu nguyện đi sâu vào nội tâm, ví dụ như lời : “Xin Chúa nhậm lời chúng con”.    (Theo Giáo Phận Đà Lạt, simonhoadalat.com)

Thánh Callistô I, Giáo Hoàng Tử Ðạo (+ 222) Kính ngày 14/10

Thầy sáu Callistô là người cộng sự thân cận của Ðức Giáo Hoàng Zêphyrinô. Năm 217, ngài được chọn làm đấng kế vị lèo lái con thuyền Hội Thánh dưới thời hoàng đế Antonin Heliogabale. Theo chân vị tiền nhiệm khả kính, ngài đã cho sửa sang những nghĩa trang đầu tiên của cộng đoàn tín hữu Rôma trên đường Appia. Ðó là nơi yên nghỉ của hầu hết các Ðức Giáo Hoàng và các thánh tử đạo. Tuy nhiên, ngài cũng bị linh mục Hippolyte, một nhà tư tưởng nổi tiếng chống đối, nhưng với địa vị Giáo Hoàng, ngài cương quyết bảo vệ đức tin của Giáo Hội trước vấn đề mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi. Ngài bị bọn lạc giáo bắt và hành hạ: phải nhịn đói, đánh đòn nhiều lần, sau cùng ngài bị ném xuống giếng cho chết. Ngài lãnh triều thiên tử đạo năm 222 tại Transtévère dưới thời vua Alexandre.

Thánh Gioan Lêônarđô, Linh Mục Kính ngày 9/10  

Thánh Gioan Lêônarđô sinh tại Lucques vào khoảng năm 1541. Sau khi đã theo học ngành thuốc, ngài thụ phong linh mục năm 1571. Ngài thu nhập một số bạn hữu đi giảng dạy giáo lý cho thanh thiếu niên và chuẩn bị cho người trưởng thành trước những trào lưu của thệ phản. Ðó chính là Hội dòng Các Giáo Sĩ Mẹ Thiên Chúa (1574). Ngài hăng say lên tiếng chống lại những tệ đoan của xã hội, cũng vì đó ngài bị nhiều người thù ghét đến độ ngài phải rời khỏi Lucques. Ngài tới Rôma và góp phần đào tạo những linh mục thừa sai. Chính ngài đã đặt nền móng cho trường Truyền Giáo với sự cộng tác của Ðức Hồng Y Gioan Baotixita Vivès (1603). Ngôi trường danh tiếng này sau được Ðức Thánh Cha Urbanô VIII chính thức khai lập vào năm 1627. Ngài đã qua đời sau một cơn bệnh nặng. Suốt cuộc đời, ngài đã không ngừng hiến thân phụng vụ Thiên Chúa và anh em đồng loại.

Thánh Ðiônysiô, Giám Mục và Các Bạn Tử Ðạo Kính ngày 9/10  

Trước kia, thánh Ðiônysiô đã cai trị Giáo Hội Nhã Ðiển một thời gian, sau đó, ngài cùng với linh mục Rustique và thầy sáu Elethère vượt biển đến Rôma để xin Ðức Giáo Hoàng Clêmentê sai đi giảng đạo.. Ngài và một số bạn hữu được sai đến với dân tộc Pháp và ngụ tại Ba Lê, trước kia có tên là Lutèce. Ngài hăng say loan truyền Phúc Âm và nhiều người trở lại, các thánh đường được xây cất, nhưng đồng thời cơn bách hại cũng bắt đầu chớm nở. Mặc dù tuổi đã cao nhưng ngài vẫn chứng tỏ lòng can trường chịu mọi đau khổ, không gì có thể ngăn chặn được lòng dũng cảm của ngài. Bị treo lên cây Thập Giá, ngài vẫn giảng dạy mầu nhiệm ơn cứu chuộc. Sau cùng, ngài đã chịu chém đầu cùng với nhiều tín hữu khác ở Montmartre hay “Núi các thánh tử đạo” vào khoảng năm 250.

Học Hỏi Sống Đạo – Chúa Nhật Thứ 27 Thường Niên Năm B

Hỏi: Lời tung hô là những lời nào? Đáp: Các lời tung hô trong thánh lễ gồm có : – Amen : tiếng Do thái có nghĩa là tán đồng, “Vâng, đúng thế…”. – Alleluia : tiếng Do thái có nghĩa là “Chúc tụng Chúa”. Đây là lời tung hô bày tỏ niềm vui mừng và chiến thắng. – Hosanna : tiếng Do thái tạm dịch là “Hoan hô”. – Tạ ơn Chúa ; Lạy Chúa, vinh danh Chúa ; Lạy Chúa Kitô, ngợi khen Chúa : đây là những lời chúc tụng tạ ơn Chúa. Những lời này có thể dưỡng nuôi tâm tình cầu nguyện trong tâm trí ta suốt ngày.   Hỏi: Những lời đối đáp là những lời gì ? Đáp: Là những câu tín hữu đáp lại lời chào và lời cầu nguyện của vị chủ tế trong suốt buổi cử hành phụng vụ. Các lời đối đáp diễn tả những ước nguyện và tâm tình của cộng đoàn và mỗi tín hữu.    (Theo Giáo Phận Đà Lạt, simonhoadalat.com)

Thánh Phanxicô Khó Khăn, Lập Dòng (1182-1226) – Kính ngày 4/10

Thánh Phanxicô Khó Khăn, Lập Dòng (1182-1226) – Kính ngày 4/10  Thánh Phanxicô Khó Khăn sinh tại Assise khoảng năm 1182. Cha ngài, ông Bênađô là một thương gia tơ sợi nổi tiếng. Mẹ ngài là bà Pica, một người đạo đức, đã hun đúc ngài trở thành một vị thánh thời danh. Lúc bấy giờ có cuộc nổi loạn của đám lê dân chống lại những người quý tộc. Ngài bị bắt và bị cầm tù gần một năm. Trong thời gian đó, ngài bị một cơn bệnh trầm trọng; sau khi khỏi, Chúa đã cảm hóa ngài với câu: “Lạy Cha chúng tôi ở trên Trời”. Ngài quyết định từ bỏ mọi sự, sống đời nghèo khó năm 1206. Bị cha già hết sức phản đối, nhưng dù thương cha, ngài cũng không dám làm ngược lại thánh ý Chúa. Ngài phân phát hết của cải, chỉ gữ lại chiếc choàng cũ rồi đi rao giảng Tin Mừng. Trong cảnh sống cơ cực này, được Chúa thúc đẩy, ngài thành lập hội dòng Anh Em Hèn Mọn. Sau đó, ngài lui về Alverne, một nơi cô tịch phía Bắc Assise để suy niệm và ăn chay đền tội. Trong lúc xuất thần, ngài nhìn thấy Thiên Thần Sêraphim và một ảnh chuộc tội. Khi tỉnh lại, lạ lùng thay, chính trên thân thể ngài, Chúa đã in năm dấu thánh cho người Chúa yêu (1224). Hai năm sau, ngài lâm bệnh. Trước giờ chết, ngài khuyên bảo anh em hãy cố giữ tinh thần nghèo khó và đức tin sâu xa vào Giáo Hội Chúa. Ngài nhắm mắt lìa trần ngày 04/10/1226. Dưới triều Ðức Giáo Hoàng Grêgoriô, ngài được tôn lên bậc Hiển Thánh. Nhìn tấm gương nghèo khó thương người, chúng ta hãy xin Chúa ban cho mỗi người chúng ta biết lướt thắng mọi vinh hoa phú quý để tăng lòng mến Chúa và ham chuộng tinh thần Phúc Âm.

Thánh Têrêxa Hài Ðồng Giêsu (1873-1897) – Kính ngày 1/10

Thánh Têrêxa Hài Ðồng Giêsu (1873-1897) – Kính ngày 1/10  Thánh Têrêxa chào đời ngày 02/01/1873 tại Alancon nước Pháp. Song thân là cụ Louis Martin và bà Maria Guérin. Khi Têrêxa chưa tròn 4 tuổi, bà Guérin đã vội ra đi để lại một tang buồn cho gia đình, nhất là đối với Têrêxa. Thánh nữ được cha già và các chị dìu dắt trên đường đạo đức và ngài tiến triển rất mau. Năm 10 tuổi, Têrêxa rước lễ vỡ lòng và chịu phép Thêm Sức. Cùng năm đó, ngài bị một cơn bệnh trầm trọng và được Ðức Mẹ chữa khỏi một cách lạ lùng. Lễ sinh nhật 1887, ngài quyết định đi theo tiếng Chúa gọi. Ngài được Ðức Giáo Hoàng ban đặc ân nhận vào dòng Kín khi mới 15 tuổi. Ở đây, thánh nữ chăm chú cầu nguyện, nung đốt lửa mến Chúa và giúp đỡ chị em trong nhà. Những nhân đức nổi bật nhất nơi thánh nữ là lòng đơn sơ phó thác vào Chúa, bác ái với mọi người và yêu mến các linh hồn. Với sự hy sinh chịu đựng, ngài chu toàn bổn phận và được chị Pauline khuyến khích ghi lại cuốn “Một tâm hồn”. Ngày 14/6/1895, thánh nữ cảm thấy vết thương tình yêu mở lớn trong khi viếng Ðàng Thánh Giá. Ngày 08/7/1897, thánh nữ lâm bệnh nặng và ngày 01/10/1897, sau khi lãnh của ăn đàng, thánh nữ đã trút hơi thở sau cùng. Năm 1925, Ðức Thánh Cha Piô XI đã phong ngài lên bậc Hiển Thánh và đặt ngài làm quan thầy các xứ truyền giáo. Ngày lễ kính thánh Têrêxa, chúng ta hãy xin Chúa, qua lời cầu bàu của thánh nữ, cho chúng ta luôn chấp nhận sự đau khổ Chúa gửi trong tinh thần đơn sơ và phó thác.

Học Hỏi Sống Đạo – Chúa Nhật Thứ 26 Thường Niên Năm B

Hỏi: Người đọc sách làm gì ? Đáp: Người đọc sách có sứ mạng cao cả là công bố Lời Chúa : Bài đọc I, Thánh vịnh đáp ca, Bài đọc II.   Hỏi: Ca viên và ca đoàn giữ vai trò nào trong phụng vụ ? Đáp: Ca viên và ca đoàn giữ vai trò quan trọng để việc cử hành phụng vụ được tốt đẹp. Bằng lời ca tiếng hát, họ tạo nên tâm tình sốt sắng và nâng đỡ cộng đoàn đang cầu nguyện.   Hỏi: Cộng đoàn tham dự phụng vụ là những ai ? Đáp: Là các tín hữu hợp thành dân thánh, dân riêng của Thiên Chúa, hoàng tộc chuyên lo tế tự, để tạ ơn Thiên Chúa (QCTQ/SLR 95).   Hỏi: Vai trò của các nhạc công là gì? Đáp: Họ đóng vai trò quan trọng, vì âm nhạc là nền để cộng đoàn phụng vụ tựa vào đó mà ca hát tôn vinh Chúa.   Hỏi: Người giữ phòng thánh là ai ? Đáp: Là người sắp đặt cẩn thận các đồ dùng cần thiết trong việc cử hành phụng vụ (x. QCTQ/SLR 105), và cũng gìn giữ phòng thánh được an toàn, trật tự. (Theo Giáo Phận Đà Lạt, simonhoadalat.com)

Học Hỏi Sống Đạo – Chúa Nhật Thứ XXV Thường Niên Năm B

Hỏi: Chủ tế là ai ? Đáp: Chủ tế là người trong Hội Thánh có chức thánh để dâng hy lễ nhân danh Đức Kitô, để chủ tọa cộng đoàn tín hữu được quy tụ (QCTQ/SLR 93) ; ngài thay mặt Đức Kitô là Đầu mà hành động (LM 2).   Hỏi: Phó tế là ai ? Đáp: Phó tế là người có chức thánh để phục vụ : thầy công bố Tin Mừng, đôi khi diễn giảng Lời Chúa, xướng các ý nguyện trong lời nguyện cho mọi người, giúp chủ tế khi chuẩn bị bàn thờ và khi cử hành hy tế, cho các tín hữu rước lễ, nhất là dưới hình rượu (QCTQ/SLR 94)   Hỏi: Người giúp lễ là ai ? Đáp: Là người phục vụ bàn thờ, giúp chủ tế và thầy phó tế (QCTQ/SLR 98). Khi sốt sắng tham dự và thi hành phận sự mình, thì người giúp lễ góp phần tạo nên bầu khí tôn nghiêm, giúp cho cộng đoàn cầu nguyện để tôn vinh Thiên Chúa. (Theo Giáo Phận Đà Lạt, simonhoadalat.com)