Thánh Clara Ðồng Trinh (1194-1253) – Kính ngày 11 tháng 8

Cũng như thánh Phanxicô Khó Khăn, thánh nữ Calara là một ngọn đèn sáng Cha dùng để chiếu soi cho nhân loại tinh thần khó nghèo tuyệt đối của Phúc Âm. Ngài sinh ngày 16/7/1194 tại Assise miền Ombrie nước Ý, trong một gia đình quý phái. Chính thân mẫu đã lưu tâm dạy dỗ ngài ngay từ nhỏ, chẳng những bằng lời nói mà còn bằng gương sáng. Bà đã hun đúc cho ngài bằng tâm tình cầu nguyện, đức từ bỏ và tính nhẫn nhục. Lên 16 tuổi, ngài tránh xa tiếng ồn ào của đô thị đến ẩn mình trong một nhà thờ ở miền quê (1212). Chính nơi đây ngài đã gặp thánh Phanxicô Khó Khăn và được tận tình giúp đỡ trên đường tu đức. Ngài can đảm chống lại ngăn cản của gia đình. Cuối cùng ngài được đưa đến đền thờ thánh Ðamianô để lập Hội Các Chị Tận Hiến cho Thiên Chúa. Về đời sống thiêng liêng, ngài vẫn trực tiếp theo sự hướng dẫn của thánh Phanxicô. Ðức Giáo Hoàng Alexandre IV đã đặt ngài lên hàng các thánh đồng trinh năm 1255. Nhóm truyền giáo Châu Kiên Long, Ðà Lạt

Thánh Gaetanô, Linh Mục (1480-1547), Linh mục – Kính ngày 7 tháng 8

Thánh Gaetanô sinh năm 1480 tại Vivence nước Ý, thuộc gia đình quý phái mang tên là Thiena. Nhờ sự giáo dục chu đáo của người mẹ, ngay từ nhỏ ngài đã biết tận hiến cho Ðức Maria và siêng năng học tập các nhân đức. Ngài còn tỏ ra là một tâm hồn rất quảng đại, biết yêu thương đồng loại, nhất là kẻ bần cùng khốn khổ. Thầy bắt đầu học thần Ngài học luật ở Padua. Nhờ trí thông minh và lòng đạo đức, ngài được Ðức Juliô II mời gọi vào làm trong Giáo Triều Rôma và sau đó được phong chức linh mục năm 1516. Ngài lập nhiều nhà thương miễn phí và trong khi bệnh dịch hoành hành, ngài vẫn cứ trực tiếp chăm sóc bệnh nhân. Ðặc biệt ngài rất lưu tâm đến phần rỗi của kẻ khác, nên người ta có thói quen gắn cho ngài biệt hiệu là “Thợ săn các linh hồn”. Sống trong lúc kỷ luật Giáo Hội sa sút, ngài đã cố gắng tái lập lại bằng đời sống gương mẫu hoạt động tông đồ. Ngài lập hội các linh mục triều, sống tinh thần Phúc Âm đích thực, bán các tư sản, không cần giáo dân đảm bảo cho tương lai, chỉ nhận những của bố thí tự phát. Ngài đã đào tạo cho Giáo Hội nhiều cán bộ tài đức. Sau bốn ngày lâm bệnh, ngài trút hơi thở cuối cùng vào đầu tháng 8/1547 tại Naples trước sự chứng kiến của anh em trong dòng. Nhóm truyền giáo Châu Kiên Long, Ðà Lạt

Học Hỏi Sống Đạo – Chúa Nhật Thứ XVIII Thường Niên Năm B

(tiếp theo số báo 18291) Hỏi: “Chúa Thánh Thần đã dùng các tiên tri mà phán dạy” nghĩa là gì? Đáp: Từ “Các tiên tri” ở đây được dùng để chỉ những người được Chúa Thánh Thần linh ứng để họ nói nhân danh Thiên Chúa. Chúa Thánh Thần đã làm cho các lời tiên tri trong Cựu Ước được ứng nghiệm hoàn toàn nơi Ðức Kitô; cũng chính Chúa Thánh Thần mạc khải mầu nhiệm Ðức Kitô trong Tân Ước. Hỏi: Hoạt động của Chúa Thánh Thần nơi thánh Gioan Tẩy Giả như thế nào? Đáp: Chúa Thánh Thần đổ tràn trên thánh Gioan Tẩy Giả, vị tiên tri cuối cùng của Cựu Ước. Dưới tác động của Thánh Thần, ông được sai đi để “chuẩn bị một dân cho Chúa” (Lc 1,17) và để loan báo việc Ðức Kitô, Con Thiên Chúa, ngự đến ; đó là Ðấng mà ông đã thấy Thánh Thần ngự xuống và ở lại trên Người, Ðấng “sẽ làm phép rửa trong Thánh Thần” (Ga 1,33) Hỏi: Ðâu là công trình của Chúa Thánh Thần nơi Ðức Maria? Đáp: Mọi mong chờ việc Ðức Kitô đến và sự chuẩn bị cho Người trong Cựu Ước được Chúa Thánh Thần hoàn thành tất cả nơi Ðức Maria. Một cách độc nhất vô nhị, Chúa Thánh Thần đã đổ tràn ân sủng trên Ðức Maria và làm cho đức trinh khiết của Mẹ nên phong phú, để Mẹ sinh hạ Người Con của Thiên Chúa trong thân xác. Chúa Thánh Thần đã làm cho Ðức Maria trở thành Mẹ của “Ðức Kitô toàn thể,” nghĩa là của Ðức Kitô là Ðầu và của Hội thánh là thân thể Người. Ðức Maria hiện diện giữa nhóm Mười Hai ngày lễ Hiện Xuống, khi Thánh Thần khai mở “thời đại cuối cùng” với việc xuất hiện của Hội thánh. (Trích Bản Toát Yếu Sách Giáo Lý của Hội Thánh Công Giáo, bản dịch của HĐGM Việt Nam, 2011)                 142

Thánh Alphongsô Maria Liguori,  Giám Mục Tiến Sĩ Hội Thánh (1696-1787)

Thánh Alphongsô Maria Liguori,  Giám Mục Tiến Sĩ Hội Thánh (1696-1787) – Kính ngày 1 tháng 8  Thánh Alphongsô Maria Liguori sinh ngày 27/9/1696 trong một gia đình quý phái và đạo đức tại Marinella gần Naples.Nhờ ảnh hưởng gia đình, cậu bé Alphongsô luôn trỗi vượt về học vấn cũng như về đức hạnh. Mười sáu tuổi, sinh viên ưu tú Alphongsô giật được mảnh bằng tiến sĩ giáo luật và dân luật, trở thành một trạng sư danh tiếng. Giữa cảnh giàu sang phồn thịnh và quyến rũ của thế gian, Alphongsô đã nhất quyết nghe theo tiếng gọi của Thiên Chúa, và cậu đã phải trải qua nhiều trở ngại. Trở ngại cam go nhất là của gia đình. Cha cậu không đồng ý để cậu dâng mình cho Chúa. Thế nhưng trước ý chí cương quyết của Alphongsô, người cha cũng đã phải nhượng bộ. Thầy bắt đầu học thần học và dành nhiều thời giờ để làm việc tông đồ. Thật là cảm động khi thấy một thanh niên con nhà quyền quý từ bỏ cuộc đời nhung lụa đi lang thang khắp phố tìm kiếm trẻ nhỏ dẫn vào nhà thờ dạy giáo lý. Nhìn cách sống khiêm cung với những đồ trang phục đơn sơ của thầy, các bạn cũ trong luật sư đoàn tỏ vẻ khinh khi. Nhiều lần họ còn nói những lời mỉa mai diễu cợt khiến ngài hết sức khổ tâm. Nhưng với ơn Chúa, thầy vui lòng chịu đựng để nên giống Ðức Giêsu hơn. Thầy thụ phong linh mục ngày 21/12/1726. Suốt cuộc đời, cha Alphongsô chỉ chuyên chú vào việc giảng dạy và khuyên bảo mọi người tiến bước trên đường nhân đức. Chính lời rao giảng của ngài đã đánh động người cha yêu quý. Ông ôm lấy con và nói: “Ôi con yêu dấu, Alphongsô con cha, giờ đây cha rất vui sướng vì thấy con đã ôm ấp được một lý tưởng cao quý. Cha xin lỗi con vì trước kia cha đã làm phiền lòng con và dám chống lại ý Chúa” Ngài sáng lập dòng Chúa Cứu Thế năm 1732, một dòng đã giúp ích rất nhiều cho Giáo Hội. Các tu sĩ chuyên lo giảng dạy Tin Mừng và truyền bá lòng tôn sùng Ðức Mẹ. Năm 1762, ngài được phong làm Giám Mục giáo phận thánh Agatha Gothorum. Những năm cuối đời, thánh nhân phải chịu rất nhiều thử thách: bị bách hại, bị lo âu…, nhưng sau cùng, ngài tìm lại được bình an và yên nghỉ thánh thiện trong tay Chúa vào ngày 01/8/1787. Ðức Giáo Hoàng Piô IX đã đặt cho ngài tước hiệu Tiến Sĩ Giáo Hội năm 1871, và Ðức Piô XII đặt ngài làm quan thầy các cha giải tội và các nhà luân lý.   Nhóm Châu Kiên Long, Ðà Lạt  

Học Hỏi Sống Đạo – Chúa Nhật Thứ 17 Thường Niên Năm B

Hỏi: Những tên gọi khác của Chúa Thánh Thần là gì?  Đáp: “Chúa Thánh Thần” là Danh xưng của Ngôi Ba. Ðức Kitô cũng gọi Chúa Thánh Thần là Ðấng An Ủi (Parakletos – Trạng sư) và Thần Chân Lý. Tân Ước còn gọi Ngài là Thánh Thần của Ðức Kitô, của Ðức Chúa, của Thiên Chúa, Thánh Thần của Vinh quang, Thánh Thần của Lời hứa.   Hỏi: Những biểu tượng về Chúa Thánh Thần là gì? Đáp: Có rất nhiều biểu tượng về Chúa Thánh Thần: nước hằng sống tuôn trào từ trái tim bị đâm thâu của Ðức Kitô và giải cơn khát cho những người đã được Rửa tội; việc xức dầu, đó là dấu chỉ của Bí tích Thêm sức; lửa biến đổi tất cả những gì lửa bén tới; áng mây, mờ tối hay rạng ngời, trong đó vinh quang Thiên Chúa được tỏ hiện; việc đặt tay thông ban Chúa Thánh Thần; chim bồ câu đã ngự xuống và ở lại trên Ðức Kitô lúc Người chịu phép rửa.   (Trích Bản Toát Yếu Sách Giáo Lý của Hội Thánh Công Giáo, bản dịch của HĐGM Việt Nam, 2011)

Học Hỏi Sống Đạo – Chúa Nhật Thứ 16 Thường Niên Năm B

Hỏi: Tại sao sứ vụ của Chúa Con và sứ vụ của Chúa Thánh Thần không thể tách rời nhau? Đáp: Trong Ba Ngôi không thể phân chia, Chúa Con và Chúa Thánh Thần phân biệt với nhau, nhưng không tách rời nhau. Thực vậy, từ khởi đầu cho đến cùng tận thời gian, khi Chúa Cha sai Con Ngài, thì cũng sai Thánh Thần của mình, Ðấng kết hợp chúng ta với Ðức Kitô trong đức tin, để với tư cách là dưỡng tử, chúng ta có thể gọi Thiên Chúa là “Cha” (Rm 8,15). Chúa Thánh Thần vô hình, nhưng chúng ta nhận ra Ngài qua tác động của Ngài, khi Ngài mạc khải Ngôi Lời cho chúng ta và khi Ngài hoạt động trong Hội thánh.     (Trích Bản Toát Yếu Sách Giáo Lý của Hội Thánh Công Giáo, bản dịch của HĐGM Việt Nam, 2011)

Thánh Maria Mađalêna – Kính ngày 12 tháng 7

Thánh Maria Mađalêna – Kính ngày 12 tháng 7 Phúc Âm thánh Marcô kể lại rằng: “Sau khi sống lại, Chúa Giêsu đã hiện ra trước hết với Maria Mađalêna, người đã được trừ khỏi bảy quỷ dữ”. Lãnh nhận ơn tha thứ, ngài đã theo Chúa trên khắp các nẻo đường rao giảng Phúc Âm. Trong khi các môn đệ chạy trốn, ngài đã đứng bên Thánh Giá cùng với Mẹ Maria và môn đệ Gioan. Khi mai táng Chúa, ngài và bà Maria vợ ông Clêôphas đã ngồi trước mộ thánh. Một tình yêu bền vững luôn luôn nối kết ngài với Chúa. Vì thế, sau khi sống lại, Chúa đã hiện ra với ngài trước hết và trao cho ngài sứ mạng loan truyền niềm vui Phục Sinh. Nhờ lời nguyện cầu và gương sáng của ngài, chúng ta cũng hãy rao giảng Chúa Kitô sống lại, để sẽ được chiêm ngắm Chúa trong vinh quang bất diệt.   (Theo nhóm truyền giáo Châu Kiên Long, Đà Lạt)

Học Hỏi Sống Đạo – Chúa Nhật thứ 15 Năm B

Hỏi: Tại sao sứ vụ của Chúa Con và sứ vụ của Chúa Thánh Thần không thể tách rời nhau? Đáp: Trong Ba Ngôi không thể phân chia, Chúa Con và Chúa Thánh Thần phân biệt với nhau, nhưng không tách rời nhau. Thực vậy, từ khởi đầu cho đến cùng tận thời gian, khi Chúa Cha sai Con Ngài, thì cũng sai Thánh Thần của mình, Ðấng kết hợp chúng ta với Ðức Kitô trong đức tin, để với tư cách là dưỡng tử, chúng ta có thể gọi Thiên Chúa là “Cha” (Rm 8,15). Chúa Thánh Thần vô hình, nhưng chúng ta nhận ra Ngài qua tác động của Ngài, khi Ngài mạc khải Ngôi Lời cho chúng ta và khi Ngài hoạt động trong Hội thánh. Hỏi: Những tên gọi khác của Chúa Thánh Thần là gì? Đáp: “Chúa Thánh Thần” là Danh xưng của Ngôi Ba. Ðức Kitô cũng gọi Chúa Thánh Thần là Ðấng An Ủi (Parakletos – Trạng sư) và Thần Chân Lý. Tân Ước còn gọi Ngài là Thánh Thần của Ðức Kitô, của Ðức Chúa, của Thiên Chúa, Thánh Thần của Vinh quang, Thánh Thần của Lời hứa. Hỏi: Những biểu tượng về Chúa Thánh Thần là gì? Đáp: Có rất nhiều biểu tượng về Chúa Thánh Thần: nước hằng sống tuôn trào từ trái tim bị đâm thâu của Ðức Kitô và giải cơn khát cho những người đã được Rửa tội; việc xức dầu, đó là dấu chỉ của Bí tích Thêm sức; lửa biến đổi tất cả những gì lửa bén tới; áng mây, mờ tối hay rạng ngời, trong đó vinh quang Thiên Chúa được tỏ hiện; việc đặt tay thông ban Chúa Thánh Thần; chim bồ câu đã ngự xuống và ở lại trên Ðức Kitô lúc Người chịu phép rửa.   (Trích Bản Toát Yếu Sách Giáo Lý của Hội Thánh Công Giáo, bản dịch của HĐGM Việt Nam, 2011)

Thánh Anê Lê Thị Thành (Bà Ðê), Giáo Dân (+1841)

Thánh Anê Lê Thị Thành (Bà Ðê), Giáo Dân (+1841)                                 Kính ngày 12 tháng 7   Thánh Anê Lê Thị Thành, người ta quen gọi là Bà Ðê, sinh khoảng năm 1781 tại Bái Ðền thuộc tỉnh Thanh Hóa. Ngay từ nhỏ, bà đã theo mẹ về quê ngoại ở làng Phúc Nhạc trong tỉnh Ninh Bình. Tại đây, năm 17 tuổi, bà lập gia đình với ông Nguyễn Văn Nhất. Về sau được gọi là Bà Ðê theo tên con trai cả. Bà thật là tấm gương sáng chói về đạo hạnh cho các bà mẹ Công Giáo, rất quý mến và sốt sắng giúp đỡ các linh mục trong thời cấm đạo. Chính đó là lý do bà bị bắt giải về Nam Ðịnh, vào tháng 3/1841, đời vua Thiệu Trị. Trong ngục, mặc dù phải chịu đòn đau đớn nhiều lần, và tuy là phận nữ, bà vẫn một lòng trung kiên tuyên xưng đức tin Công Giáo. Vì chịu quá nhiều cực hình, thân thể đầy thương tích, lại không ăn uống được, bà kiệt sức và chết rũ tù ngày 12/7/1841. Ðức Giáo Hoàng Piô X đã tôn phong bà lên bậc Chân Phước tử đạo vào ngày 02/5/1909. Ðức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã tôn phong Hiển Thánh ngày 19/6/1988.   (Theo nhóm truyền giáo Châu Kiên Long, Đà Lạt)

Thánh Phêrô Nguyễn Khắc Tự, Thầy Giảng (+1840)

Thánh Phêrô Nguyễn Khắc Tự, Thầy Giảng (+1840) Kính ngày 10 tháng 7                               Thánh Phêrô Nguyễn Khắc Tự sinh năm 1811 tại Ninh Bình. Từ nhỏ đã được vào nhà Chúa, dọn mình làm thầy giảng, theo giúp cha già Quế. Khi cha qua đời, ngài lại theo giúp Ðức Cha Cao, lúc đó còn là linh mục. Sau bốn năm giúp Ðức Cha Cao, ngài bị bắt sau Ðức Cha. Trong ngục, được gặp lại thầy cũ, ngài tỏ ra hết sức vui mừng, hứa sẽ trung thành với thầy tới chết. Khi Ðức Cha Cao và hai cha Khoa, Ðiểm cùng bị giam một nơi đã được phúc tử đạo, ngài tỏ ra buồn khổ mong cho tới lượt mình.   Ngày 08/7/1840, triều đình phê án tử. Hôm sau khi nhận được tin này, ngài vui mừng và hân hoan tạ ơn Chúa. Ngày 10/7/1840, ngài bị xử giảo tại Ðồng Hới. Ðức Thánh Cha Lêô XIII đã tôn phong ngài lên bậc Chân Phước ngày 27/5/1900. Ðức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã tôn phong Hiển Thánh ngày 19/6/1988.