Gương Thánh Trong Tuần – Thánh Conrad Parzham, Tu sĩ (1818-1894)

Thánh Conrad Parzham, Tu sĩ (1818-1894) – Kính ngày 20 tháng 4                                Suốt 41 năm, Conrad làm người gác cổng tu viện ở Altoetting, Bavaria, cho người nghèo vào nhà dòng và gián tiếp khuyến khích họ để Chúa bước vào cuộc đời họ. Cha mẹ ngài là Bartholomew (Batôlômêô) và Gertrude Birndorfer, sống gần Parzham, Bavaria. Thời đó, vùng này đang phục hồi sau chiến tranh Napolêôn (Napoleonic). Ngài ưa cầu nguyện riêng và kiến tạo hòa bình từ hồi còn thanh niên, rồi ngài vào dòng Phanxicô. Ngài tuyên khấn năm 1852 và được phái đến tu viện ở Altoetting. Nhà thờ thành phố này dâng kính Đức Maria rất nổi tiếng. Tại dòng Phanxicô gần đó có nhiều việc như giữ cổng hoặc khuân vác. Mới đầu, một số tu sĩ ghen tức với Conrad còn trẻ mà được làm việc quan trọng. Lòng kiên nhẫn và sự thánh thiện của ngài đã khiến họ hết nghi ngờ. Ngài luôn đối xử lịch sự như thánh Phanxicô mong muốn. Sự giúp đỡ của ngài đôi khi làm người khác khó chịu. Có lần linh mục Vincent muốn tĩnh lặng để soạn bài giảng nên lên tháp chuông nhà thờ để suy nghĩ. Có người chỉ muốn xưng tội với linh mục Vincent nên ngài đi tìm, và ngài bị linh mục này quở trách. Ngài rất được trẻ em trong vùng quý mến. Ngài hăng hái xúc tiến hội Bác ái Thiên thần (Seraphic Work of Charity) để giúp các trẻ em cơ nhỡ. Ngài dành nhiều giờ cầu nguyện trước Thánh Thể, ngài còn thường xuyên xin Đức Mẹ cầu bầu cho ngài và cho nhiều người khác. Ngài được phong thánh năm 1934.   (Theo Trầm Thiên Thu, dongcong.net)

Học Hỏi Sống Đạo – Chúa Nhật Thứ 3 Phục Sinh Năm B

Hỏi: “Cả cuộc đời Ðức Kitô là một Mầu nhiệm” nghĩa là gì? Đáp: Cả cuộc đời của Ðức Kitô là một sự kiện mạc khải. Ðiều có thể thấy được trong cuộc đời trần thế của Người dẫn chúng ta đến Mầu nhiệm vô hình, nhất là Mầu nhiệm Con Thiên Chúa của Người: “Ai thấy Tôi là thấy Chúa Cha” (Ga 14,9). Ðàng khác, mặc dù ơn cứu độ đã được hoàn thành trọn vẹn qua thập giá và cuộc phục sinh, nhưng trọn cuộc đời của Ðức Kitô là Mầu nhiệm cứu độ, vì tất cả những gì Chúa Giêsu đã làm, đã nói và đã chịu đau khổ đều có mục đích là để cứu độ loài người sa ngã và để tái lập ơn gọi làm con Thiên Chúa của chúng ta.  Hỏi: Tin Mừng về mầu nhiệm Giáng sinh và thời thơ ấu của Chúa Giêsu dạy chúng ta điều gì? Đáp: Vào lúc Giáng sinh, vinh quang thiên quốc được tỏ lộ trong sự yếu đuối của Hài Nhi. Việc cắt bì Chúa Giêsu đã lãnh nhận là dấu chỉ Người thuộc về dân Do Thái và tượng trưng cho Bí tích Rửa tội của chúng ta. Hiển Linh là việc Vua-Mêsia của Israel tỏ mình ra cho tất cả muôn dân. Lúc dâng Chúa vào trong Ðền Thờ, người ta nhận ra nơi ông Simeon và bà Anna sự chờ đợi của dân Israel, nay đến gặp gỡ Ðấng Cứu Ðộ của mình. Cuộc trốn sang Ai Cập và sự kiện tàn sát trẻ vô tội báo trước cả cuộc đời của Ðức Kitô sẽ chịu nhiều bách hại. Việc Người rời bỏ Ai Cập để trở về nhắc lại cuộc xuất hành và giới thiệu Ðức Kitô như ông Môsê mới: Người là Ðấng giải phóng đích thực và tối hậu.   (Trích Bản Toát Yếu Sách Giáo Lý của Hội Thánh Công Giáo, bản dịch của HĐGM Việt Nam, 2011)

Gương Thánh Trong Tuần – Thánh Stanislao, Giám Mục Tử Đạo (1030-1079)

Thánh Stanislao, Giám Mục tử Ðạo (1030-1079) – Kính ngày 11 tháng 4 Thánh Stanislao sinh ngày 26/7/1030 tại Cracovie trong một gia đình quý phái nước Ba Lan. Dù là người con độc nhất trong nhà, nhưng ngài chẳng ham mê của cải và chức quyền; từ thuở nhỏ, ngài đã tỏ ra là một thiếu niên giàu lòng bác ái. Khi tuổi hoa niên chớm nở, ngài đã nhận ra tiếng Chúa gọi làm tông đồ. Sau khi mãn triết và thần học, ngài chịu chức linh mục. Ðược giữ chức kinh sĩ, vị tân linh mục đã nổi tiếng là một người thánh thiện và tài đức ai ai cũng nghe tên. Trước những lời đồn thổi khen lao, ngài vẫn một lòng khiêm nhường và hăng say tận tụy với công việc. Ðể hoàn tất nhiệm vụ, ngài quyết sống nhiệt thành, bác ái và vâng lời. Ngài không hề xao nhãng việc nghiên cứu Thánh Kinh, tham khảo các giáo phụ và thần học. Khi Ðức Giám Mục địa phận từ trần, ngài được đề cử thay thế năm 1072. Ngài ăn chay đánh tội hằng ngày, đi thăm bệnh nhân và tổ chức bố thí cho người nghèo. Tuy dịu hiền và ác ái, nhưng ngài cương quyết cảnh cáo và khuyến dụ những người tội lỗi. Ngài mạnh dạn lên tiếng phản đối và tố cáo bạo vương Boleslas. Bị thúc đẩy bởi lòng tự ái mù quáng nên năm 1079, nhằm lúc thánh nhân đang dâng lễ, bạo vương xông lên bàn thờ chém đầu ngài. Bạo vương còn truyền phân thây ngài cho muông thú. Nhưng Chúa đã bảo vệ xác ngài, không để thú vật nào động đến. Trước sự lạ lùng đó, bạo vương đã ăn ăn trở lại và ngày tang lễ đã biến thành ngày vui. Ngài được phong Hiển Thánh ngày 17/9/1253 dưới triều Ðức Giáo Hoàng Innocentê IV. (Theo nhóm truyền giáo Châu Kiên Long, Đà Lạt)

Học Hỏi Sống Đạo – Chúa Nhật Thứ II Phục Sinh Năm B

Hỏi: Ðức Maria đã cộng tác vào kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa như thế nào? Đáp: Nhờ ân sủng của Thiên Chúa, Ðức Maria, suốt đời vẫn tinh tuyền không hề phạm một tội riêng nào. Mẹ là “Ðấng đầy ân phúc” (Lc 1,28), “Ðấng rất thánh.” Khi Thiên Thần báo tin rằng Mẹ sẽ sinh “Con Ðấng Tối cao” (Lc 1,32), Mẹ đã tự do chấp nhận trong “sự vâng phục của đức tin” (Rm 1,5). Ðức Maria tự hiến hoàn toàn cho con người và công trình của Chúa Giêsu, Con của Mẹ, và với trọn tâm hồn Mẹ chấp nhận ý định cứu độ của Thiên Chúa. Hỏi: Việc mang thai Chúa Giêsu một cách đồng trinh có ý nghĩa gì? Đáp: Ðiều này có nghĩa là Chúa Giêsu được thụ thai trong lòng Ðức Trinh Nữ chỉ do quyền năng của Chúa Thánh Thần mà thôi, không có sự can thiệp của người đàn ông. Người là Con Thiên Chúa trên trời theo thần tính, là Con của Ðức Maria theo nhân tính, nhưng thực sự là Con Thiên Chúa trong hai bản tính, cùng hiện diện trong một Ngôi vị duy nhất, là ngôi vị thần linh. Hỏi: Câu “Ðức Maria trọn đời đồng trinh” có ý nghĩa gì? Đáp: “Ðức Maria trọn đời đồng trinh” có nghĩa là Mẹ “vẫn còn đồng trinh khi thụ thai Con mình, đồng trinh khi sinh Con, đồng trinh khi bồng ẵm Người, đồng trinh khi cho Người bú mớm, là người mẹ đồng trinh, vĩnh viễn đồng trinh” (thánh Augustinô). Khi các Phúc Âm nói về “anh chị em của Chúa Giêsu,” thì đó là những người bà con họ hàng gần của Chúa Giêsu, theo như cách nói thông thường trong Thánh Kinh. Hỏi: Bằng cách nào tình mẫu tử thiêng liêng của Ðức Maria mang tính phổ quát? Đáp: Ðức Maria chỉ có một người Con duy nhất, là Chúa Giêsu, nhưng trong Người, tình mẫu tử thiêng liêng của Mẹ nới rộng cho hết mọi người đã được Chúa Giêsu cứu độ. Vâng phục bên cạnh Ađam mới là Ðức Giêsu Kitô, Ðức Trinh Nữ là bà Evà mới, bà mẹ đích thực của chúng sinh. Với tình yêu từ mẫu, Mẹ cộng tác vào việc sinh hạ và nuôi dưỡng họ trong trật tự ân sủng. Vừa là Trinh Nữ vừa là Mẹ, Ðức Maria là hình ảnh của Hội thánh, là sự thể hiện toàn hảo nhất của Hội thánh. (Trích Bản Toát Yếu Sách Giáo Lý của Hội Thánh Công Giáo, bản dịch của HĐGM Việt Nam, 2011)

Gương Thánh – Thánh Vinh Sơn Ferriê, Linh Mục Ða Minh (1350-1419)

Thánh Vinh Sơn Ferriê, Linh Mục Ða Minh (1350-1419) – Kính ngày 5 tháng 4 Thánh Vinh Sơn sinh tại thành Valence (Tây Ban Nha). Ngày từ bé đã có nhiều dấu lạ tỏ ra sau này sẽ là một vị đại thánh. Vinh Sơn rất chăm học và trí khôn rất sắc sảo, lại có tính tình hiền lành nên ai cũng đem lòng thương mến. Năm 18 tuổi, Vinh Sơn xin nhập dòng Ða Minh để dễ trở nên hoàn thiện hơn. Hết hạn nhà tập, ngài được gửi du học ở Barcelone. Ít lâu sau, ngài đậu bằng tiến sĩ thần học và được chọn làm giáo sư thần học tại Lêrida. Ngài có tài giảng thuyết thật lôi cuốn. Ngài được mời   sang giảng tại Pháp, Anh, Ý, Ecosse và Ái Nhĩ Lan. Ngài đặt chân đến đâu là có người trở lại đạo đến đó. Nguyên tại Tây Ban Nha, ngài đã đem về cho Chúa hơn 25 ngàn linh hồn Do Thái. Ðến đâu ngài cũng cố gắng tẩy trừ hết tàn tích tội lỗi, và gây một bầu không khí đạo đức, an hòa. Ngài cố gắng dạy dỗ, khuyến khích các tín hữu năng xưng tội, rước lễ và cầu nguyện. Ngài đối xử rất khoan hồng với tội nhân. Thánh nhân sống nghèo khó và am hợp với lời ngài giảng. Ðó là đặc điểm làm cho lời ngài có sức lôi cuốn thính giả. Thiên Chúa làm nhiều phép lạ để nâng đỡ lời nói của ngài. Ngài chú ý đặc biệt đến việc dạy giáo lý cho trẻ em và người ít học. Sau những ngày tận lực phụng sự Chúa và phục vụ các linh hồn, năm 1419, ngài ngã bệnh nặng và êm ái trút linh hồn sau khi đã nhận lãnh phép Toàn Xá của Ðức Giáo Hoàng và chịu lễ sốt sắng.

Học Hỏi Sống Đạo – Chúa Nhật Phục Sinh 2018

Hỏi: Ðức Kitô có một thân xác con người thật không? Đáp: Ðức Kitô đã đón nhận một thân xác thật sự của con người, qua đó Thiên Chúa vô hình đã trở nên hữu hình. Vì thế, Ðức Kitô có thể được trình bày và tôn kính qua các ảnh tượng thánh. Hỏi: Trái tim của Ðức Kitô nói lên điều gì? Đáp: Ðức Kitô biết và yêu thương chúng ta bằng một trái tim của con người. Trái tim của Người bị đâm thâu để cứu độ chúng ta, là biểu trưng cho tình yêu vô biên của Người đối với Chúa Cha và đối với tất cả mọi người. Hỏi: Câu “Bởi phép Ðức Chúa Thánh Thần mà Người xuống thai” có ý nghĩa gì? Đáp: Câu này muốn nói lên rằng Ðức Trinh Nữ Maria đã thụ thai trong lòng mình Người Con Vĩnh Cửu là bởi tác động của Chúa Thánh Thần chứ không có sự cộng tác của một người nam: “Thánh Thần sẽ ngự xuống trên Bà” (Lc 1,35), đó là lời thiên thần đã nói với Ðức Maria lúc Truyền tin.  Hỏi: “… sinh bởi Bà Maria Ðồng Trinh”: tại sao Ðức Maria thực sự là Mẹ Thiên Chúa? Đáp: Ðức Maria thật sự là Mẹ Thiên Chúa bởi vì là Mẹ của Chúa Giêsu (Ga 2,1; 19,25). Thật vậy, Ðấng mà Mẹ đã cưu mang bởi tác động của Chúa Thánh Thần và đã thực sự là con của Mẹ, chính là Con hằng hữu của Thiên Chúa Cha. Chính Người là Thiên Chúa. Hỏi: “Vô Nhiễm Nguyên Tội” nghĩa là gì? Đáp: Từ muôn thuở và một cách hoàn toàn nhưng không, Thiên Chúa đã chọn Ðức Maria làm Mẹ của Con mình. Ðể chu toàn sứ mạng này, Mẹ đã được ơn vô nhiễm ngay từ lúc được thụ thai. Ðiều này có nghĩa là, nhờ ân sủng của Thiên Chúa và đón nhận trước công nghiệp của Ðức Giêsu Kitô, Ðức Maria đã được gìn giữ khỏi tội nguyên tổ ngay từ lúc được thụ thai.   (Trích Bản Toát Yếu Sách Giáo Lý của Hội Thánh Công Giáo, bản dịch của HĐGM Việt Nam, 2011)

Học Hỏi Sống Đạo – Chúa Nhật Thứ IV Mùa Chay Năm B

Hỏi: Tước hiệu “Ðức Chúa” có ý nghĩa gì? Đáp: Trong Thánh Kinh, thường tước hiệu này để chỉ Thiên Chúa tối cao. Chúa Giêsu tự nhận cho mình tước hiệu này và mạc khải quyền tối thượng thần linh của Người qua quyền năng của Người trên thiên nhiên, trên ma quỉ, trên tội lỗi và trên cái chết, và nhất là qua cuộc phục sinh của Người. Những tuyên xưng đầu tiên của các người Kitô hữu công bố quyền năng, danh dự và vinh quang dành cho Thiên Chúa Cha cũng thuộc về Chúa Giêsu, Ðấng mà Thiên Chúa “đã ban tặng danh hiệu trổi vượt trên mọi danh hiệu” (Pl 2,9). Người là Ðức Chúa của trần gian và của lịch sử, là Ðấng duy nhất mà mọi người, với sự tự do của mình, phải hoàn toàn tùng phục.   Hỏi: Tại sao Con Thiên Chúa làm người? Đáp: Con Thiên Chúa đã nhập thể trong lòng Trinh Nữ Maria bởi phép Chúa Thánh Thần, vì loài người chúng ta và để cứu rỗi chúng ta, có nghĩa là để chúng ta, là những kẻ tội lỗi, được giao hòa với Thiên Chúa, để cho chúng ta biết được tình thương vô bờ bến của Ngài, để trở nên mẫu gương cho chúng ta về sự thánh thiện và để làm cho chúng ta trở thành những người “được thông phần bản tính Thiên Chúa (2Pr 1,4).   Hỏi: Hai tiếng “Nhập Thể” có nghĩa là gì? Đáp: Hội thánh dùng từ “Nhập Thể” để gọi mầu nhiệm của sự kết hợp tuyệt vời của thần tính và nhân tính trong Ngôi vị thần linh duy nhất của Ngôi Lời. Ðể thực hiện công cuộc cứu rỗi chúng ta, Con Thiên Chúa đã hóa thành “xác thể” (Ga 1,14), trở thành con người thật. Ðức tin vào mầu nhiệm Nhập thể là dấu chỉ phân biệt của niềm tin Kitô giáo.   Hỏi: Ðức Giêsu Kitô vừa là Thiên Chúa thật, vừa là người thật như thế nào? Thưa: Chúa Giêsu là Thiên Chúa thật và là người thật, không thể tách rời nhau trong sự duy nhất của Ngôi vị Thiên Chúa của Người. Chính Người là Con Thiên Chúa, là Ðấng “được sinh ra mà không phải được tạo thành, đồng bản thể với Ðức Chúa Cha”, Người thật sự trở thành con người, trở thành anh em của chúng ta, tuy không ngừng là Thiên Chúa, là Ðức Chúa của chúng ta.   (Trích Bản Toát Yếu Sách Giáo Lý của Hội Thánh Công Giáo, bản dịch của HĐGM Việt Nam, 2011)

Học Hỏi Sống Đạo – Chúa Nhật Thứ 3 Mùa Chay Năm B

Hỏi: Tin Mừng cho con người là gì? Đáp: Tin Mừng là lời loan báo về Ðức Giêsu Kitô, “Con Thiên Chúa hằng sống” (Mt 16,16), Ðấng đã chết và đã sống lại. Vào thời vua Hêrôđê và Hoàng Ðế Xêdarê Augustô, Thiên Chúa đã thực hiện những lời Ngài đã hứa với Ábraham và dòng dõi qua việc Ngài đã sai “Con Mình tới, sinh làm con một người nữ và sống dưới lề luật, để chuộc những ai sống dưới lề luật, hầu chúng ta nhận được ơn làm nghĩa tử” (Ga 4,4-5).   Hỏi Tin Mừng này được loan truyền như thế nào? Đáp: Ngay từ đầu, các môn đệ tiên khởi đã khao khát loan báo Ðức Giêsu Kitô, nhằm làm cho mọi người tin vào làm nẩy sinh nơi các tín hữu niềm khao khát rao giảng Tin Mừng và dạy giáo lý, nghĩa là giúp mọi người nhận thấy tất cả kế hoạch của Thiên Chúa trong con người Chúa Giêsu và dẫn đưa nhân loại đến hiệp thông với Người.   Hỏi: Chúa Giêsu là “Con Một Thiên Chúa” theo ý nghĩa nào? Đáp: Chúa Giêsu là “Con Một Thiên Chúa” theo một ý nghĩa duy nhất và trọn hảo. Vào lúc Người chịu phép rửa và trong cuộc Hiển Dung, tiếng của Chúa Cha cho thấy Chúa Giêsu là “Con yêu dấu” của Ngài. Khi Chúa Giêsu tự giới thiệu mình là Con, chỉ mình Người “biết Chúa Cha” (Mt 11,27), Người khẳng định mối tương quan duy nhất và vĩnh cửu của mình với Thiên Chúa là Cha của Người. “Người là Con duy nhất của Thiên Chúa” (1 Ga 4,9), là Ngôi Hai trong Ba Ngôi. Người là trung tâm của lời rao giảng của các thánh Tông đồ: các Tông đồ đã thấy “vinh quang của Người, vinh quang mà Chúa Cha ban cho Người, là Con Một” (Ga 1,14).     (Trích Bản Toát Yếu Sách Giáo Lý của Hội Thánh Công

Học Hỏi Sống Đạo – Chúa Nhật Thứ I Mùa Chay

Hỏi: Làm thế nào để hiểu được thực tại của tội lỗi? Đáp: Tội lỗi hiện diện trong lịch sử loài người. Một thực tại như thế chỉ được hiểu biết cách đầy đủ dưới ánh sáng Mạc khải của Thiên Chúa, và nhất là dưới ánh sáng của Ðức Kitô, Ðấng Cứu Ðộ mọi người, Ðấng tuôn đổ ân sủng thật sung mãn bất cứ nơi nào tràn đầy tội lỗi. Hỏi: Sự sa ngã của các thiên thần là gì? Đáp: Với cách diễn tả này, người ta muốn nói rằng Satan và các ma quỉ khác, được Thánh Kinh và Thánh truyền nói đến, vốn là các thiên thần tốt lành do Thiên Chúa dựng nên, nhưng đã trở thành ác xấu, bởi vì, qua việc chọn lựa tự do và dứt khoát, chúng từ chối Thiên Chúa và Vương quyền của Ngài và như thế làm phát sinh ra hỏa ngục. Chúng cố gắng lôi kéo con người vào cuộc nổi loạn chống lại Thiên Chúa; nhưng trong Ðức Kitô, Thiên Chúa xác nhận chiến thắng chắc chắn của Ngài trên Ác thần. Hỏi: Tội đầu tiên của con người cốt tại điều gì? Đáp: Con người, bị ma quỷ cám dỗ, đã dập tắt trong trái tim mình sự tin tưởng vào những liên hệ với Ðấng Sáng Tạo của mình.  Khi không tuân phục Thiên Chúa, con người muốn trở nên “như Thiên Chúa,” không nhìn nhận Thiên Chúa và không còn căn cứ vào Thiên Chúa nữa (St 3,5). Như thế, Ađam và Evà lập tức đánh mất ân sủng của sự thánh thiện và sự công chính nguyên thủy cho bản thân và tất cả con cháu họ. Hỏi: Thiên Chúa đã làm gì sau tội đầu tiên của con người? Đáp: Sau tội đầu tiên, thế gian đã bị tràn ngập tội lỗi, nhưng Thiên Chúa đã không bỏ rơi con người dưới quyền lực sự chết. Trái lại, Ngài đã tiên báo cách mầu nhiệm – trong “Tiền Tin Mừng” (x. St 3,15) – rằng sự dữ sẽ bị đánh bại và con người sẽ được nâng dậy khỏi sự sa ngã của họ. Ðó là lời tiên báo đầu tiên về Ðấng Mêsia cứu chuộc. Vì thế, chúng ta đã gọi sự sa ngã là “tội hồng phúc” (felix culpa), vì “nhờ có ngươi, ta mới có được Ðấng Cứu Chuộc cao cả dường này” Hỏi:Tin Mừng cho con người là gì? Đáp: Tin Mừng là lời loan báo về Ðức Giêsu Kitô, “Con Thiên Chúa hằng sống” (Mt 16,16), Ðấng đã chết và đã sống lại. Vào thời vua Hêrôđê và Hoàng Ðế Xêdarê Augustô, Thiên Chúa đã thực hiện những lời Ngài đã hứa với Ábraham và dòng dõi qua việc Ngài đã sai “Con Mình tới, sinh làm con một người nữ và sống dưới lề luật, để chuộc những ai sống dưới lề luật, hầu chúng ta nhận được ơn làm nghĩa tử” (Ga 4,4-5).  Hỏi:Tin Mừng này được loan truyền như thế nào? Đáp: Ngay từ đầu, các môn đệ tiên khởi đã khao khát loan báo Ðức Giêsu Kitô, nhằm làm cho mọi người tin vào Người. Ngày nay cũng thế, sự hiểu biết say mê Ðức Kitô làm nẩy sinh nơi các tín hữu niềm khao khát rao giảng Tin Mừng và dạy giáo lý, nghĩa là giúp mọi người nhận thấy tất cả kế hoạch của Thiên Chúa trong con người Chúa Giêsu và dẫn đưa nhân loại đến hiệp thông với Người. (Trích Bản Toát Yếu Sách Giáo Lý của Hội Thánh

Học Hỏi Sống Đạo – Chúa Nhật Thứ VI Thường Niên Năm B

Hỏi: Tại sao loài người tạo thành một sự thống nhất? Đáp: Tất cả mọi người tạo thành sự thống nhất của dòng giống loài người, vì họ có cùng một nguồn gốc, được lãnh nhận từ nơi Thiên Chúa. Hơn nữa, Thiên Chúa, “đã tạo thành toàn thể nhân loại từ một người duy nhất” (Cv 17,26). Tất cả đều có một Ðấng Cứu Ðộ duy nhất. Tất cả đều được mời gọi dự phần vào hạnh phúc vĩnh cửu của Thiên Chúa. Hỏi: Hỏi: Trong con người, linh hồn và thân xác tạo thành một sự thống nhất như thế nào? Đáp: Con người là một hữu thể vừa thể xác, lại vừa tinh thần. Trong con người, tinh thần và vật chất tạo thành một bản thể duy nhất… Sự thống nhất này rất sâu xa đến độ, nhờ nguyên lý tinh thần là linh hồn mà thể xác, vốn là vật chất, trở thành một thân xác con người sống động, và được dự phần vào phẩm giá “là hình ảnh của Thiên Chúa.”   Hỏi: Ai ban linh hồn cho con người? Đáp: Linh hồn thiêng liêng và bất tử không đến từ cha mẹ, nhưng được Thiên Chúa tạo dựng cách trực tiếp. Linh hồn lìa khỏi thân xác lúc người ta chết, nhưng linh hồn không chết. Linh hồn sẽ tái hợp với thân xác trong ngày sống lại sau hết.   Hỏi:Thiên Chúa đã thiết lập mối liên hệ nào giữa người nam và người nữ? Đáp: Người nam và người nữ được Thiên Chúa dựng nên với một phẩm giá ngang nhau là những nhân vị, và đồng thời họ bổ túc cho nhau trong tư cách là nam và nữ. Thiên Chúa đã muốn tạo dựng họ cho nhau, làm nên một sự hiệp thông các bản vị. Cả hai cùng được mời gọi truyền lại sự sống con người trong hôn nhân, khi cả hai trở nên “một xương một thịt” (St 2,24) và làm chủ trái đất như những “người quản lý” của Thiên Chúa.   Hỏi: Tình trạng nguyên thủy của con người theo kế hoạch của Thiên Chúa là gì? Đáp: Khi sáng tạo người nam và người nữ, Thiên Chúa đã cho họ tham dự cách đặc biệt vào đời sống thần linh của Ngài, trong sự thánh thiện và công chính. Trong kế hoạch của Thiên Chúa, con người sẽ không phải đau khổ, cũng không phải chết. Ngoài ra, có một sự hài hòa tuyệt hảo nơi chính con người, giữa thụ tạo với Ðấng Sáng tạo, giữa người nam với người nữ, cũng như giữa đôi vợ chồng đầu tiên với toàn thể thụ tạo.   (Trích Bản Toát Yếu Sách Giáo Lý của Hội Thánh Công Giáo, bản dịch của HĐGM Việt Nam, 2011)