Học Hỏi Sống Đạo – 01/10/2017

Hỏi: Tại sao phải lưu truyền Mạc khải của Thiên Chúa và lưu truyền bằng cách nào? Đáp: Thiên Chúa “muốn cho mọi người được cứu độ và nhận biết chân lý” (1 Tm 2,4), nghĩa là nhận biết Ðức Giêsu Kitô. Vì thế, phải rao giảng Ðức Kitô cho mọi người, như chính lời Người dạy: “Hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ” (Mt 28,19). Ðiều này đã được thực hiện bởi Truyền thống các Tông đồ, gọi tắt là Truyền thống tông đồ.   Hỏi: Truyền thống tông đồ là gì? Đáp: Truyền thống tông đồ là việc chuyển đạt sứ điệp của Ðức Kitô, đã được thực hiện ngay từ lúc khởi đầu Kitô giáo, qua việc rao giảng, làm chứng, các cơ chế, phụng tự, và các sách được linh ứng. Các Tông đồ đã chuyển đạt mọi điều các ngài đã lãnh nhận từ Ðức Kitô và học hỏi từ Chúa Thánh Thần cho những người kế nhiệm các ngài, là các giám mục, và qua họ, cho mọi thế hệ đến tận thế. Hỏi: Truyền thống tông đồ được thực hiện như thế nào? Đáp: Tông truyền được thực hiện bằng hai cách: qua việc chuyển đạt sống động Lời Chúa (được gọi cách đơn sơ là Thánh truyền) và qua Thánh Kinh, trong đó cùng một lời rao giảng ơn cứu độ được ghi lại thành chữ viết.   Hỏi: Tương quan giữa Thánh truyền và Thánh Kinh như thế nào? Đáp: Thánh truyền và Thánh Kinh liên kết và giao lưu mật thiết với nhau. Thật vậy, cả hai làm cho mầu nhiệm Ðức Kitô được hiện diện và sung mãn trong Hội thánh và cả hai cùng xuất phát từ một cội nguồn là Thiên Chúa. Cả hai làm nên một kho tàng đức tin duy nhất, nơi Hội thánh nhận được sự đảm bảo chắc chắn về tất cả những chân lý được mạc khải.   Hỏi: Kho tàng đức tin đã được ủy thác cho ai? Đáp: Từ thời các thánh Tông đồ, kho tàng đức tin đã được ủy thác cho toàn thể Hội thánh. Nhờ Chúa Thánh Thần hỗ trợ và nhờ Huấn quyền hướng dẫn, với cảm thức siêu nhiên của đức tin, toàn thể dân Chúa đón nhận Mạc khải của Thiên Chúa, hiểu biết mỗi ngày một sâu xa hơn, và cố gắng sống Mạc khải đó.   Hỏi: Ai có thẩm quyền để giải nghĩa kho tàng đức tin? Đáp: Chỉ có Huấn quyền sinh động của Hội thánh, nghĩa là vị kế nhiệm thánh Phêrô làm Giám mục Rôma và các Giám mục hiệp thông với ngài, mới có đủ thẩm quyền giải thích kho tàng đức tin. Huấn quyền, trong việc phục vụ Lời Chúa, được hưởng đặc sủng về chân lý, có trách nhiệm xác định các tín điều, nghĩa là những công thức trình bày các chân lý chứa đựng trong Mạc khải của Thiên Chúa; thẩm quyền này cũng áp dụng trên các chân lý có liên hệ thiết yếu với Mạc khải.   Hỏi: Hỏi: Ðâu là mối tương quan giữa Thánh truyền, Thánh Kinh và Huấn quyền? Đáp: Thánh Kinh, Thánh Truyền và Huấn quyền liên hệ chặt chẽ với nhau, đến độ thực thể này không hiện hữu nếu không có hai thực thể kia. Dưới tác động của cùng một Chúa Thánh Thần, cả ba góp phần cách hữu hiệu vào ơn cứu độ loài người, mỗi thực thể theo cách thức riêng của mình.   (Trích Bản Toát Yếu Sách Giáo Lý của Hội Thánh Công Giáo, bản dịch của HĐGM Việt Nam, 2011)

Thánh Hiêronimô, Linh Mục Tiến Sĩ Hội Thánh (340-420) – Kính ngày 30 tháng 9

Thánh Hiêronimô, Linh Mục Tiến Sĩ Hội Thánh (340-420) – Kính ngày 30 tháng 9 Thánh Hiêronimô sinh năm 340 tại Stridon miền Dalmatie thuộc Nam Tư. Ngài sang Rôma học và chịu phép Rửa Tội tại đây. Học xong chương trình, cụ thân sinh bắt ngài về làm việc cho triều đình tại Trêve, nhưng ngài tìm cách từ chối. Vì lòng mộ đạo, ngài đã rảo khắp Palestina và sau cùng ẩn mình trong sa mạc ở Syrie, chuyên nghiên cứu Thánh Kinh và chiêm ngắm phần phúc Thiên Ðàng. Sau khi rời sa mạc, ngài thụ phong linh mục tại Antiokia. Năm 382, ngài cùng Ðức Giám Mục Paulinô sang dự công đồng. Tại đây, ngài được nhiều người ái mộ. Ðức Giáo Hoàng Amasô đã chọn ngài làm bí thư và trao cho ngài việc nghiên cứu, phiên dịch Thánh Kinh sang La ngữ. Ngài không những thông thạo tiếng La Tinh, hy Lạp mà còn cả tiếng Do Thái và Chaldée nữa. Ngài sửa chữa các bản dịch theo nguyên bản Hy Lạp. Bản dịch La ngữ này vẫn còn dùng trong phụng vụ Giáo Hội. Ðó là bản Vulgata. Khoảng năm 420, quân Hung nô xâm chiếm Palestina, phá hủy nhà dòng của ngài tại Bêlem và ngài đã chết tại đây. Xác ngài được đem về Rôma và được đặt trong đại giáo đường Ðức Bà Cả. Ðức Bonifaciô VII suy tôn ngài lên bậc Tiến Sĩ Hội Thánh.                                                                                                                       (Theo nhóm truyền giáo Châu, Kiên, Long, Đà Lạt)

Thánh Cosma Và Ðamianô Tử Ðạo – Kính ngày 26 tháng 9

Thánh Cosma Và Ðamianô Tử Ðạo – Kính ngày 26 tháng 9 Thánh Cosma và Ðamianô là hai anh em sinh đôi vào khoảng thế kỷ III trong miền Egée thuộc Ả Rập. Hai anh em mồ côi cha từ thuở nhỏ, nhưng được người mẹ thật đạo đức giáo hóa. Lớn lên, cả hai đều theo học y khoa và trở nên những lương y tài giỏi, phương pháp của các ngài là vừa chữa trị vừa cầu nguyện. Mặc dù ngày đêm tận tình giúp đỡ các bệnh nhân, nhưng không bao giờ các ngài đã nhận một món tiền thù lao, vì thế danh tiếng và đạo đức các ngài đồn thổi khắp nơi. Thời đó cũng là lúc hoàng đế Ðiôclêtianô và Maximianô đang bách hại Giáo Hội, nên các ngài bị bắt và dẫn đến trước mặt quan Lydia. Các ngài đã không sợ sệt nhưng còn hiên ngang xưng mình là Kitô hữu. Lydia truyền đánh đòn các ngài rồi xích tay chân và quăng xuống biển, nhưng Chúa đã cứu sống các ngài. Tức giận, quan liền truyền đốt một đống lửa lớn và đẩy hai vị vào, nhưng lạ thay hai thánh vẫn bình tĩnh vừa đi dạo vừa cầu nguyện giữa đống lửa đang bừng bừng cháy. Chứng kiến phép lạ tỏ tường ấy, nhiều người đã được ơn trở lại. Sau cùng, Lydia ra lệnh cho quân lính đem hai ngài đi chém đầu, nhưng trước khi can đảm lãnh nhận cái chết, hai ngài đã ngước mắt cầu xin Chúa tha tội cho những kẻ đã hành hạ mình. Hôm ấy là ngày 26/9/297.

Học Hỏi Sống Đạo – 09/24/2017

Hỏi: Chúng ta có thể nói về Thiên Chúa thế nào? Đáp: Chúng ta có thể nói về Thiên Chúa cho tất cả mọi người, khởi đi từ những nét hoàn hảo của con người và của những thụ tạo khác, đó là một phản ánh, dù rất hạn hẹp, về sự hoàn hảo vô tận của Thiên Chúa. Tuy nhiên, chúng ta phải không ngừng thanh luyện ngôn ngữ của chúng ta vì nó bất toàn và bị lệ thuộc vào hình ảnh, phải ý thức rằng chúng ta không bao giờ có thể diễn tả đầy đủ mầu nhiệm vô tận của Thiên Chúa.   Hỏi: Thiên Chúa mạc khải cho con người điều gì? Đáp: Với lòng nhân hậu và sự khôn ngoan, Thiên Chúa tự mạc khải chính mình cho con người. Qua các hành động và lời nói, Thiên Chúa tự mạc khải chính Ngài cũng như ý định của lòng nhân hậu, mà sNgài đã hoạch định tự muôn đời trong Ðức Kitô. Ý định này nhằm đón nhận tất cả mọi người trở thành nghĩa tử trong Người Con duy nhất của Ngài nhờ ân sủng của Chúa Thánh Thần và cho họ tham dự vào sự sống của Thiên Chúa.   Hỏi: Những giai đoạn đầu tiên của Mạc khải là gì? Đáp: Từ nguyên thủy, Thiên Chúa tỏ mình ra cho nguyên tổ của chúng ta, là ông Ađam và bà Evà, và mời gọi họ bước vào sự hiệp thông mật thiết với Ngài. Sau khi họ sa ngã, Ngài đã không chấm dứt việc Mạc khải, nhưng đã hứa ban ơn cứu độ cho tất cả miêu duệ của họ. Sau cơn lụt đại hồng thủy, Ngài đã ký kết với ông Noe một Giao ước giữa Ngài với tất cả các sinh linh.   Hỏi: Những giai đoạn tiếp theo của Mạc khải của Thiên Chúa là gì? Đáp: Thiên Chúa chọn ông Abraham, khi gọi ông rời bỏ quê hương để làm cho ông trở thành “cha của vô số dân tộc” (St 17,5) và hứa qua ông sẽ chúc lành cho “mọi gia tộc trên mặt đất” (St 12,3). Con cháu của ông Abraham là những kẻ thừa hưởng các lời Thiên Chúa đã hứa với tổ phụ họ. Thiên Chúa đã lập Israel làm dân Ngài tuyển chọn, cứu thoát họ khỏi ách nô lệ Ai Cập, ký kết với họ Giao ước Sinai và, qua ông Môsê, Ngài ban cho họ Lề luật của Ngài. Các tiên tri đã loan báo một ơn cứu chuộc toàn diện cho dân Chúa cũng là ơn cứu độ dành cho tất cả mọi dân tộc, trong một Giao ước mới và vĩnh cửu. Chúa Giêsu, Ðấng Mêsia, đã được sinh ra từ dân Israel, và từ dòng dõi Vua Ðavít.   (Radio Veritas)

Diễn tiến lịch sử hình thành thánh lễ ra sao?

Hỏi: Diễn tiến lịch sử hình thành thánh lễ ra sao? (tiếp theo số báo 17246) Đáp: Vào thế kỷ XII, việc tôn sùng đối với sự hiện diện thực sự của Chúa Kitô nơi bánh thánh đưa đến việc trưng bày bánh thánh trên bàn thờ (Chầu Thánh Thể). Việc linh mục giơ cao bánh đã được truyền phép xuất phát từ việc các tín hữu ước mong được “nhìn” bánh thánh (khoảng từ năm 1200). Việc nâng cao chén thánh được thêm vào sau đó. Vào thế kỷ XIII và XIV, người ta thấy xuất hiện những cuộc kiệu rước Thánh Thể đầu tiên. Tín hữu “ngắm nhìn” Thánh Thể nhưng ít khi rước lễ. Phải chờ đến triều đại của Đức Giáo Hoàng Piô X, họ mới ý thức lại việc rước lễ “thường xuyên” (1905) và việc cho trẻ em rước lễ (1910). Trong thánh lễ, các tín hữu rất thụ động. Năm 1947, Đức Giáo Hoàng Piô XII công bố thông điệp “Mediator Dei” (Đấng trung gian của Thiên Chúa) nhằm canh tân phụng vụ dưới mọi phương diện, trong đó có việc mời gọi cộng đoàn đối đáp với linh mục chủ tế. Với Công Đồng Vaticanô II, người ta tìm lại được ý nghĩa sâu xa của thánh lễ, được tất cảù mọi người cùng cử hành dưới sự chủ tọa của linh mục, là bữa tiệc của Thiên Chúa và là nghi thức bẻ bánh. Cách đây không lâu, lòng tôn sùng Thánh Thể vẫn còn được xem như là việc đạo đức cá nhân, nay thì thánh lễ lại trở nên hành vi tạ ơn của toàn dân Chúa. (Trích sách “40 câu hỏi về thánh lễ của Lm. Giuse Vũ Thái Hòa)

Diễn tiến lịch sử hình thành thánh lễ ra sao?

Hỏi: Diễn tiến lịch sử hình thành thánh lễ ra sao? Đáp: Các Tông Đồ và giáo dân tiên khởi đã cử hành nghi thức “bẻ bánh” (danh từ các tín hữu thời ấy dùng để nói đến thánh lễ): “Hằng ngày, họ đồng tâm nhất trí chuyên cần lui tới Đền Thờ, bẻ bánh ở tư gia và ăn uống đơn sơ, vui vẻ” (Công Vụ Tông Đồ 2, 46). Họ dùng bữa, với nghi thức “bẻ bánh”, nay ở nhà người này, mai tại nhà người kia. Cộng đoàn thời ấy được xem như là một “đền thờ sống động”.  Rất sớm, người ta đã thêm vào trong bữa ăn này những bài thánh ca, kinh nguyện và những bài đọc Kinh Thánh. Chỉ từ thế kỷ thứ IV, người ta mới nói đến “Lễ Misa” (xem chữ này ở phần cuối : Giải thích một số từ phụng vụ). Vào thời ấy, sau khi hoàng đế Constantinô trở lại đạo công giáo, người ta thấy xuất hiện những cộng đoàn đông đảo Kitô hữu. Các nghi lễ phụng vụ chịu ảnh hưởng các nghi thức và lễ hội của người Rôma. Y phục được dùng trong các buổi lễ thời đó là nguồn gốc của tu phục, áo lễ giáo sĩ mà bạn thấy hiện nay. Dần dần, người ta không còn ý thức về ý nghĩa của cộng đoàn và của bữa ăn mà trong đó Chúa Kitô chính là lương thực nuôi sống nhân loại. Người ta rước lễ ít hơn. Vài thế kỷ sau đó thì mai một thêm ý thức về bữa ăn và về tâm tình tham dự vào hy lễ. Thánh lễ trở thành một buổi trình diễn có tính cách thánh thiêng. Vào thế kỷ XII… (Kính mời đón đọc ở số tiếp theo)

Bổng lễ (tiền xin lễ) để làm gì ?

Hỏi: Bổng lễ (tiền xin lễ) để làm gì ? Đáp: Tất cả mọi thánh lễ được cử hành đều dành cho toàn thế giới, như Chúa Giêsu đã phán: “Mình Thầy bị phó nộp vì các con. Máu Thầy đổ ra để nhiều người được tha tội” (Lc 22, 19-20 và Mt 26, 26-28). Vì thế trong thánh lễ, Giáo hội cầu nguyện cho hết mọi người: hàng giáo sĩ, tu sĩ, giáo dân cũng như cho những người đã qua đời. Tuy nhiên, vị chủ tế vẫn có thể kết hợp các ý nguyện chung này với một ý cầu nguyện riêng của tín hữu.   Thánh lễ vô giá. Nhưng ngay từ thời Giáo hội sơ khai, các tín hữu đã muốn chứng tỏ rằng việc tham dự thánh lễ bao gồm toàn vẹn bản thân, cũng như chính Chúa Kitô đã trao hiến trọn vẹn thân Người. Vì thế họ đã đem đến dâng hoặc bằng hiện vật (bánh, rượu, đèn nến…), khởi đầu cho việc kiệu rước lễ vật trong thánh lễ, hoặc bằng tiền để trang trải những chi phí phụng tự, giúp cho linh mục có điều kiện sinh sống, trang trải các hoạt động của Giáo hội. Đó là ý nghĩa lễ vật của họ khi họ ủy thác cho vị linh mục một ý chỉ nào đó.   Từ đó phát sinh “tiền xin lễ” khá phổ biến kể từ thế kỷ thứ XII. Các tòa giám mục tùy ý ấn định giá bổng lễ nhưng phải hợp với khả năng của mọi người. Vì lo rằng việc xin lễ có thể phát sinh những hình thức thương mại, nên nhiều người chủ trương dẹp bỏ thói quen này. Nhưng các hoạt động của Giáo hội cũng như của hàng giáo sĩ đều dựa vào những đóng góp tự nguyện của giáo dân, trong đó có việc dâng bổng lễ. Vì thế trong thực tế, thật khó mà xem thường phần đóng góp qúy báu này của giáo dân.     (Trích từ tập sách “40 CÂU HỎI VỀ THÁNH LỄ” của Lm. Giuse Vũ Thái Hòa)

Học Hỏi Sống Đạo

Hỏi: Cử hành thánh lễ với loại rượu nho nào? Đáp:  Qui luật duy nhất là dâng thánh lễ với rượu nho tự nhiên và nguyên chất, nghĩa là không pha trộn với chất nào khác.  Tại nhiều xứ không trồng nho được, người ta sử dụng rượu nho tự nhiên có nồng độ hơi cao một tí, như rượu Porto chẳng hạn, để có thể giữ được lâu. Trước thế kỷ thứ XVI, người ta thường dùng rượu nho đỏ (hiện nay, phụng vụ theo truyền thống Byzance, bên Đông Phương, vẫn còn duy trì tập tục này). Vào thế kỷ thứ XVI tại Tây Phương, khi người ta bắt đầu dùng khăn lau để tráng chén lễ, người ta thích dùng rượu nho trắng hơn để dâng lễ vì ít để vết. Hỏi: Tại sao chủ tế đổ ít nước vào rượu? Đáp:  Ngày xưa, tại các xứ vùng biển Địa Trung Hải, người ta có thói quen pha một chút nước vào rượu (thường là rượu nặng và gắt).  Vào bữa Tiệc Ly (bữa ăn cuối của Chúa Giêsu với các môn đệ trước khi chịu tử nạn) phải chăng Chúa Giêsu đã pha chút nước vào rượu nho? Có thể như vậy, tuy không có một tài liệu nào xác quyết việc này cả. Nhưng từ thế kỷ thứ II, người ta có thể xác định chắc chắn có việc pha nước vào rượu trong thánh lễ. Nghi thức này có ý nghĩa rất hay: đó là dấu chỉ mối liên quan chặt chẽ giữa thần tính và nhân tính trong Chúa Kitô; đồng thời, là dấu chỉ sự liên kết chặt chẽ của Chúa Kitô (rượu nho) với Giáo hội (tượng trưng bởi nước) làm thành lễ dâng trong trong thánh lễ. Chúa Kitô không tự hiến tế một mình, nhưng liên kết với Giáo hội của Người. Ý nghĩa phong phú của các biểu tượng này được thể hiện trong lời cầu nguyện của vị chủ tế khi pha chút nước vào rượu nho: “Nhờ dấu chỉ nước hòa rượu này, xin cho chúng con được tham dự vào thần tính của Đấng đã đoái thương thông phần nhân tính của chúng con”. (Trích từ tập sách “40 CÂU HỎI VỀ THÁNH LỄ” của Lm. Giuse Vũ Thái Hòa)

Học Hỏi Sống Đạo (20-08-2017)

Hỏi: Tại sao các tín hữu không tự đến lấy bánh thánh? Đáp: Các tín hữu không tự động đến lấy bánh thánh, mà nhận bánh thánh từ tay linh mục, phó tế hay từ một thừa tác viên. Ở bữa Tiệc Ly cũng vậy. Chính Chúa Giêsu đã trao ban bánh và rượu cho các môn đệ của mình. Thánh Thể là ân huệ được ban tặng cho chúng ta. Chúng ta không tự mình cầm lấy được, nhưng đón nhận từ một người khác. Tự mình nhận lấy bánh thánh và rượu thánh có thể sẽ dẫn đến sự hiểu lầm cho rằng chúng ta có quyền nào đó trên các tặng phẩm cao quí này. Không phải thế. Thánh Thể là hồng ân của Chúa, không ai có quyền hoặc có thể chiếm đoạt lấy cho mình. Chỉ có Chúa Kitô ban hồng ân theo ý Người và theo lòng nhân từ của Người. Ai đón nhận bánh thánh là đón nhận ơn cứu độ, vì người ấy đón nhận chính Đấng Cứu Thế là Đấng hiện diện dưới hình bánh. Hỏi: Tại sao chúng ta ít khi được rước cả Mình Thánh và Máu Thánh Chúa? Đáp:  Giáo hội khuyến khích việc chịu lễ Mình và Máu Thánh Chúa, vì hoàn toàn phù hợp với lời mời của Chúa Giêsu: “Hãy cầm lấy mà ăn”, “Hãy cầm lấy mà uống”. Nhưng khi có nhiều người tham dự thánh lễ, việc cho rước lễ dưới hai hình bánh và rượu gặp nhiều khó khăn cụ thể. Đó là lý do giải thích tại sao hiếm khi chúng ta được rước lễ dưới hai hình thức. Mong rằng trong các dịp lễ trọng, và khi có nhiều thừa tác viên cho rước lễ, giáo dân được rước cả Mình và Máu Thánh Chúa. Điều quan trọng cần nhấn mạnh ở đây, là khi chúng ta chỉ rước Mình Thánh Chúa hoặc chỉ rước Máu Thánh Chúa, chúng ta đều rước Chúa Giêsu Kitô trọn vẹn. Người hiện diện thật sự và trọn vẹn ngay chỉ dưới một hình thức (Sắc lệnh của Công Đồng Trentô (hoặc Triđentinô), khóa họp 13, năm 1551). (Trích từ tập sách “40 CÂU HỎI VỀ THÁNH LỄ” của Lm. Giuse Vũ Thái Hòa)