Một vài chi tiết liên quan đến việc tôn phong Hiển Thánh trong Giáo Hội

Một vài chi tiết liên quan đến việc tôn phong Hiển Thánh trong Giáo Hội LTS: Nhân dịp Cộng Đồng Công Giáo Việt Nam – Tổng Giáo Phận Los Angeles mừng Đại lễ Các Thánh Tử Đạo Việt Nam, chúng tôi xin trích đăng bài viết của nhóm truyền giáo Việt Nam được đăng trên vntaiwan.catholic.org, để cùng tìm hiểu về tiến trình phong thánh của Giáo Hội Công Giáo.  Thể thức tổng quát: Theo thứ tự thời gian, việc đầu tiên là Hội Dòng hay Giám Mục Giáo Phận, hay hàng Giám Mục thuộc quốc gia liên hệ đệ đơn, với hồ sơ đính kèm, trình bày về một nhân vật nào trong hàng giáo sĩ, tu sĩ hay giáo dân nổi danh về đời sống hành đạo, để xin Tòa Thánh cứu xét và, nếu xứng đáng, nêu cao nhân vật đó làm gương trong sáng cho toàn dân soi chung, nghĩa là đưa lên danh dự bàn thờ làm mô phạm cho mọi người tôn kính. Nhân vật đó lần lượt được ghi vào danh sách những bậc sau đây: Bậc Tôi Tớ Chúa (Servus Dei): Từ khi hồ sơ được Tòa Thánh chấp nhận. Tập hồ sơ này sẽ tiếp tục được nghiên cứu, trong thời gian lâu dài hay mau chóng, tuỳ Giáo hội địa phương, hay các Dòng tu, có khả năng cung cấp tài liệu sẽ được đòi hỏi, nhất là được những tài liệu chắc chắn minh chứng đời sống nhân vật đề cử đó có tầm quan trọng, đích đáng đặc biệt. Bậc Ðáng Kính (Venerabilis): Nếu đời sống vị Tôi Tớ Chúa quả thật xuất chúng, nghĩa là, theo các chứng nhân tham khảo bằng giấy tờ, đã thực sự tận hiến cho Chúa, hay đã phục vụ tha nhân với mức cao độ: thí dụ chết thay cho người khác, hy sinh xả kỷ trong bệnh viện, trại phong cùi, sống thánh thiện khó nghèo, chịu tử đạo… lúc đó Tòa Thánh sẽ công nhận tính cách anh hùng các nhân đức của Ngài, và ghi nhận vào sổ các Bậc Ðáng Kính. Bậc Chân Phước (Beatus): Tức là khi vị Ðáng Kính được nâng lên, xứng đáng danh dự tôn kính trên bàn thờ một cách công khai. Theo truyền thống của Giáo hội, từ Bậc Ðáng Kính sang Bậc Chân Phước, thường ra phải chờ đợi chừng 50 năm, nhất là phải minh chứng bằng hai phép lạ. Thời gian 50 năm có thể rút ngắn lại, tuy nhiên điều kiện hai phép lạ thế nào cũng phải có, nhất là khi những vị Ðáng Kính không phải Tử Ðạo. Các phép lạ nói đây thường là những phép lạ chữa những bệnh tật nguy hiểm, trầm trọng, lâu dài, và cứu chữa một cách tức tốc, ngoài sự dự trù của con người. Ðể tuyên bố phép lạ chính xác hay không, phải qua nhiều phen khám nghiệm và điều tra của Ủy Ban Bác Sĩ được Tòa Thánh chấp nhận. Bậc Hiển Thánh (Sanctus): Từ bậc Chân Phước lên bậc Hiển Thánh cũng cần một thời gian (vài chục năm) và, thêm vào đấy, phải cần một phép lạ khác nữa. Giáo hội đi trong thời gian, do đó bao giờ cũng đòi hỏi những bằng chứng thật vững chắc, là vì việc tôn phong Hiển Thánh, được toàn dân xác nhận, là một việc tôn thờ Thiên Chúa thật cao cả, và tôn kính các bậc Thánh Nhân là một hành động chính đáng. Khi nào các tập hồ sơ hoàn tất và được các Ủy Ban kiểm tra, theo giáo luật, phê chuẩn, Linh mục Cáo Thỉnh viên đệ lên Ðức Thánh Cha, qua Bộ Phong Thánh, kèm theo một thỉnh nguyện thư xin Ngài chiếu cố duyệt y, và cho lệnh chuẩn bị buổi họp Cơ Mật Viện (Consistoire), tức là cuộc họp trên dưới (chừng 60 tới 100) vị Hồng Y, Tổng Giám Mục thuộc các Cơ Quan guồng máy Trung Ương Tòa Thánh, một số Luật Sư, Thẩm Phán trong các Tòa án liên hệ đến việc phong Thánh, một số Cáo Thỉnh viên… Cơ mật viện do Ðức Giáo Hoàng chủ tọa. Ðức Hồng Y Tổng Trưởng Bộ Phong Thánh xin Ngài duyệt lại một lần sau cùng tất cả những hồ sơ đã đệ lên và đã được nghiên cứu. Ðức Giáo Hoàng sẽ công khai yêu cầu các vị có thẩm quyền được mời tới bỏ phiếu chấp nhận và sau đó, theo đề nghị trong Thỉnh Nguyện thư, Ngài sẽ công bố ngày phong Thánh cho những nhân vật đã được tuyển chọn.

Nguồn gốc lễ cầu hồn và tháng các linh hồn

Nguồn gốc lễ cầu hồn và tháng các linh hồn  (Tiếp theo số báo 17254) – Số 1030: Cần có Luyện ngục: “Những ai chết trong ân sủng và ân nghĩa của Thiên Chúa, nhưng chưa được thanh tẩy cách trọn vẹn, thì tuy được bảo đảm về ơn cứu độ muôn đời của mình, vẫn phải chịu một sự thanh luyện sau khi chết, hòng đạt được sự thánh thiện cần thiết để bước vào niềm vui thiên đàng. – Số 1031: Luyện ngục để thanh tẩy: “Giáo Hội gọi là luyện ngục là sự thanh luyện sau cùng này của các người được chọn, hoàn toàn khác với hình phạt của những kẻ bị án phạt. Giáo Hội đã trình bày giáo lý của đức tin về Luyện ngục, nhất là tại các Công đồng Florentia (xem DS 1304) và Trentô (xem DS 1820; 1580). Dựa vào một số bản văn của Thánh Kinh (Chẳng hạn 1 Cr 3,15; 1 Pr 1,7), Truyền thống của Giáo Hội nói đến một thứ lửa thanh luyện:”Đối với một số những lỗi lầm nhẹ, ta phải tin có một thứ lửa thanh tẩy trước ngày Phán xét, theo như những gì mà Đấng là Chân lý đã dạy khi Ngài nói rằng nếu ai nói lời phạm thánh chống lại Chúa Thánh Thần, thì sẽ không được tha cả đời này lẫn ở đời sau” (Mt 12,31). Theo lời quyết đoán này, chúng ta có thể hiểu rằng một số lỗi lầm có thể được tha ở đời này, nhưng một số lỗi khác thì được tha ở đời sau” (Th. Gregoriô Cả, Dial. 4,39). – Số 1032: Người sống cứu người chết: “Giáo huấn này cũng dựa vào cách cầu nguyện cho kẻ chết, như được nói đến trong Thánh Kinh: “Đó là lý do tại sao ông Giuđa Macabê đã truyền phải dâng hy lễ đền tội này cho các người đã chết, để họ được giải thoát khỏi tội lỗi của mình” (2 Mcb 12,46). Ngay từ những thời gian đầu, Giáo Hội đã tôn kính việc tưởng niệm các người đã qua đời, và dâng kinh lễ để cầu cho họ, nhất là dâng Thánh lễ( xem DS 856), để họ được thanh tẩy và tiến vào nơi chiêm ngưỡng Thiên Chúa. Giáo Hội cũng khuyên làm việc bố thí, hưởng các ân xá và thi hành những việc đền tạ để giúp các người đã qua đời: Chúng ta hãy cứu giúp họ và hãy tưởng nhớ họ. Nếu các con ông Gióp đã được thanh tẩy nhờ lễ hy sinh của cha họ( xem G 1,5), tại sao chúng ta lại có thể hoài nghi rằng những của lễ của chúng ta dâng cầu cho người chết sẽ không mang lại ủi an cho họ? Vậy chúng ta đừng ngần ngại cứu giúp những người đã ra đi, và dâng những kinh nguyện cầu cho họ (Th. Gioan Kim khẩu, Hom. in 1 Cr 41,5). Giáo lí Công giáo do Đức Thánh cha Gioan Phaolo 2 ban hành năm 1992 có 3 số như sau: Ngày 10 tháng 8 năm 1915, Trong một Tông hiến, Tòa thánh cho các linh mục được dâng 3 lễ vào ngày lễ Cầu hồn: 1 cầu như ý người xin, được lấy bổng lễ, 1 cầu theo ý ĐTC (không bổng) và 1 cầu cho các linh hồn (không bổng). Giáo hội cũng xác định dành trọn tháng 11 dành để cầu cho các linh hồn Luyện ngục. Ngày 1 tháng 11 năm 1967, ĐTC Phaolô 6, trong Tông huấn Ân xá đã ban một đại xá với điều kiện thường lệ (xưng tội, rước lễ, cầu theo ý ĐGH) cho những ai “viếng nhà thờ vào Chúa nhật trước hoặc sau, hoặc chính lễ Các Thánh (số 67), và những ai viếng nghĩa địa trong 8 ngày đầu tháng 11 để cầu cho các linh hồn (số 13). (Theo giaophanmytho.net)

Nguồn gốc lễ cầu hồn và tháng các linh hồn

Nguồn gốc lễ cầu hồn và tháng các linh hồn  Theo sách vở ghi lại, lễ cầu hồn được cử hành lần đầu tiên do thánh Odilo, viện phụ đan viện Cluny. Odilo, 962 – 1048, là một đan sĩ thánh thiện, thường cầu nguyện, hi sinh, và dâng lễ cầu cho các linh hồn đã qua đời. Truyện kể rằng: Ngày nọ, một đan sĩ đi viếng đất thánh Giêrusalem. Trên đường trở về đan viện Cluny. Tàu chở đan sĩ bị bão đánh giạt vào một hòn đảo. Tại đó, đan sĩ gặp một ẩn sĩ và được ẩn sĩ cho biết: “Trên đảo này có nhiều hang lửa, trong hang có nhiều người bị hành hạ, đánh đập. Tôi thường nghe các tên quỷ phàn nàn với nhau về viện phụ Odilo và các đan sĩ trong dòng của ngài rằng: ngày nào họ cũng giải thoát một số linh hồn ra khỏi hang lửa đó. Vì thế, xin thầy về nói với cha Odilo và các anh em trong dòng cứ tiếp tục cứu giúp các linh hồn đau khổ. Đó cũng là niềm vui cho các thánh trên Thiên đàng và là sự đau khổ cho quỷ dữ dưới Hỏa ngục”. Sau khi nghe biết sự việc này, cha Odilo đã lập lễ cầu hồn vào ngày 2 tháng 11 và trước hết cử hành trong đan viện Cluny của ngài vào năm 998 (có dị bản ghi năm 1030). Về sau lễ cầu hồn đã được truyền sang nuớc Pháp, và tới giữa thế kỉ 10, Đức Giáo hoàng Gioan 14 đã lập lễ cầu hồn trong Giáo hội Rôma. Từ thời đó, nhiều nơi đã có thói quen cầu nguyện tuần chín ngày cho các linh hồn, họ đi thăm viếng, sửa mồ mả cha ông. Vào buổi chiều lễ Các Thánh, có những người đi từng nhà xin quà cho các linh hồn, họ hát những bài ca cổ truyền cổ động cầu cho các linh hồn mau ra khỏi Luyện ngục. Tại Hungary, người ta gọi ngày 2.11 là “Ngày người chết”. Ngày đó, người ta có thói quen tụ họp các trẻ mồ côi tới gia đình họ rồi cho chúng ăn, cho quần áo, cho quà bánh, đồ chơi. Tại miền quê Poland, người ta kể: nửa đêm lễ cầu hồn, người ta thắp sáng nhà thờ giáo xứ, để các linh hồn trong xứ đã qua đời về quanh bàn thờ cầu ơn giải thoát khỏi luyện ngục. Người ta nói là, sau đó trở lại thăm lại nhà mình, thăm nơi mình quen thuộc, làm việc mình đã làm khi còn sống. Và để đón tiếp những linh hồn này, người ta để cửa sổ mở suốt đêm mùng 2. Tại Việt Nam, nhất là miền Bắc, trước Công đồng Vaticanô II, người ta thường sửa mồ mả cha ông vào dịp Tết Nguyên Đán đầu năm Âm lịch, tính theo mặt trăng; còn ngày lễ cầu hồn, người ta đi viếng các nhà thờ chung quanh suốt ngày lễ Các Thánh để lãnh ân xá chỉ cho các linh hồn đã qua đời. Cảnh người lớn trẻ em tấp nập ra vào rất vui vẻ. Người ta dự lễ và xin lễ rất nhiều để cầu cho tổ tiên, ông bà, cha mẹ sớm về hưởng phước Thiên đàng. Thương nhớ người quá cố, nhất là cha mẹ, anh chị em trong gia đình là chuyện tự nhiên của con người. Mong cho người thân mình được “nghỉ yên muôn đời trong nơi mát mẻ hạnh phúc” cũng là tâm lí thông thường. Do đó việc cầu cho người thân đã qua đời là việc cần thiết, vừa cho linh hồn người chết được cứu thoát khỏi Luyện ngục, vừa cho người sống được tỏ lòng hiếu thảo đền ơn. Những điều trên không những hợp lòng người, mà còn hợp giáo lý trong đạo. Giáo lý Công giáo do Đức Thánh Cha Gioan Phaolo II ban hành năm 1992 có 3 số như sau: (Mời đọc tiếp ở số báo kỳ tới)   (Theo giaophanmytho.net)

Vấn Đề Hiệp Thông Giữa Công Giáo, Tin Lành, và Chính Thống Giáo

Hỏi: 1) Tại sao người Công Giáo không được tham dự nghi thức bẻ bánh và uống rượu nho với anh em Tin lành?  2) Tại sao và trong trường hợp nào người Công giáo được lãnh các bí tích trong Giáo hội Chính Thống Giáo?  Đáp: 1) Trước hết, anh em Tin lành, nói chung, chỉ dựa vào Kinh Thánh làm nền tảng cho niềm tin và sứ vụ của họ. Nghĩa là họ chỉ nhận và tin có Kinh Thánh (Sola Scriptura) mà thôi, trong khi Giáo Hội Công Giáo, -ngoài Kinh Thánh – còn có thêm kho tàng Mặc khải (revelatio) và Thánh Truyền (Traditio) như những nguồn suối khác thông truyền đức tin và chân lý. Chính vì chỉ dựa vào Kinh Thánh và hiểu Kinh Thánh theo cách cắt nghĩa riêng của họ, nên anh em Tin lành khác biệt Công Giáo về những điểm chính yếu sau đây: Không tin có chức linh mục (priesthood) được Chúa Kitô thiết lập trong Bữa tiệc ly cùng với bí tích Thánh Thể như Giáo Hội Công Giáo và Chính Thống Giáo tin. Không tin Đức Mẹ trọn đời đồng trinh vì căn cứ vào các trình thuật trong Mt 12:46-50; Mc 3:31-35; Lc 8:11-15 kể lại việc Đức Mẹ và một vài “anh em Chúa Giêsu đến gặp Người”. Giáo Hội Công Giáo và Chính Thống hiểu cụm từ “anh em” ở đây theo nghĩa thiêng liêng, trong khi người Tin lành hiểu theo nghĩa huyết tộc. Vì thế, họ tin là sau khi sinh Chúa Giêsu với quyền năng Chúa Thánh Thần, Đức Mẹ còn sinh thêm một vài người con khác, cho nên Đức Mẹ chỉ đồng trinh cho đến khi sinh Chúa Giêsu mà thôi. Không công nhận Đức Giáo Hoàng là Thủ lãnh Giáo Hội, người kế vị Thánh Phêrô. Theo tín lý của Giáo Hội Công Giáo thì chức linh mục được Chúa Kitô lập ra để phục vụ cho bí tích Thánh Thể, căn cứ vào lời Chúa trong Bữa tiệc ly: “Anh em hãy làm vịệc này mà tưởng nhớ đến Thầy.” (1 Cor 11: 24-25) Nghĩa là phải có chức linh mục thì mới có bí tích thánh thể để biến bánh và rượu nho thành Mình và Máu Chúa Kitô trong Thánh Lễ Tạ ơn (Eucharist) làm sống lại không những bữa ăn cuối cùng của Chúa Giêsu với 12 Tông Đồ mà đặc biệt là Hy tế đền tội của Người dâng lên Chúa Cha trên thập giá để xin ơn cứu chuộc cho toàn thể nhân loại. Đây là niềm tin của Giáo Hội Công Giáo và Chính Thống Giáo Đông Phương (Eastern Orthodox Churches) Anh em Tin lành, ngược lại, không chia sẻ niềm tin này, nghĩa là họ không nhìn nhận Chúa Giêsu đã lập chức linh mục và bí tích Thánh Thể trong Bữa tiệc sau cùng. Vì thế việc họ hội họp và bẻ bánh, uống rượu không phải là việc cử hành Bữa ăn và Hy tế của Chúa Kitô mà chỉ để làm lại những gì họ đọc và hiểu các trình thuật trong Kinh Thánh Tân Ước về bữa ăn này mà thôi. Do đó, người công giáo, nếu vì xã giao phải tham dự một nghi thức nào của anh em tin lành, thì không được tham gia vào việc bẻ bánh và uống rượu này; vì trước hết, đây không phải là Mình và Máu Chúa Kitô. Sau nữa, làm như vậy có nghĩa là chia sẻ niềm tin của họ về việc không tin có chức linh mục và bí tích thánh thể. Nói khác đi, vì anh em tin lành không tin có chức linh mục, nên họ không thể có bí tích Thánh Thể gắn liền với chức Linh Mục mà Chúa Giêsu đã thiết lập trong bữa tiệc ly, và truyền cho các Tông Đồ và những người thừa kế hãy “Làm việc này mà tưởng nhớ đến Thầy”, như Giáo Hội Công Giáo tin mỗi khi cử hành Thánh lễ Tạ Ơn. Đây là điểm khác biệt lớn lao giữa Công Giáo và Tin lành về việc cử hành Bữa ăn của Chúa Giêsu. 2) Cũng liên quan đến vấn đề trên, thì giữa Giáo Hội Công Giáo và anh em Chính thống Đông Phương lại không có sự khác biệt nào về niềm tin, về nguồn gốc tông đồ và về các bí tích của Giáo Hội. Nghĩa là, Giáo Hội Công Giáo nhìn nhận anh em Chính Thống có chung một nguồn gốc Tông Đồ và có các bí tích hữu hiệu như Công Giáo. Chỉ khác một vài điểm không liên quan đến tín lý và thần học là họ không công nhận vai trò lãnh đạo Giáo Hội của Đức Giáo Hoàng và không buộc các linh mục phải giữ luật độc thân (celibacy) như Công Giáo. Tóm lại, chỉ có các Giáo Hội Chính Thống Đông Phương là gần gũi Giáo Hội Công Giáo về thần học, bí tích và phụng vụ mà thôi. Đó là lý do vì sao Giáo Hội cho phép giáo dân được tham dự phụng vụ và lãnh các bí tích trong Giáo Hội Chính Thống, nhưng chỉ trong những trường hợp đặc biệt nói trên mà thôi.   (Theo Lm. Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn, cdmedongcong.net)

Học Hỏi Sống Đạo – Chúa Nhật 30 Thường Niên

Hỏi: Chúa Giêsu dạy chúng ta cầu nguyện như thế nào?  Đáp: Chúa Giêsu dạy chúng ta cầu nguyện không những với lời kinh Lạy Cha, nhưng còn dạy chúng ta cầu nguyện ngay cả lúc Người cầu nguyện. Với cách thức này, Người cho chúng ta thấy, bên cạnh nội dung của lời cầu nguyện, còn có những thái độ cần thiết cho việc cầu nguyện đích thực: tâm hồn thanh sạch đang tìm kiếm Nước Trời và sẵn sàng tha thứ cho kẻ thù của mình; sự tin tưởng mạnh mẽ, đầy tình con thảo, vượt quá những gì chúng ta có thể cảm nghiệm và thấu hiểu; sự tỉnh thức giúp người môn đệ tránh được cơn cám dỗ. Hỏi: Hỏi: Tại sao lời cầu nguyện của chúng ta mang lại hiệu quả? Đáp: Lời cầu nguyện của chúng ta mang lại hiệu quả, vì được kết hợp với lời cầu nguyện của Chúa Giêsu trong đức tin. Trong Người, lời cầu nguyện Kitô giáo trở thành sự hiệp thông tình yêu với Chúa Cha.  Lúc đó, chúng ta có thể dâng những lời cầu xin lên Thiên Chúa và sẽ được nhậm lời: “Anh em hãy xin, anh em sẽ được, để niềm vui của anh em nên trọn vẹn” (Ga 16,24). Hỏi: Ðức Trinh Nữ Maria đã cầu nguyện thế nào? Đáp: Kinh nguyện của Ðức Maria phát xuất từ niềm tin và việc quảng đại hiến dâng cuộc đời cho Thiên Chúa. Mẹ của Chúa Giêsu cũng là bà Eva Mới, là “Mẹ của chúng sinh”. Mẹ đã cầu xin Chúa Giêsu, Con của Mẹ, cho những nhu cầu của loài người. Hỏi: Trong Tin Mừng, có lời cầu nguyện nào của Ðức Maria không? Hỏi: Cộng đoàn Kitô hữu tiên khởi tại Giêrusalem đã cầu nguyện như thế nào? Đáp: Ngoài lời chuyển cầu của Ðức Maria tại Cana miền Galilê, Tin Mừng còn ghi lại kinh Magnificat (Lc 1,46-55), là lời ca tụng của Mẹ Thiên Chúa và Mẹ Hội thánh, là lời tạ ơn trong hân hoan xuất phát từ tâm hồn của những người nghèo khó, vì niềm hy vọng của họ sẽ trở thành hiện thực khi Thiên Chúa thực hiện các lời hứa của Ngài. Hỏi: Cộng đoàn Kitô hữu tiên khởi tại Giêrusalem đã cầu nguyện như thế nào? Đáp: Khởi đầu sách Công Vụ Tông Ðồ có ghi lại, trong cộng đoàn tiên khởi tại Giêrusalem được Thánh Thần dạy cho biết cầu nguyện, “các tín hữu chuyên cần nghe các Tông đồ giảng dạy, luôn hiệp thông với nhau, siêng năng tham dự lễ Bẻ Bánh và cầu nguyện không ngừng” (Cv 2, 42).   (Trích Bản Toát Yếu Sách Giáo Lý của Hội Thánh Công Giáo, bản dịch của HĐGM Việt Nam, 2011).

Học Hỏi Sống Đạo – Chúa Nhật 29 TN

Hỏi: Tại sao bản tuyên xưng đức tin được khởi đầu bằng “Tôi tin kính Ðức Chúa Trời”?  Đáp: Bởi vì xác quyết “Tôi tin kính Ðức ChúaTrời” là điều quan trọng nhất. Xác quyết này là nguồn gốc của mọi chân lý khác về con người, về vũ trụ và về toàn bộ đời sống của những ai tin Thiên Chúa.   Hỏi: Tại sao chúng ta tuyên xưng một Thiên Chúa duy nhất?  Đáp: Bởi vì Thiên Chúa đã mạc khải cho dân Israel biết rằng Ngài là Thiên Chúa Duy Nhất, khi Ngài nói: “Nghe đây, hỡi Israel, Ðức Chúa, Thiên Chúa chúng ta, là Ðức Chúa duy nhất” (Ðnl 6,4). “Ta là Thiên Chúa, chẳng còn chúa nào khác” (Is 45,22). Chính Chúa Giêsu cũng xác nhận điều này: Thiên Chúa là “Ðức Chúa duy nhất” (Mc 12,29). Tuyên xưng Chúa Giêsu và Chúa Thánh Thần là Thiên Chúa và là Ðức Chúa, không hề đưa đến sự chia cắt nào nơi Thiên Chúa duy nhất.   Hỏi: Thiên Chúa tự mạc khải với danh thánh nào? Đáp: Thiên Chúa đã mạc khải chính mình cho Môsê là Thiên Chúa hằng sống, “Thiên Chúa của Ábraham, Thiên Chúa của Isaác, Thiên Chúa của Giacóp” (Xh 3,6). Ngài cũng mạc khải Danh Thánh huyền nhiệm của Ngài cho ông: “Ta là Ðấng Hằng Hữu” (YHWH). Ngay từ thời Cựu Ước, Danh Thánh của Thiên Chúa không được phép đọc lên, nên phải thay thế bằng thuật ngữ Ðức Chúa. Như vậy trong Tân Ước, Chúa Giêsu được người ta gọi là Ðức Chúa, tức là được nhìn nhận là Thiên Chúa thật.   Hỏi: Có phải chỉ một mình Thiên Chúa “hiện hữu” không? Đáp: Trong khi tất cả mọi thụ tạo đều lãnh nhận từ Thiên Chúa tất cả những gì chúng có và hiện hữu, chỉ Thiên Chúa mới tự mình hiện hữu một cách trọn vẹn và tuyệt hảo. Ngài là “Ðấng hằng hữu,” không có khởi đầu và cũng chẳng có cùng tận. Chúa Giêsu cũng mạc khải rằng Người mang Danh Thánh : “Ta là Ðấng hằng hữu” (Ga 8,28).   Hỏi: Phải hiểu “Thiên Chúa là chân lý” như thế nào? Đáp: Thiên Chúa là chính Chân lý; và do đó, Ngài không tự dối gạt mình cũng không dối gạt ai. Ngài là “Ánh sáng, nơi Ngài không có một chút bóng tối nào” (1 Ga 1,5). Con vĩnh cửu của Thiên Chúa, là sự Khôn Ngoan nhập thể, đã được sai đi vào thế gian “để làm chứng cho sự thật” (Ga 18,37). (Trích Bản Toát Yếu Sách Giáo Lý của Hội Thánh Công Giáo, bản dịch của HĐGM Việt Nam, 2011).

Học Hỏi Sống Đạo – 15/10/2017

Hỏi: Trong Thánh Kinh, ai là những nhân chứng chính yếu cho việc vâng phục đức tin? Đáp: Có rất nhiều chứng nhân, nhưng đặc biệt là hai vị: – Ông Abraham, dù bị thử thách, “vẫn vững tin vào Thiên Chúa” (Rm 4,3) và luôn vâng phục tiếng gọi của Ngài; vì thế ông trở thành “tổ phụ của tất cả những người tin” (Rm 4,11.18); – Ðức Trinh Nữ Maria, trong suốt cuộc đời đã thể hiện một cách tuyệt vời sự vâng phục đức tin: “Fiat mihi secundum verbum tuum – xin Chúa làm cho tôi như lời sứ thần nói” (Lc 1,38). Hỏi: Tin vào Thiên Chúa có ý nghĩa cụ thể gì cho con người? Đáp: Tin vào Thiên Chúa có nghĩa là gắn bó với chính Thiên Chúa, tin tưởng phó thác bản thân cho Ngài và chấp nhận tất cả những chân lý do Ngài mạc khải vì Ngài chính là Chân lý. Ðiều này có nghĩa là tin vào Thiên Chúa duy nhất trong Ba Ngôi Vị: Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần. Hỏi: Những bản tuyên xưng đức tin là gì? Đáp: Ðó là những công thức ngắn gọn, còn được gọi là “những bản tuyên xưng đức tin” hay “Kinh Tin Kính,” qua đó Hội thánh, ngay từ thuở ban đầu, đã diễn tả đức tin của mình một cách tổng hợp và chuyển đạt đức tin ấy bằng một ngôn ngữ chuẩn hoá và chung cho mọi tín hữu. Hỏi: Những bản tuyên xưng đức tin quan trọng nhất là những bản nào? Đáp: Những bản quan trọng nhất là: – Kinh Tin Kính của các Thánh Tông đồ, là bản tuyên xưng đức tin cổ xưa nhất dùng khi cử hành Bí tích Rửa tội của Giáo hội Rôma; – Kinh Tin Kính Công Ðồng Nicea-Constantinopoli, là kết quả của hai Công Ðồng Chung đầu tiên, tại Nicea (năm 325) và tại Constantinopoli (năm 381). Hai bản này vẫn còn là hai bản chung cho tất cả các Giáo hội lớn của Ðông phương và Tây phương. (Trích Bản Toát Yếu Sách Giáo Lý của Hội Thánh Công Giáo, bản dịch của HĐGM Việt Nam, 2011)  

Học Hỏi Sống Đạo – 10/08/2017

Hỏi: Tin vào Thiên Chúa có ý nghĩa cụ thể gì cho con người? Đáp: Tin vào Thiên Chúa có nghĩa là gắn bó với chính Thiên Chúa, tin tưởng phó thác bản thân cho Ngài và chấp nhận tất cả những chân lý do Ngài mạc khải vì Ngài chính là Chân lý. Ðiều này có nghĩa là tin vào Thiên Chúa duy nhất trong Ba Ngôi Vị: Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần. Hỏi: Ðức tin có những đặc điểm gì? Đáp: Ðức tin là một hồng ân nhưng không của Thiên Chúa, được trao ban cho tất cả những ai cầu xin với lòng khiêm hạ; đó là nhân đức siêu nhiên cần thiết để được cứu độ. Hành vi đức tin là một hành vi nhân linh, nghĩa là một hành động của lý trí con người, dưới tác động của Chúa Thánh Thần, tự do gắn bó với chân lý của Thiên Chúa. Ngoài ra, đức tin còn có đặc tính chắc chắn, vì được đặt nền tảng trên Lời Chúa; đức tin có đặc tính năng động “nhờ Ðức ái” (Gl 5,6); đức tin luôn tăng triển, đặc biệt nhờ lắng nghe Lời Chúa và cầu nguyện. Trong hiện tại, đức tin cho chúng ta nếm trước niềm vui trên trời. Hỏi: Tại sao đức tin là một hành vi cá nhân nhưng đồng thời cũng là hành vi mang tính giáo hội? Đáp: Ðức tin là một hành vi cá nhân, vì đó là sự đáp trả tự do của con người đối với Thiên Chúa, Ðấng tự mạc khải. Nhưng đồng thời đó cũng là một hành vi mang tính giáo hội, tính chất này được bày tỏ trong lời tuyên xưng đức tin: “Chúng tôi tin.” Thật vậy, chính Hội thánh tin: qua đó, nhờ ân sủng của Chúa Thánh Thần, Hội thánh đi bước trước, sinh ra và nuôi dưỡng đức tin của mỗi người. Vì thế, Hội thánh là Mẹ và là Thầy. Hỏi: Phải hiểu như thế nào về đức tin duy nhất của Hội thánh? Đáp: Dù được hình thành do nhiều người khác nhau về ngôn ngữ, văn hóa và phong tục, Hội thánh đồng thanh tuyên xưng một đức tin duy nhất, được lãnh nhận từ một Chúa duy nhất và được chuyển đạt qua một Truyền thống tông đồ duy nhất. Hội thánh tuyên xưng một Thiên Chúa duy nhất – Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần – và dạy một con đường cứu độ duy nhất. Vì thế, chúng ta, cùng một lòng một ý, tin những gì chứa đựng trong Lời Chúa, được truyền đạt hay được viết ra và được Hội thánh xác định là do Thiên Chúa mạc khải. (Trích Bản Toát Yếu Sách Giáo Lý của Hội Thánh Công Giáo, bản dịch của HĐGM Việt Nam, 2011)

Thánh Phanxicô Khó Khăn, Lập Dòng (1182-1226) – Kính ngày 4 tháng 10

Thánh Phanxicô Khó Khăn sinh tại Assise khoảng năm 1182. Cha ngài, ông Bênađô là một thương gia tơ sợi nổi tiếng. Mẹ ngài là bà Pica, một người đạo đức, đã hun đúc ngài trở thành một vị thánh thời danh. Lúc bấy giờ có cuộc nổi loạn của đám lê dân chống lại những người quý tộc. Ngài bị bắt và bị cầm tù gần một năm. Trong thời gian đó, ngài bị một cơn bệnh trầm trọng; sau khi khỏi, Chúa đã cảm hóa ngài với câu: “Lạy Cha chúng tôi ở trên Trời”. Ngài quyết định từ bỏ mọi sự, sống đời nghèo khó năm 1206. Bị cha già hết sức phản đối, nhưng dù thương cha, ngài cũng không dám làm ngược lại thánh ý Chúa. Ngài phân phát hết của cải, chỉ gữ lại chiếc choàng cũ rồi đi rao giảng Tin Mừng. Trong cảnh sống cơ cực này, được Chúa thúc đẩy, ngài thành lập hội dòng Anh Em Hèn Mọn. Sau đó, ngài lui về Alverne, một nơi cô tịch phía Bắc Assise để suy niệm và ăn chay đền tội. Trong lúc xuất thần, ngài nhìn thấy Thiên Thần Sêraphim và một ảnh chuộc tội. Khi tỉnh lại, lạ lùng thay, chính trên thân thể ngài, Chúa đã in năm dấu thánh cho người Chúa yêu (1224).  Hai năm sau, ngài lâm bệnh. Trước giờ chết, ngài khuyên bảo anh em hãy cố giữ tinh thần nghèo khó và đức tin sâu xa vào Giáo Hội Chúa. Ngài nhắm mắt lìa trần ngày 04/10/1226. Dưới triều Ðức Giáo Hoàng Grêgoriô, ngài được tôn lên bậc Hiển Thánh. Nhìn tấm gương nghèo khó thương người, chúng ta hãy xin Chúa ban cho mỗi người chúng ta biết lướt thắng mọi vinh hoa phú quý để tăng lòng mến Chúa và ham chuộng tinh thần Phúc Âm. (Theo nhóm truyền giáo Châu, Kiên, Long, Đà Lạt)

Thiên Thần Bản Mệnh – Kính ngày 2 tháng 10

Các Thiên Thần được Chúa giao cho nhiệm vụ ở cạnh loài người. Chính Chúa Giêsu và Giáo Hội đã dạy ta điều đó. Nếu ma quỷ đông vô số đang lượn quanh ta như sư tử tìm mồi xâu xé, thì an ủi thay, Thiên Chúa cũng gửi đến cho ta những sự trợ giúp hữu hiệu của các Thiên Thần. Ta quen gọi các ngài là Thiên Thần Bản Mệnh. Các ngài gìn giữ ta khỏi mọi sự dữ và mọi hiểm nguy, giúp ta tránh xa những dịp tội, gợi lên trong ta những ý tưởng lành thánh và dẫn ta vào đường nhân đức. Các ngài thêm sức cho chúng ta trong những cơn cám dỗ, nâng đỡ và khuyến khích ta khi thất vọng và an ủi ta khi sầu muộn. Mỗi khi ta sa ngã vì yếu đuối sai lầm, các ngài giúp ta hồi tâm, hối hận và bầu cử cho ta trước tòa Chúa. Các ngài cũng soi sáng thêm sức cho ta trong giờ hấp hối.