Từ Bỏ Để Sống Yêu Thương

– ĐÔ. Phaolô Phan Văn HiềnĐức Cố Hồng Y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận, trong thời gian mất tự do, đã suy nghĩ về những lối sống làm cản trở đời sống thiêng liêng của người Ki tô hữu, được Ngài xem như là những bệnh thiêng liêng cần phải được chữa trị. Có tất cả 10 bệnh, được gọi là Thập Đại Bệnh; và một trong số 10 căn bệnh đó chính là “Bệnh Phô Trương”. Bệnh này được nhìn thấy nơi các luật sĩ trong bài Tin Mừng hôm nay. Chúa Giê-su khuyến cáo dân chúng: “Các ngươi hãy coi chừng bọn luật sĩ. Họ thích đi lại trong bộ áo thụng, ưa được bái chào ngoài công trường, chiếm những ghế nhất trong hội đường và trong đám tiệc.”   Bệnh phô trương gắn liền với bản tính con người từ xưa đến nay. Bệnh này còn có một tên gọi khác đó là háo danh. Đây chỉ là mặt nổi của tính kiêu ngạo, đứng đầu trong 7 mối tội đầu. Và người kiêu ngạo vì luôn thấy mình trổi vượt hơn người khác, và cảm thấy quá đầy đủ, nên không cần ai phụ giúp. Họ có thể ví như một tách trà mà nước đã đầy ngang miệng, không còn có thể thêm nước trà vào được nữa. Đây chính là lý do khiến người phô trương và háo danh không cần ơn Chúa trợ giúp, và dần dần sống xa Chúa. Như vậy, muốn thăng tiến trong đời sống thiêng liêng, người Ki-tô hữu trước hết phải loại bó thói phô trương và háo danh, và khiêm tốn thú nhận sự yếu kém, bất toàn của mình, rồi tin tưởng xin Chúa giúp đỡ. Trong khi người phô trương và háo danh đặt niềm tin vào của cải và tài năng khéo léo của mình, người Ki-tô chân chính lại đặt trọn vẹn niềm tin vào Chúa và tình thương quan phòng của Ngài. Niềm tin tuyệt đối này được chứng tỏ qua cách dâng cúng của bà góa trong bài Tin Mừng hôm nay. “Thầy nói thật với các con: Trong những người đã bỏ tiền vào hòm, bà goá nghèo này đã bỏ nhiều hơn hết. Vì tất cả những người kia bỏ của mình dư thừa, còn bà này đang túng thiếu, đã bỏ tất cả những gì mình có để nuôi sống mình“.  Và đây cũng chính là niềm tin của bà góa thành Sarephta, khi bà nghe theo lời tiên tri Elia, đã dùng nắm bột và ít dầu cuối cùng để làm chiếc bánh cho tiên tri. Và Thiên Chúa đã không thua lòng quảng đại của bà: “Từ ngày đó hũ bột không cạn và bình dầu không vơi như lời Chúa đã dùng Êlia mà phán.” Con người ngày nay thường đánh giá nhau trên sự giàu có, thành công và nổi tiếng. Nhưng đó chỉ là những giá trị tạm thời chóng qua, và càng không phải là điều Chúa mong muốn vì những điều này dễ dàng đưa con người xa Chúa và xa anh em đồng loại. Điều quan trọng trong đời sống Ki tô hữu chính là sống yêu thương. Thật vậy, Mẹ Thánh Têrêsa khi được hỏi về những thành công trong công việc của Mẹ, Mẹ đã suy nghĩ trong chốc lát và trả lời một cách cương quyết: “Tôi không nhớ có chỗ nào Chúa nói về thành công cả. Ngài chỉ nói về việc trung thành yêu thương. Và đó mới là thành công duy nhất đáng kể”. Ước mong mỗi người trong chúng ta đều thực hiện được mong ước của Đức Hông Y F.X. Thuận: “Mỗi chiều tối, trước lúc lên giường ngủ, con phải nói được rằng: “Suốt ngày nay tôi đã yêu thương.” (ĐHV 781) 

Xin Cho Con Được Thấy

– Lm. Francis Bùi Ngọc Tỷ Nhiều người trong chúng ta là thuyền nhân vượt biển tìm tự do. Tuy đã ba bốn mươi năm qua, nhưng nỗi ám ảnh của cuộc hành trình đầy sóng gió vẫn còn âm ỉ trong tim. Khi gần kề cái chết, chúng ta đã hướng lên Chúa kêu cầu. Chúng ta hy vọng Chúa dùng quyền năng của Người cứu vớt chúng ta. Đó cũng là tâm tình của dân Is-ra-el trong thảm cảnh lưu đày ở Babylon. Lúc đó, Chúa đã sai ngôn sứ Giê-rê-mi-a đến nói với họ: “Đây, Ta sẽ dẫn dắt chúng từ đất Bắc trở về… trong bọn chúng có kẻ đui mù, què quặt… Chúng vừa đi vừa khóc, Ta sẽ lấy lòng từ bi dẫn dắt chúng trở về.”   Ông Bác-ti-mê trong câu chuyện Phúc Âm hôm nay cũng sống trong hoàn cảnh u tối. Ông bị mù, sống lê lết bên vệ đường, ăn xin cho hết kiếp người. Bỗng ông nghe được Đức Giêsu đi ngang qua. Niềm hy vọng bùng lên, ông kêu lớn tiếng: “Lạy Đức Giêsu, Con vua Đa-vít, xin dủ lòng thương tôi.” Và ông cầu xin: “Xin cho tôi được thấy.” Đức Giêsu đã chữa lành đôi mắt ông, cho ông được nhìn thấy. Ánh sáng cho đôi mắt là ánh sáng cho cuộc đời. Ông Bác-ti-mê đã nhìn thấy ngày mai. Ông đã tìm được lẽ sống cho đời mình; từ đó ông đi theo Chúa. Chúa cũng đã “mở mắt” linh hồn cho chúng ta. Đó là đôi mắt đức tin. Đức tin là ơn quan trọng nhất mà Chúa ban, vì nó dẫn ta vào sự sống thần linh của Chúa và sẽ tiếp tục đưa ta đến cùng đích của đời mình là hạnh phúc viên mãn trên trời. Đức tin là sợi dây gắn kết chúng ta vào Chúa. Nó phát triển nhờ tình yêu chúng ta dành cho Chúa. Tình yêu nuôi dưỡng lòng tin. Lòng tin khi được triển nở, sẽ cung cấp nhiên liệu cho ngọn lửa tình yêu giữa chúng ta với Chúa. Bí quyết để phát triển lòng tin là sự gắn kết với Chúa Kitô và đồng hành với Ngài. Như ông Bác-ti-mê đã quyết định đi theo Đức Giêsu, chúng ta cũng hãy khẳng định lại quyết tâm theo Chúa của mình. Tổng giáo phận Los Angeles đã khởi xướng năm thánh mừng kỷ niệm 250 năm thành lập cứ điểm truyền giáo San Gabriel. Giáo phận kêu gọi chúng ta làm ba việc sau đây:1) Đọc và suy niệm Lời Chúa để được ơn soi sáng.2) Cầu nguyện cho những ai đang yếu tin.3) Quan tâm đến những người thiếu thốn, vật chất cũng như tinh thần. Dùng lời nói, việc làm nâng đỡ họ.Lòng tin sống động của các tín hữu sẽ là sợi dây cứu cấp cho một xã hội đang càng ngày càng xa Chúa.

Thành Tựu

– Lm. Francis Bùi Ngọc Tỷ Loạt phim 007 rất ăn khách. Người ta thích coi điệp viên siêu hạng James Bond vì anh ta là người hùng, lao đầu vào nguy hiểm và luôn luôn chiến thắng. Hơn nữa, James Bond còn là một playboy đúng nghĩa: giàu có, điệu nghệ, nhất là có sức hấp dẫn đối với phụ nữ. James Bond là tượng trưng cho sự thành công ở đời. Gia-cô-bê và Gio-an cũng theo đuổi sự thành công. Hai ông vất vả đi theo Đức Giêsu vì nhắm tới hai chiếc ghế cao nhất trong Nước Trời. “Xin cho chúng con, một người ngồi bên hữu, một người ngồi bên tả Thầy, khi Thầy được vinh quang.”   Sự cầu cạnh của hai ông khiến anh em ghen ghét. Nhưng hai ông cũng không ý thức rằng, điều mong ước của mình dầu cho có đạt được, cũng chưa chắc thỏa mãn mọi ước vọng sâu thẳm trong tâm hồn. Thành công về mặt xã hội, trong đạo hay ngoài đời, chưa phải là sự thành tựu của một đời người. Chúa Giêsu dạy chúng ta khi Ngài trả lời hai ông: “Việc ngồi bên hữu hay bên tả Thầy, thì Thầy không có quyền cho, nhưng Thiên Chúa đã dọn sẵn cho ai thì kẻ ấy được.” Đối với Đức Giêsu, sự thành tựu nằm trong ý định của Thiên Chúa. Chúa cho ai thì kẻ ấy được. Điều đáng mừng là chúng ta không cần phải tranh giành nhau, vì Thiên Chúa định cho mỗi người mỗi khác. Mỗi người sinh ra với một sứ mạng đặc thù. Và Chúa đặt sẵn trong ta những khả năng thể xác và tinh thần phù hợp. Ngài cũng sắp đặt những hoàn cảnh thuận lợi để chúng ta có thể hoàn thành sứ mạng đó. Giống như cha mẹ sắp đặt cho tương lai con cái. Nhưng chúng cũng hoàn toàn tự do: chấp nhận hay từ chối. Điều này không có nghĩa như thuyết tiền định. Thánh Phaolô giải thích trong thư Rôma như sau: “Chúng ta biết rằng, Thiên Chúa làm cho mọi sự đều sinh lợi ích cho những ai yêu mến Người, tức là cho những kẻ được Người kêu gọi theo ý Người định.”(Rm 8:28) Một cách nói khác: đó là ơn gọi. Sống đúng ơn gọi của mình, chúng ta sẽ hưởng được thành quả tốt nhất cho cuộc đời mình. Đức Maria đã sống đúng ơn gọi của mình. Ngài được ơn vô nhiễm nguyên tội, vì đó là điều kiện cần thiết để cưu mang Con Thiên Chúa. Khi nhận biết sứ mạng mà Chúa trao phó, Ngài đã thưa “vâng”. Suốt cuộc đời, Ngài đã hoàn thành cách tuyệt hảo Ý định của Thiên Chúa. Chính vì thế, Thiên Chúa đã ban cho Ngài đặc ân lên trời cả hồn lẫn xác. Sự thành tựu của một đời người là nhận biết và sống theo Ý Chúa.  

Khôn Ngoan

– Lm. Francis Bùi Ngọc Tỷ Xã hội Hoa Kỳ quá thiên về vật chất khiến chúng ta dễ quên điều gì thật sự cần thiết cho cuộc sống. Đối với nhiều người, hạnh phúc hệ tại ở của cải. Một ngôi nhà đẹp, một chiếc xe sang trọng, tiền đầy ấp trong ngân hàng, và dĩ nhiên, một việc làm thật tốt. Đó là giấc mơ của mọi người khi đến Mỹ. Nhưng tiền bạc không phải dễ kiếm. Người ta phải lao tâm tốn sức. Có khi còn phải hy sinh hạnh phúc gia đình và sự giáo dục con cái. Thậm chí gạt bỏ tiếng nói của lương tâm. Kiếm tiền thì khó, nhưng mất tiền lại không khó. Và nếu chúng mất đi, người ta cảm thấy như bầu trời sụp đổ.   Bài Phúc âm hôm nay kể chuyện một người thanh niên giàu có muốn được sống đời đời. Anh ta là một người tốt, rất thiện chí. Đáng tiếc, anh không vào được Nước Trời vì có nhiều của cải. Bao nhiêu là nhiều? 1 triệu là nhiều. 1 đồng cũng là nhiều.  Nhiều hay ít không phải ở con số mà ở việc ta coi trọng chúng thế nào. Người thanh niên coi trọng tiền của hơn Nước Trời. Thánh Gregory Cả đã viết: con người càng gắn bó với những của cải trần tục thì càng mất đi cảm thức đối với những giá trị thiêng liêng cao quý.Chúa Giêsu nói: “Những người có của cải thì khó vào Nước Thiên Chúa biết bao.” Chúa Giêsu không nói của cải là xấu. Ngài nói của cải khiến chúng ta “KHÓ” vào Nước Trời. Để nhấn mạnh độ khó, Ngài dùng kiểu nói phóng đại: “Con lạc đà chui qua lỗ kim còn dễ hơn người giàu có vào Nước Thiên Chúa.” Nếu hiểu lỗ kim là cái lỗ để xỏ chỉ vào cây kim, thì có thể nói độ khó là 99.999999%. Chúa cảnh cáo chúng ta về sức mạnh vô địch của đồng tiền. Vì thử hỏi, có mấy ai trên đời này không yêu tiền? Lời Chúa hôm nay cảnh tỉnh chúng ta. Đừng để mình nô lệ cho đồng tiền. Muốn thế, hãy xin cho được sự khôn ngoan của Chúa. Biết nhìn sự vật như Chúa nhìn thấy. Biết hiểu chúng như Chúa hiểu chúng. Biết hưởng dùng chúng như Chúa đã tạo dựng để hưởng dùng. Xử dụng những tài năng, những ơn lành Chúa ban để làm giàu trước mặt Chúa. Nếu sống cách khôn ngoan như Ý Chúa, chúng ta cũng có thể biến của cải vật chất trở nên phương tiện đưa ta đến gần Chúa. Vì thế,“Tôi cầu khẩn được thần trí khôn ngoan.Tôi lấy sự khôn ngoan làm vương quốc và ngai vàng…Tất cả mọi sự tốt lành đều đến cùng tôi làm một với nó.” (Khôn Ngoan 7:7-11)   

Hôn Nhân Vẫn Là Điều Khó Hiểu

– Lm. Maria Giuse Nguyễn Tuấn Long Giáo Hội Công giáo có chấp nhận ly dị không? Phúc Âm hôm nay đã trả lời: “Vậy sự gì Thiên Chúa đã kết hợp, loài người không được phân ly.” Vậy tại sao nhiều cặp đã ăn ở với nhau có đến 3-4 đứa con mà cuối cùng không phải là vợ chồng? Ăn ở với nhau có con cái không có nghĩa là thành vợ thành chồng, nhưng một cách chính xác hơn là thành cha mẹ. Nhưng khó hiểu hơn nữa là có những cặp cũng vào nhà thờ có Linh mục và người làm chứng trong lễ cưới cuối cùng là hôn phối không thành là tại sao? Tại vì hôn nhân ngay từ lúc ban đầu đã không thành cho nên họ phải trải qua thủ tiêu hôn. Một hôn nhân thành sự cần phải hội đủ 4 yếu tố: (1) hai người phải hoàn toàn có tự do; (2) họ thật sự tự do thề hứa; (3)họ thật sự chủ ý sống với nhau suốt đời và đón nhận con cái; và (4) phải có hai người làm chứng trước vị đại diện của Giáo hội (foryourmarriage.org). Thủ tục tiêu hôn là nhằm giúp hai người tìm hiểu và xác định nguyên nhân khiến hôn nhân không thành ngay từ thuở ban đầu. Ví dụ: Cô A chấp nhận cưới anh B vô nhà thờ đầy đủ các thứ v.v., nhưng thực chất ra cô ấy chỉ muốn mượn đường đi Mỹ. Hôn nhân này không thành vì ngay tự bản chất của nó là không thật với ý đồ cá nhân. Cho nên tiêu hôn giúp gỡ rối những uẩn khúc bên trong để hai người thật sự được tự do trở lại và sống thật sung mãn với tự do Chúa ban. Nói về chuyện gia đình vợ chồng là nói đến những liên khúc vui buồn đau khổ lẫn lộn. Không đau khổ vì nhau thì lại đau khổ vì con. Thoát được con thì lại vướng vào cháu và cứ thế dây dưa cho đến mãn đời. Đời sống con người đã là một sự phức tạp tự chính nó. Đời sống gia đinh quả là cực kỳ nhiêu khê vì nó đòi hỏi mỗi thành viên trong gia đình phải hy sinh chết cho nhau mỗi ngày: “Họ không còn là hai mà là một huyết nhục.” Bất cứ mọi hy sinh nào cũng đều có sự vinh quang của nó. Đối với những ai đang còn và đang sống đời gia đình, có những lúc bạn cảm thấy chán ngán với những người chung quanh, nhưng cuối cùng họ vẫn là người gần gũi bên cạnh bạn nhất trong lúc vui cũng như lúc buồn. Cái vinh quang của bạn chính là bạn luôn có họ và họ luôn có bạn. Đối với những ai đã ly dị, Thiên Chúa vẫn thấu hiểu và luôn thông cảm với bạn trước những ngã rẽ cuộc đời. Đời người, ai cũng có một hoàn cảnh, một câu chuyện và một tương lai. Đối với những ai đang tìm hiểu về đời sống hôn nhân, bạn hãy nên suy nghĩ cho thật kỹ hơn hai lần trước khi quyết định cưới.  

Khác Biệt Quan Điểm

– Lm. Maria Giuse Nguyễn Tuấn Long    Chỉ có con người mới luôn nghĩ đến chuyện hơn thua, quyền cao chức trọng v.v. Có quyền là có tiền. Có quyền là có lợi. Có quyền là có tiếng. Nó là một nhóm thường đi chung với nhau. Vì cái nhóm này mà xã hội con người bị chia ra thành nhiều giai cấp khác nhau. Con người bị phân biệt đối xử dựa trên chức quyền, lợi danh, và tiền bạc. Một cách nào đó sự phân biệt đối xử giữa con người với con người cũng chen chân vào được trong đời sống cộng đồng Kitô hữu nói chung và Công giáo nói riêng, không biết từ khi nào. Điển hình là sự khác biệt đối xử giữa cha phó, cha sở, Đức ông, Đức cha, rồi Đức Giáo hoàng v.v. Ông nào giữ chức cao hơn thì được nải chuối to hơn. Cha phó chẳng có gì thì hai ba trái chuối là đẹp rồi.   Chức quyền hay phẩm trật trong Giáo Hội chẳng qua có là để dễ thi hành mục vụ tâm linh và các công tác xã hội. Hơn thua trên dưới là điều không bao giờ có trong tự điển của Chúa Giêsu ngay từ thuở ban đầu… Trái lại, kẻ làm cao làm lớn lại chính là đầy tớ cho mọi người. Đây là quan điểm hoàn toàn khác biệt giữa Chúa Giêsu và con người thế gian. Là Kitô hữu, chúng ta phải chọn một trong hai: đến để phục vụ hay để được phục vụ. Nếu chọn là người phục vụ, thì cung cách đối xử có phân biệt hay không? Lạy Chúa, xin ban cho chúng con một quả tim giống như Ngài biết yêu thương, đùm bọc, tôn trọng, và phục vụ kẻ khác một cách vô vị lợi và không phân biệt. Xin giúp chúng con nhận diện ra được chính Ngài trong tất cả anh chị em chúng con đang sinh hoạt hằng ngày. Để từ đó, chúng con sẽ cảm nghiệm ngày càng xâu xa hơn về tình yêu và lòng thương xót của Ngài. Lạy Chúa Giêsu, chúng con yêu mến Ngài. Xin thương xót chúng con. Amen. 

Ý Nghĩa Của Đau Khổ

– Lm. Maria Giuse Nguyễn Tuấn Long Đau khổ là một thực trạng gắn liền với số phận con người ở đời này. Cũng chính đau khổ có thể là một đề tài nhiêu khê nhức nhối nhất trong đức tin Kitô giáo lẫn triết học về Thiên Chúa (philosophy of God). Những câu hỏi thường được đặt ra để chất vấn niềm tinh như: Nếu có Thiên Chúa, thì tại sao có đau khổ? Ngài sẽ làm gì trước những đau khổ đó? Thiên Chúa có dửng dưng ơ hờ trước những đau khổ của con người không? Liệu Thiên Chúa chỉ có giới hạn và bất lực trước những đau khổ? Các triết gia và thần học gia đã và đang tốn rất nhiều giấy mực và thời gian để tìm câu trả lời thỏa đáng, nhưng nói cho cùng mỗi người đều có một cái nhìn và cách diễn giải khác nhau. Điều quan trọng là đau khổ có ý nghĩa gì cho chính mình ở đời này. Người có niềm tin thường có khuynh hướng diễn giải đau khổ dưới chiều kích tâm linh là được đồng hành với Chúa Giêsu vác thập giá, xem những thách đố khó khăn ở đời này là cơ hội để đồng hành cùng Chúa, và cho những đau khổ đó là những bậc thang nên thánh trên v.v. Nói chung, nguồn gốc của đau khổ và đề tài giữa thiện và ác sẽ khó có một câu trả lời thỏa đáng. Chúa Giêsu đã chấp nhận thực tại này và Ngài đã dạy các môn đệ về phương pháp dấn thân để xoa dịu những nỗi khổ đời này. Theo Chúa là đồng nghĩa với vác thập giá. Việc vác thập giá là trực diện và chu toàn với trách nhiệm và bổn phận của mình mỗi ngày. Một khi trách nhiệm và bổn phận hằng ngày được chu toàn, thập giá nhiệm và bổn phận hằng ngày được chu toàn, thập giá sẽ từ từ trở thành thánh giá. Bởi thế, con đường nên thánh trong Giáo Hội được hiểu như là một tiến trình lâu dài và bền bỉ gắn bó với trách nhiệm mỗi ngày. Đối với Linh mục tu sĩ, chuyên cần gắn bó với những mục vụ săn sóc tâm linh cũng là một trong những phương cách nên thánh. Đối với đời sống gia đình, chu toàn bổn phận làm cha mẹ cũng tương tự. Điều khó khăn nhất ở đây chính là liệu chúng ta có muốn trở nên thánh hay không mà thôi.

Lời Chúa Là Bánh Ban Sự Sống

– LM. Giuse-Maria Hoàng Tiến Đoàn, S.J. Như chúng ta đã nghe trong phúc âm ngày hôm nay, Chúa Giêsu nói với người Do Thái rằng Thiên Chúa muốn ban cho họ bánh ban sự sống thật từ trời cho thế gian. Sau đó, Chúa Giêsu tự nhận mình là Bánh Sự Sống. Ngài yêu cầu người nghe tin vào Ngài, và Ngài qua niềm tin đó, sẽ cho họ không bao giờ phải đói hay khát nữa. Nói cách khác, mọi nhu cầu của họ sẽ được đáp ứng.   Tuy nhiên, Phúc Âm vẫn tiếp tục cho chúng ta biết những người Do Thái đã xì xào. Họ đặt câu hỏi làm thế nào ông ta có thể nói rằng mình từ trời xuống thế gian. Họ biết cha mẹ, biết anh chị em bà con của ông quá mà, họ biết rõ ông đã lớn lên, đã từng sống ở giữa họ. Tiếng thì thầm của họ gợi nhớ đến dân Do Thái trong sa mạc trên đường đến Đất Hứa. Họ không tin rằng Chúa quan tâm đến họ. Họ không muốn tin rằng Chúa có thể làm được tất cả những điều Ngài  hứa. Cũng như cha ông họ thủa xưa, người Do Thái thời Chúa Giêsu không thể tin được rằng hễ ai ăn bánh Trời ban, tức là chính Chúa Giêsu, thì họ sẽ được đưa vào con đường dẫn đến sự sống đời đời. Chúa Giêsu tự nói về mình như là Bánh Từ Trời xuống và kêu gọi người ta ăn bánh này. Loại ngôn ngữ này khiến chúng ta liên tưởng đến Bí tích Thánh Thể. Tuy nhiên, chúng ta nên nhớ rằng người Do Thái vào thời Chúa Giê-su không biết gì về Bí tích Thánh Thể. Những gì họ hiểu về Lời Chúa Giêsu, là theo trích dẫn từ Kinh Thánh của họ. Theo đó, các tiên tri nhắc nhở người Do Thái rằng, “người ta không chỉ sống nhờ Bánh mà thôi, mà còn nhờ vào mọi Lời Thiên Chúa phán ra.” Đối với người Do Thái, Bánh là biểu tượng của Lời Chúa. Với ý nghĩa này, Chúa Giêsu mời gọi chúng ta đến với Người để được nuôi dưỡng bằng Lời của Người, và Lương Thực Lời Chúa sẽ nâng đỡ chúng ta trong hành trình cuộc sống trần gian và dẫn đến ơn cứu độ của sự sống muôn đời. Như chúng ta đã nghe trong bài đọc thứ nhất, những chiếc bánh nướng đã nâng đỡ Êli cho đến khi ông lên đến núi của Đức Chúa (1 Các Vua 19:4-8). Trong cuộc hành trình của chúng ta trên trần gian này, chúng ta đã tiếp tục đến với Chúa Giêsu để được nuôi dưỡng nhờ Lời Ngài. Lời Chúa sẽ liên tục định hình cuộc sống của chúng ta trên cõi đời này. Lời Chúa truyền cảm hứng cho chúng ta về những khắc khoải với những nỗ lực lớn hơn để sống theo kiểu sống mà Thánh Phao-lô đã nhắc nhở chúng ta trong bài đọc thứ hai trong thư gửi các tín hữu ở Ê-phê-sô (Epheso 4:30-5:2). Trong cuộc sống này, chúng ta sẽ thực hành tha thứ cho nhau một cách dễ dàng như Chúa đã và còn đang tha thứ cho chúng ta, và thực hành yêu thương nhau như Chúa Giêsu đã yêu thương từng người chúng ta vậy. 

Ai đến với Ta sẽ không hề đói

-ĐÔ. Phaolô Phan Văn HiềnNỗi lo thiếu ăn vẫn luôn là một thao thức hàng đầu của con người từ xưa đến nay, vì nó đụng đến bản năng sinh tồn của con người. Không có lương thực đồng nghĩa với sự chết. Vì vậy không lạ gì khi dân Do Thái đã chống đối Môi Sen và Aaron một cách dữ dội, dù hai ông đã có công đưa dân ra khỏi cảnh sống nô lệ ở Ai Cập và bảo đảm sẽ dẫn họ về miền đất hứa màu mỡ. “Tại sao các ông dẫn chúng tôi lên sa mạc này, để cả lũ phải chết đói như vậy?” Và Thiên Chúa đã ra tay can thiệp, qua lời cầu xin của Môi Sen, cho họ được no nê bánh thịt mỗi ngày. Nhờ đó Môi sen mới được yên thân.   Nói cách khác, đối với dân chúng, người nào có thể lo cho họ có đủ cơm bánh, thì họ sẵn sàng chọn người đó làm lãnh đạo của mình. Và đó chính là điều đã xảy ra với Chúa Giê-su, sau khi Ngài làm phép lạ hóa bánh và cá ra nhiều cho năm ngàn người ăn no nê thỏa thích. Lập tức, dân chúng muốn bắt ép Ngài làm vua của họ. Cũng như Thiên Chúa thời Môi sen, Chúa Giê-su luôn quan tâm tới đời sống của con người: vật chất cũng như tinh thần. Nhưng điều quan trọng không phải là cung cấp lương thực chỉ giúp họ no bụng, nhưng lười biếng, và kết quả chỉ làm cho thân xác nở bề dọc, bề ngang. Ngài muốn mọi người mở rộng tầm nhìn cao hơn, tìm kiếm của ăn không hư nát, của ăn mang lại sự sống đời đời. Đó chính là mình và máu Ngài, bánh ban sự sống thật. Và bánh hằng sống được Ngài để lại trong Bí tích Thánh Thể và nhờ đó lưu truyền cho mọi thế hệ đến muôn đời. Bánh hằng sống này chính là năng lực giúp người Ki-tô hữu sống đức tin mạnh mẽ trong mọi hoàn cảnh và sống hạnh phúc. Đức Hồng Y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận với kinh nghiệm 13 năm tù, đã quả quyết: “Đèn không sáng nếu hết dầu; xe không thể chạy nếu cạn xăng; hồn tông đồ sẽ suy mạt nếu không đến với Thánh Thể” (Đường Hy Vọng 360). Nhưng với những ai tha thiết yêu mến Thánh Thể, cuộc đời họ sẽ tràn đầy niềm vui, dù phải sống trong cảnh tù đày, mất tự do. Kinh nghiệm của Đức Hồng Y Thuận và các sĩ quan học tập cải tạo sau 1975 tại quê nhà, đã giúp chúng ta xác quyết điều đó: “Con thiếu tất cả, con mất tất cả; nhưng con còn Thánh Thể là còn tất cả, vì con còn có Chúa Thiên Đàng dưới đất” (ĐHV 363). Thế giới ngày nay với chủ trương đề cao khoa học, khuyến khích tiêu thụ vật chất, đang làm đảo lộn các giá trị tinh thần và loại trừ tôn giáo. Nhiều người Ki-tô cảm thấy lạc lỏng và lung lay đức tin. Làm sao để tìm lại và củng cố đức tin của mình? Làm sao cảm nhận được Thiên Chúa gần gũi với mình, quan tâm đến mình? Câu trả lời đã được Đức Hồng Y xác quyết, kinh qua năm tháng tù đày của minh: “Muốn tin, phải nuôi dưỡng bằng Thánh Thể, vì Thánh Thể chứa đựng ‘mầu nhiệm đức tin’ và ban sức mạnh đức tin cho con” (ĐHV 373). Chúa đã tiên liệu và cung cấp cho chúng ta mọi phương thế để sống hạnh phúc và sống đời đời. Được vậy hay không là tùy ở quyết định và quyết tâm của mỗi người chúng ta.