Suy Niệm – Chúa Nhật 6 Phục Sinh – Năm C – Ngày 22 Tháng 5 – Daily Mass TV Thánh Lễ Online

Suy Niệm: Một con người tài ba lỗi lạc như Napoléon mà cũng phải thốt lên: “Cách giữ lời hứa tốt nhất là đừng bao giờ hứa.” Có lẽ hơn ai hết ông cảm nghiệm được sâu xa tính cách bất toàn, hay thay đổi của con người chúng ta. Quả thực, nhiều khi chúng ta hứa mà không thực hiện điều mình đã hứa. Chúa Giê-su hứa với các môn đệ một lời hứa thật độc đáo: “Thầy ban cho anh em bình an của Thầy không như thế gian ban tặng.” Đối với Chúa, giữa lời hứa với hiện thực không có khoảng cách. Đó mới là sự bình an đích thực, sự bình an trong tâm hồn của người đặt niềm tin sâu xa vào Thiên Chúa, sự bình an chúng ta có thể thấy nơi những ai “yêu mến và giữ lời của Thiên Chúa.” Cầu nguyện: Lạy Chúa Thánh Thần, Đấng Thánh hóa xin đổ tràn tâm hồn con gia đình con bình an của Chúa để chúng con có thể đem chia sẻ bình an ấy cho anh em con nữa. Chúa Nhật 6 Phục Sinh – Năm C  BÀI ĐỌC I:  Cv 15, 1-2. 22-29  “Thánh Thần và chúng tôi xét rằng không nên đặt thêm gánh nặng nào khác ngoài mấy điều cần kíp”. Trích sách Tông đồ Công vụ. Trong những ngày ấy, có mấy người từ Giuđêa đến dạy bảo các anh em rằng: “Nếu anh em không chịu cắt bì theo luật Môsê, thì không được cứu độ”. Do đó, Phaolô và Barnaba đã tranh luận gắt gao với họ. Bấy giờ người ta quyết định là Phaolô, Barnaba và một ít người khác thuộc phe họ, lên Giêrusalem gặp các Tông đồ và niên trưởng, để xin giải quyết vấn đề này. Bấy giờ các Tông đồ, kỳ lão, cùng toàn thể Hội thánh chấp thuận chọn ít người trong các ngài, và sai đi Antiôkia với Phaolô và Barnaba: đó là Giuđa, gọi là Barsaba, và Sila, những vị có uy thế giữa anh em. Các ngài nhờ tay hai ông chuyển bức thơ viết như sau: “Anh em Tông đồ và kỳ lão chúng tôi kính chào các anh em thuộc dân ngoại ở Antiôkia, Syria và Cilicia. Chúng tôi nghe tin rằng có mấy người trong chúng tôi đã đến nói những lời gây hoang mang và làm cho tâm hồn anh em xao xuyến, chúng tôi không uỷ quyền cho họ, vì thế chúng tôi họp lại, đồng ý chọn một ít người và sai đến anh em làm một với Barnaba và Phaolô, những anh em yêu quý của chúng tôi, tức là những người đã liều mạng sống mình vì danh Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta. Vậy chúng tôi đã sai Giuđa và Sila đến nói miệng với anh em cũng chính những lời này: Thánh Thần và chúng tôi xét rằng không nên đặt thêm cho anh em gánh nặng nào khác ngoài mấy điều cần kíp này là anh em hãy kiêng đồ cúng thần, huyết, thịt thú chết ngạt và gian dâm; giữ mình khỏi các điều đó là anh em làm phải. Chúc anh em vạn an”. Đó là lời Chúa. ĐÁP CA:  Tv 66, 2-3. 5-6 và 8  Đáp: Chư dân, hãy ca tụng Ngài, thân lạy Chúa, hết thảy chư dân hãy ca tụng Ngài  (c. 4). Hoặc đọc:  Alleluia. 1) Xin Thiên Chúa xót thương và chúc phúc lành cho chúng con, xin chiếu giãi trên chúng con ánh sáng tôn nhan Chúa, để trên địa cầu người ta nhìn biết đường lối của Ngài, cho chư dân thiên hạ được biết rõ ơn Ngài cứu độ.     –  Đáp. 2)   Các dân tộc hãy vui mừng hoan hỉ, vì Ngài công bình cai trị chư dân, và Ngài cai quản các nước địa cầu.     –  Đáp. 3)   Chư dân, hãy ca tụng Ngài, thân lạy Chúa, hết thảy chư dân hãy ca tụng Ngài! Xin Thiên Chúa chúc phúc lành cho chúng con, và cho khắp cùng bờ cõi trái đất kính sợ Ngài.     –  Đáp. BÀI ĐỌC II:  Kh 21, 10-14. 22-23  “Người chỉ cho tôi thấy thành thánh do Thiên Chúa từ trời gởi xuống”. Trích sách Khải Huyền của Thánh Gioan. Thiên Thần đem tôi lên một núi cao chót vót khi tôi ngất trí, và chỉ cho tôi thấy thành thánh Giêrusalem từ trời nơi Thiên Chúa mà xuống, chói lọi vinh quang Thiên Chúa. Ánh sáng của nó toả ra như đá quý, giống như ngọc thạch, óng ánh tựa pha lê. Thành có tường lũy cao lớn, trổ mười hai cổng, trên các cổng có mười hai thiên thần, và có khắc tên mười hai chi họ con cái Israel. Phía đông có ba cổng, phía bắc có ba cổng, Phía nam có ba cổng, và phía tây có ba cổng. Tường thành xây trên mười hai móng có khắc tên mười hai tông đồ của Con Chiên. Còn đền thờ, tôi không thấy có trong thành, vì Thiên Chúa toàn năng và Con Chiên là đền thờ của thành. Thành không cần mặt trời, mặt trăng chiếu soi: vì đã có vinh quang Thiên Chúa chiếu sáng nó, và đèn của nó chính là Con Chiên.  Đó là lời Chúa. ALLELUIA:  Ga 14, 23 Alleluia, alleluia! – Chúa phán: “Nếu ai yêu mến Thầy, thì sẽ giữ lời Thầy, và Cha Thầy sẽ yêu mến người ấy, và Chúng Ta sẽ đến và ở trong người ấy”. – Alleluia. PHÚC ÂM:  Ga 14, 23-29  “Thánh Thần sẽ nhắc nhở cho các con tất cả những gì Thầy đã nói với các con”. Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Gioan. Khi ấy, Chúa Giêsu phán cùng các môn đệ rằng: “Ai yêu mến Thầy, sẽ giữ lời Thầy, và Cha Thầy sẽ yêu mến người ấy, và Chúng Ta sẽ đến và ở trong người ấy. Kẻ không yêu mến Thầy, thì không giữ lời Thầy. Lời các … [Read more…]

Xa Mà Gần Gần Mà Xa  

– Lm. Maria Giuse Nguyễn Tuấn LongCâu chuyện người con hoang đàng trong Phúc Âm của Luca (năm C) là một trong những câu chuyện xúc tích nhất Chúa Giêsu đã dùng để miêu tả tình thương và lòng thương xót của Thiên Chúa đối với con người. Ba nhân vật chính—người cha và hai anh em—phản ánh rất sắc nét về bản tính và tâm lý của mỗi người chúng ta thường ngày. Tình thương của cha mẹ dành cho con cái là vô biên. Ngược lại, con cái thường có thái độ ngông cuồng, vô ơn, bất hiếu, và thờ ơ trước tình thương và sự quan tâm của cha mẹ. Tuy nhiên xét theo chiều kích tâm lý, đó là chuyện bình thường vì ai rồi cũng phải lớn lên theo thời gian và trải qua nhiều kinh nghiệm mới từ từ nghiệm ra được tình thương. Hình ảnh và thái độ của hai anh em phần nào liên tưởng chúng ta đến tầm quan trọng của kinh nghiệm trong đời sống đức tin. Sống đạo mà không có những kinh nghiệm thực tiễn thì nó cũng là một mớ kiến thức dựa trên lý thuyết và giáo điều. Kinh nghiệm sống cho dù là tốt hay xấu luôn cần thiết cho niềm tin, nhưng nó cũng là một cảm nghiệm dằn vặt nghiệt ngã: một là bỏ hai là tin. Kẻ nào mạnh lòng tin sẽ trở về. Càng thực tâm ăn năn xám hối kẻ ấy càng nghiệm xâu hơn về tình thương của Thiên Chúa. Dưới đây là đôi nét về thái độ của hai anh em giúp chúng ta tự xét mình: Người anh                               Người em– Giận dữ kể công                   – Hồi tâm nghĩ lại– Tự cho mình tốt hơn             – Xấu hổ bản thân với                                                 những gì đã làm– So sánh với người em           – Chấp nhận ngang như                                                 người làm– Bất mãn không vào nhà        – Hy vọng quay trở về– Gần cha nhưng xa lòng        – Xa cha nhưng vẫn tin                                                 vào hy vọng– Chưa vấp ngã nên                 – Vấp ngã dẫn đến cảm thiếu thông cảm                      nghiệm tình thương Suốt bao năm nay chúng ta sống đạo, vậy chúng ta đang đồng hành với Chúa bằng thái độ của người anh hay người em? Nếu là người anh, thì chúng ta nên làm gì để cảm nghiệm sâu xa về tình thương Thiên Chúa? Nếu là người em, thì chúng ta nên làm gì để truyền đạt cảm nghiệm hồng ân đó?   

Ăn Năn và Sự Kiên Nhẫn của Thiên Chúa

– Lm. Maria Giuse Nguyễn Tuấn LongTrong phần đầu Phúc Âm hôm nay, Chúa Giêsu nhấn mạnh đến sự ăn năn sám hối là điều kiện chính yếu để thoải khỏi hệ lụy diệt vong. Trong phần hai, Ngài hướng chúng ta đến lòng nhẫn nại của Thiên Chúa để đối chiếu với sự ăn năn con người. Hai điểm này được coi như là một giao thông hai chiều: Thiên Chúa kiên nhẫn với con người thì ngược lại con người phải biết ăn năn sám hối.   Một khi nói đến tình yêu thương của Thiên Chúa, chẳng có ngôn ngữ loài người nào đủ để diễn tả trọn vẹn tình yêu ấy. Tuy nhiên, tình yêu thương giữa cha mẹ và con cái có thể phần nào giúp chúng ta liên tưởng đến tình yêu của Thiên Chúa. Trước khi sanh con cái, hầu như ai cũng coi thường hay chưa hiểu thấu nỗi lòng của cha mẹ. Đến khi có con cái, ai cũng từ từ nghiệm ra tình yêu thương vô biên của cha mẹ. Cho dù đứa con mình sanh ra có hỗn xược đến đâu thì cha mẹ vẫn kiên trì yêu thương tha thứ. Càng vui mừng hơn khi đứa con hỗn xược đó biết nhận ra và tìm đường quay trở về bên cha mẹ. Nếu con người bình thường mà còn khoan dung đến thế, thì chẳng lẽ Thiên Chúa lại hẹp hòi với con người? Đến hôm nay, nhiều Kitô hữu chỉ chú trọng đến sự trừng phạt của Thiên Chúa hơn là suy gẫm sâu hơn về lòng thương xót của Ngài. Nếu chỉ chọn một  giữa sợ hãi và yêu mến Thiên Chúa, bạn sẽ chọn điều gì? Khi con cái đến với bạn, bạn muốn chúng sợ hãi mà đến hay vì yêu mến mà đến? Để đáp trả lòng khoan dung nhân từ của Thiên Chúa, ăn năn sám hối, đi xưng tội, tham gia việc bác ái là một trong những phương cách hữu hiệu chuyển quyết tâm thành hành động. Ăn năn mà thiếu hành động cũng chỉ là nửa vời. Chính hành động sẽ hun đúc quyết tâm và gia tăng thêm kinh nghiệm sống đạo để từ đó mối tương quan với con người sẽ liên kết mối tương quan của chúng ta với Thiên Chúa. Phương cách linh thao này đã và đang được chứng minh rất cụ thể qua đời sống các thánh như Vinh Sơn, Anphonsô, Phanxicô, Mẹ Têrêsa, Elizabeth Ann Seton v.v. Hơn nữa, càng dấn thân vào những công việc bác ái thì càng dễ đẩy xa những quyến rũ bất chính vì mọi thời gian đều được lấp đầy bởi những công việc có ý nghĩa. Trên lý thuyết mọi sự nghe có vẻ đơn giản, nhưng khi dấn thân vào thì nó lại là một chân trời khổ ải mới. Đương đầu với những thử thách với lòng tin, cậy, và mến cũng là cách ăn năn sám hối vì định nghĩa của việc ăn năn không chỉ có thụ động chừa tội mà còn bao gồm chủ động tham gia vào những công tác bác ái từ thiện. 

Luật Mới Của Chúa Giêsu

– Lm. Maria Giuse Nguyễn Tuấn LongDựa theo phân tích của các nhà chú giải Kinh Thánh, sự kiện gặp gỡ giữa Chúa Giêsu, Môsê, và Êlia trên núi mang một ý nghĩa mặc khải về sứ mệnh và căn tính của Chúa Giêsu: Môsê gắn liền với lề luật và Êlia là tiên tri (Hultgren, 2010; McLarty, 2007; Shauf, 2013). Với sự liên quan đến hai nhân vật gạo cội của Cựu Ước, tác giả Luca rất có thể muốn nhấn mạnh Chúa Giêsu là sự kiện toàn và là trọng tâm mà các tiên tri đã tiên báo cũng như lề luật mới của Ngài mang đậm nét nhân bản lấy con người làm trung tâm điểm thay vì lề luật. Tiếp theo, lời xác nhận từ đám mây càng cho thấy rõ chân dung và sứ vụ của Ngôi Hai dưới thế. Bởi thế, nghe theo lời Chúa Giêsu dạy cũng đồng nghĩa với lắng nghe thánh ý Cha. Như vậy, hành động xuống núi có thể được coi như là lời mời gọi dấn thấn đem chân lý Kitô vào đời.Nếu chúng ta để ý, người Do Thái dưới thời Cựu Ước lẫn Tân Ước, ngay cả đến hôm nay, vẫn rất coi trọng hình thức lề luật. Ai đã từng đi Do Thái thì cũng biết họ giữ luật ngày sabbát rất khắc khe. Có lần những khách hành hương chúng tôi (người Việt lẫn ngoại quốc) vào thăm mộ vua Đavít, người gác cổng bỗng nhiên quát tháo chúng tôi giữ thinh lặng một cách rất cộc cằng thô lỗ rồi bình thản cúi xuống đọc Kinh Thánh. Giả sử Chúa Giêsu là một trong những khách hành hương thì Ngài sẽ nói gì? Lề luật hay luật pháp luôn cần thiết trong xã hội, nhưng nó chỉ là phương tiện chứ không phải cùng đích. Chỉ có con người và mối tương quan với nhau mới chính là cùng đích. Nếu con người biết mến Chúa và yêu người cách thực thụ, thì lề luật sẽ trở nên dư thừa. Tuy nhiên, thực tế đã và đang cho thấy bản ngã con người luôn cần đến khuôn khổ luật pháp. Dẫu sao thì luật mới của Chúa Giêsu dạy chúng ta yêu người như chính mình, làm cho người khác điều mình muốn, và tha thứ kẻ thù v.v. luôn là thách đố cũng như là kim chỉ nam chính xác hướng chúng ta đến với chân thiện mỹ mỗi ngày.

Ba Cơn Cám Dỗ

– Lm. Maria Giuse Nguyễn Tuấn Long Ba cám dỗ Chúa Giêsu đã đối đầu với ma quỷ: đói, quyền lực, và cậy dựa vào kẻ khác. Thông thường cái đói thể xác dễ làm con người trở nên suy nhược tinh thần và quỵ lụy trước miếng ăn. Thực tế sống đã và đang chứng minh điều này. Khi có của ăn thức uống đầy đủ, con người dễ nói chuyện luân lý đạo đức, nhưng khi đối mặt với túng thiếu đói nghèo, sống luân lý đạo đức quả là một cực hình. Lý thuyết đạo đức dần dần được giảm xuống chỉ còn là một diễn giải cá nhân để biện hộ cho hành động kiếm ăn. Sống đức tin bị kẹt giữa lý trí và bản năng sinh tồn. Cám dỗ thứ hai là quyền lực và vinh quang thế gian điều mà con người luôn mê mẩn khát khao vì có quyền là có tiền. Có tiếng là có miếng. Có danh là có lơi. Quyền lực có một sức hút vô hình rất mãnh liệt và điển hình nó được thể hiện rất rõ nét ở những chính trị gia. Có người nắm quyền hành cả chục năm nhưng vẫn luôn muốn bám trụ ở độ tuổi xế chiều. Tại sao họ không vui hưởng sự an nhàn của quãng đời còn lại? Cuộc sống và suy nghĩ con người chẳng ai giống ai. Cơn cám dỗ cuối của Chúa là sự cậy dựa vào thiên thần gìn giữ. Con người thường có khuynh hướng cậy dựa vào thân thế hay quen biết những người có quyền lực trong xã hội. Để thành công trong đời thường và nhất là trong quân đội, nó không chỉ quan trọng là chúng biết gì mà chúng ta cần phải biết ai và ai biết mình. Ví dụ: Một vị tướng sẽ rộng đường thăng hoa một khi được bộ trưởng quốc phòng hay tổng thống biết đến tên tuổi. Tất cả những thứ này đều thừa thãi và không cần thiết đối với Chúa Giêsu và Ngài đã chứng minh và chu toàn sứ mệnh mà chẳng cần đến những phương tiện này. Trở về với cuộc sống thường ngày của chúng ta trong mùa Chay này, ba cám dỗ trên là những cám dỗ tiêu biểu để chúng ta suy gẫm sâu xa hơn về cuộc chiến tâm linh mà mỗi người chúng ta đang phải đối diện và vật lộn giữa thể xác và tinh thần, lý trí và bản năng, tâm linh hay/và tâm lý. Bị cám dỗ không phải là tội, nhưng xa chước cám dỗ mới thành tội. Vậy để phần nào tránh xa chước những cám dỗ, mỗi người chúng ta nên dành thời gian tĩnh lặng suy gẫm, cầu nguyện, và tham gia những công việc bác ái từ thiện. 

Kitô Hữu Đích Thực

– ĐÔ. Phaolo Phan Văn HiềnPhê phán tiêu cực về người khác là một tật xấu gắn liền với bản tính con người từ ngàn xưa cho đến ngày nay. Tật xấu này bắt nguồn từ tính tự kiêu, muốn mình nổi bật, nên tìm mọi cách để đè bẹp, hạ bệ người khác, dù phải nói sai sự thật, vu khống bất công, vì nghĩ rằng làm như vậy mình sẽ được nâng cao lên.   Bài đọc I của sách Huấn Ca trong Chúa Nhật hôm nay đã khuyến cáo dân chúng nên phân biệt người tốt xấu qua chính lời nói của họ: “Nết xấu của một người cũng xuất hiện trong lời nói… Xem trái liền biết cây thế nào, thì nghe lời nói cũng biết tư tưởng lòng người như thể ấy”.  Lời chỉ dạy của sách Huấn Ca trên đây phản ảnh một phần nào giáo huấn của Chúa Giêsu trong bài Tin Mừng của Thánh Luca hôm nay. Chúa Giêsu lên án những ai phê phán một cách bất cẩn, bất công, vội vàng với hậu ý xấu về thái độ, cảm xúc, ý hướng và hành động của người khác. Ngài dùng hình ảnh hai người mù dẫn đường cho nhau, và hình ảnh một người tìm cách lấy cọng rác trong mắt người khác mà quên trước hết phải lấy cái đà lớn ra khỏi mắt mình, để nói lên kiểu sống giả dối, lố bịch của hạng người này.Một cách cụ thể, đây chính là hạng người chuyên nói hành nói xấu, bịa đặt phao tin, ngồi lê đôi mách. Và như vậy, họ hủy hoại danh dự của người khác một cách trầm trong đến nỗi không thể nào hàn gắn lại được. Chúa Giêsu đã ví họ như những cây xấu, suốt đời không thể sinh trái tốt. Và tất nhiên, đó không phải là cách sống của người Ki tô hữu. Vậy đâu là cách sống của người Ki tô hữu đích thực. Người Ki tô hữu đích thực là người biết dùng lời nói của mình để đem lại bình an, hiệp nhất, niềm vui và hy vọng cho những người chung quanh. Cuộc đời họ gắn liền với Đức Ki tô qua việc cầu nguyện và sống theo lời Ngài chỉ dạy, nên họ nhận ra được tất cả mọi người đều là anh chị em của mình, thật tâm yêu mến, và muốn cho nhau những điều tốt đẹp nhất. Chính nhờ đó, họ luôn tôn trọng người khác, và để quyền phán xét cho một mình Thiên Chúa.Cuộc đời Đức Hồng Y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận là một mẫu gương của người Ki tô hữu đích thực. Ngài xem 13 năm tù như là một cuộc tĩnh tâm dài, không hề oán hận, than trách bất kỳ một ai. Trái lại, Ngài luôn yêu thương mọi người, kể cả những kẻ canh gác Ngài, vì Ngài nhận ra được chính những người có thái độ thù nghịch này cũng là con cái của Thiên Chúa, và đáng được yêu thương hơn. Ngài tin hoàn toàn vào Chúa. Kinh nghiệm này được Ngài viết lại trong cuốn sách Đường Hy Vọng: “Giữa những đau khổ, oan ức, những giả dối, bất công, con hãy vững vàng tuyên xưng với toàn thể dân Chúa: “Và người sẽ trở lại trong vinh quang, để phán xét kẻ sống và kẻ chết, nước Người sẽ không bao giờ cùng.” (ĐHV 679) Và để trở thành Ki tô hữu đích thực, Ngài khuyến khích mỗi người chúng ta: “Hãy nhìn mọi sự với con mắt của Thiên Chúa, con sẽ thấy giá trị khác, kích thước khác” ĐHV 111). 

Hãy Yêu Thương Kẻ Thù

– Lm. Joseph Kim ĐăngChúa Giêsu dạy các môn đệ của Ngài rằng: “Hãy yêu thương kẻ thù của mình, hãy làm điều tốt cho những kẻ ghét mình, hãy chúc lành cho những kẻ nguyền rủa mình, và còn cầu nguyện cho những người đã bạc đãi mình, đối xử tàn tệ với mình”. Tất cả những điều ấy đều là những bài học nặng ký, nhưng riêng bài học “hãy yêu thương kẻ thù của mình” thì đó là điều vượt ra ngoài giới hạn của con người. Tức là nó không còn là ở cấp độ con người nữa, mà là ở cấp độ thần tiên rồi.   Là loài người, tha thứ cho kẻ thù thì chúng ta có thể làm được, hay giúp đỡ kẻ thù một chút khi họ gặp khốn khó thì cũng còn hiểu được. Nhưng để yêu thương kẻ thù, thì tâm lý con người không thể làm nổi. Chỉ có ơn Chúa, chúng ta mới làm được. Gần như không hề có tôn giáo nào, không có một triết học nào dạy người ta yêu thương kẻ thù cả. Chỉ có Chúa Giêsu dạy chúng ta, dạy môn đệ của Ngài “yêu thương kẻ thù”. Đây là điều rất thần thánh từ trên trời, chứ loài người có bao giờ nghĩ ra chuyện “yêu thương kẻ thù của mình”?Trở lại bài đọc I phụng vụ Lời Chúa hôm nay, lấy từ sách Tiên Tri Sa-mu-en kể về chuyện vị tướng trẻ David tha thứ cho vua Saolê. Khi Saolê có lòng nghi kỵ, định giết David, vì sợ David chiếm ngôi, thì David bỏ chạy và Saolê đuổi theo để giết. Có lúc Saolê quá mệt nên ngủ trong một hang đá, và David cũng trốn ở hang đá đó. Đây là cơ hội tốt để trả thù lại Saolê, nhưng David đã bỏ qua không lấy mạng ông. Tuy nhiên, trong bài Phúc âm hôm nay, Chúa dạy chúng ta ở cấp cao nhất của sự tha thứ, đó là “yêu thương cả kẻ thù”, và điều này thật khó hiểu với chúng ta phải không? Sách Sáng Thế Ký cho chúng ta biết rằng, loài người được dựng nên theo hình ảnh của Thiên Chúa, chỉ điều đó không thôi đã là quý lắm rồi; nhưng khi Chúa Giêsu xuống thế làm người và cho các môn đệ được làm anh em với Ngài, thì điều đó đã nâng con người lên một bậc cao hơn, đáng quý hơn. Hay nói cách khác, Chúa Giêsu đồng hóa chúng ta để chúng ta được làm con cái của Thiên Chúa, qua việc Ngài dạy chúng ta đọc “kinh Lạy Cha”. Vì loài người đã được Thiên Chúa dựng nên theo hình ảnh tốt đẹp này, mà lỡ có những ai làm hình ảnh đó củaThiên Chúa xấu đi trong họ, thì chúng ta cũng không có quyền ghét họ. Nếu như, bao lâu chúng ta có thể chăm sóc giúp đỡ họ, và điều cao cấp nhất đó là yêu thương họ như chính Chúa yêu họ, thì chúng ta đã bắt đầu trở thành những môn đệ đích thực rồi. Chỉ khi nào chúng ta ngẫm nghĩ ra được rằng, Thiên Chúa đã tạo dựng chúng ta theo hình ảnh của chính Ngài, và tất cả chúng ta được làm con cái của Ngài, thì lúc đó chúng ta sẽ dễ bỏ qua cho nhau hơn. Vì vậy, câu chuyện sau đây sẽ giúp chúng ta hiểu lời dạy của Chúa Giêsu nhiều hơn: Một bà mẹ trẻ đang làm bếp, thì đứa con chạy đến nói: “Mẹ, em nó đánh con đau quá!” rồi khóc bù lu bù loa. Người mẹ chạy ra và bảo: “Con đau ở đâu? đưa mẹ xoa cho bớt đau”. Sau đó đứa con mới hỏi mẹ: “Em nó đánh con, thế bây giờ con chạy ra đánh em một cái, cho nó công bằng, cho nó huề nhé mẹ?”. Người mẹ nói với con rằng: “Không, con không nên đánh em”. Đứa con hỏi lại: “Tại sao vậy mẹ?” Người mẹ trả lời: “Khi em đánh con, con bị đau, thì mẹ cũng đã bị đau một lần rồi. Nhưng nếu bây giờ con trả thù, con đánh lại em cũng y như vậy, thì mẹ sẽ phải chịu đau đến hai lần. Nếu con bỏ qua cho em, thương em, thì con bị đau có một lần, và mẹ cũng chỉ đau có một lần; thay vì con đánh lại em, thì mẹ sẽ phải chịu đau đến hai lần”. 

Phúc Thật Tám Mối

– Lm. Joseph Kim ĐăngBài Phúc Thật Tám Mối do chính Chúa Giêsu giảng và được cả hai Thánh ký là Lu-ca và Mát-Thêu ghi lại.   Thánh Lu-ca ghi lại trong Phúc Âm của Ngài (6.17-26): “Phúc cho ai có tinh thần nghèo khó, vì nước trời là của họ…” Nhưng Lu-ca chỉ ghi lại có 4 điều phúc. Gần đây Giáo Hội sắp xếp lại bài đọc trong năm, thì bài Phúc Thật Tám Mối này được dùng trong nhiều thánh lễ khác nhau, để nói lên rằng: Thiên Chúa chúng ta là Thiên Chúa của các phúc lành.   Thiên Chúa chỉ chờ những cơ hội trong cuộc đời chúng ta để Ngài ban thêm nhiều phúc lành cho chúng ta. Thật ra Thiên Chúa ban cho chúng ta nhiều mối phúc lắm chứ không phải chỉ có Tám Mối. Người ta gọi Phúc Thật Tám Mối cho thuận miệng dễ nhớ. Riêng ngày hôm nay chúng ta chỉ chú tâm đến một điều trong “Phúc Thật Tám Mối” để chúng ta suy gẫm sâu xa hơn. Đó là “phúc cho những ai có TINH THẦN nghèo khó, vì Nước Trời là của họ“. Vào thời xưa nói chung, hay thời của Chúa Giêsu nói riêng, có rất ít người giầu, chỉ có một vài người thuộc Hoàng Gia có họ hàng thân thuộc với nhà vua, hoặc một vài thương gia mới giầu có. Còn lại tất cả dân chúng đều nghèo, và thời đó chưa có giới trung lưu (middle class). Chính vì thế mà những người giầu muốn bảo vệ quyền lợi của họ, thì họ thường bóc lột cách này, cách khác, hay họ phải mua lấy chức tước để cai trị người khác. Đó là tình hình xảy ra mấy ngàn năm trước, vì vậy mà người nghèo là người bị thiệt thòi đủ mọi điều, và họ thường bị khinh khi, bóc lột bởi giới nhà giầu. Chính vì thế mà Chúa nói lên cái phúc đầu tiên, là cho tất cả những người nghèo. Thật ra đó gần như là tất cả dân chúng, vì đại đa số đều nghèo, “Phúc cho ai có tinh thần nghèo khó, vì nước trời là của họ”. Câu của bản gốc chỉ là “Phúc cho những ai nghèo khó”, nhưng các học giả muốn dịch câu cho trơn, thì viết là “Phúc cho những ai có TINH THẦN nghèo khó”, bởi vì có sự móc nối điều Chúa dạy về những người nghèo khó này, với phúc lành của Chúa dành cho những ai trông cậy Ngài. Đây là chủ đề rất lớn – chủ đề “Người nghèo của Thiên Chúa” hay “Người nghèo của Giavê”. Chủ đề trên không lưu tâm gì mấy đến việc người ta có của cải nhiều hay ít. Điều quan trọng là họ có trọn “Niềm Trông Cậy” vào Thiên Chúa hay không. Cho nên đối với người nghèo của Giavê – của Thiên Chúa, cho dù Chúa cho họ nhiều hay ít,  hay ở trong bất cứ hoàn cảnh nào thì họ vẫn không đổi lòng, vẫn luôn trông cậy vào Thiên Chúa. Đó là hình ảnh người nghèo của Giavê mà Kinh Thánh nhắc tới, chứ không phải chỉ nói đến người nghèo về địa vị, tiền bạc. Điều này cũng nhắc nhở chúng ta về chủ đề “người nghèo” trong bài kinh Magnificat. Đức Mẹ cũng nói lên sự tương phản giữa giầu và nghèo, sự đối lập giữa những kẻ có quyền hành, và những kẻ bị bắt nạt, bị bách hại. Magnificat cũng phản ảnh thật mạnh mẽ chủ để “Người nghèo của Giavê” khi Đức Mẹ nói “kẻ đói nghèo Chúa ban của dư đầy, còn người giầu có thì đuổi về tay trắng.” Yếu tố đối nghịch trong kinh Magnificat và trong “Phúc Thật Tám Mối” có nhiều nét rất giống nhau, vì có cùng một chủ đề “Người nghèo của Giavê”. Vì vậy, để có một kết luận có ích lợi cho chúng ta, lần này chúng ta nhắc nhở nhau, nhắc nhở chính mình, cố gắng học lấy một điều thôi, đó là dốc lòng trông cậy vào Thiên Chúa. Dù Chúa cho mình giầu, hay vẫn còn nghèo. Khi khỏe mạnh, cũng như những lúc ta bị bệnh tật, khi ta thành công hay thất bại, lúc nào ta cũng tập luyện trông cậy vào Chúa, luôn  trọn niềm tin tưởng vào Chúa, thì chúng ta sẽ được liệt vào loại  “Người nghèo của Giavê” – “Người nghèo của Thiên Chúa” và cái phúc mà ta được nhận sẽ là  “Nước Trời là của họ”, điều mà do chính Chúa Giêsu dạy và hứa với chúng ta và Ngài đã hứa, thì chắc chắn Ngài sẽ ban cho chúng ta.

Mẻ Cá Lớn

– Lm. Joseph Kim ĐăngVào khoảng thời gian này năm trước, tôi đang thoải mái đọc sách ở kè đá ngoài bờ biển Long Beach, thì có một bà mẹ trẻ, bế một đứa con trai khoảng 4 tuổi đến hỏi thăm. Khi đến gần, bà mới khám phá ra tôi không phải cùng là người da trắng, hình như bà cũng ngại ngại, vì bà từ xa đến và không quen gặp người Á Châu. Bà ta hỏi vội: “Xin lỗi ngài, tôi đang lạc đường, và ngài có nói được Tiếng Anh không?”. Tôi trả lời: “Tôi cũng nói được một chút Tiếng Anh”. Sau đó bà hỏi thăm, rồi chúng tôi nói chuyện với nhau, tôi mới biết là cả gia đình bà sắp đi Phi Châu. Tức là cả hai vợ chồng bà và cháu nhỏ 4 tuổi qua đó để truyền giáo trong vòng vài năm.   Bà chia sẻ: “Chúa ban cho chúng tôi nhiều quá. Chúng tôi biết ơn Chúa, chúng tôi muốn hy sinh một vài năm để mang niềm vui, mang hạnh phúc đến cho người khác. Vì vậy mà chúng tôi muốn sang Phi Châu để truyền giáo”.   Điều mà bà chia sẻ với tôi, đã nhắc nhở tôi về một nguyên tắc tâm lý phổ thông. Đó là, những ai đã cảm thấy mình nhận được nhiều, thì họ sẵn sàng cho đi một cách dễ dàng hơn.Còn những ai cảm thấy là mình chưa nhận được đủ, thì lúc nào cũng cố gắng vơ vét cho mình. Gia đình trẻ này cảm thấy đã nhận được ơn Chúa quá nhiều, cho nên họ tìm cách đi truyền giáo, giúp cho những người khác được biết đến Chúa, được hạnh phúc như họ đã cảm thấy trong đức tin của họ.Vì vậy mà câu chuyện này trở lại trong trí nhớ của tôi khi tôi chuẩn bị cho bài giảng trong tuần thứ V hôm nay. Bài Phúc Âm hôm nay vẽ ra hình ảnh những người đánh cá ở Galilê thời đó… Khi họ nhận được mẻ cá lớn, đáng ra họ vẫn tiếp tục đánh cá để làm giàu chứ nhỉ? Nhưng không phải vậy! Câu chuyện rất thú vị ở Capernaum ngày hôm đó là, ở ngoài chợ, chỗ nào cũng thấy cá, mà cá rất lớn. Và mọi người trầm trồ nói với nhau rằng: “Ủa! Sao lâu nay đâu có thấy những con cá lớn như vậy, mà lại rất là nhiều nữa? Nhưng hình như không ai có thể giải thích, cho đến khi có một số người nói: “Cá đây là từ những người thuyền chài ở Galilê đó”. Người ta bắt đầu đi tìm họ, nhưng những người đánh cá xứ Galilê đã biến đâu mất, không còn ở đó nữa? Đến khi họ ra bờ biển tìm những người đánh cá Galilê này thì cũng không thấy họ ở đâu, chỉ thấy họ bỏ lại đằng sau tất cả thuyền bè, lưới chài còn họ đã đi mất. Lúc đó mọi người mới bắt đầu giật mình ngẫm nghĩ: hình như còn có một cái gì đó lớn hơn những mẻ cá lớn này (?), cho nên, họ bắt đầu nhận ra có một điều gì đó còn cao cả, quý giá hơn là cái mẻ cá lớn đã làm mọi người trầm trồ khen ngợi.

Lời Chào Giáng Sinh- Chúa Nhật 4 Mùa Vọng – Ngày 19 Tháng 12 – Năm C

Lời Chào Giáng Sinh – (Lm. Nguyễn Tuấn Long) – Lời chào của bà Isave dành cho Đức Maria là một trong những nền tảng thần học rõ ràng cho thấy Đức Mẹ là Mẹ Thiên Chúa: “Bởi đâu tôi được Mẹ Chúa tôi đến viếng thăm tôi?” Thần học Tin Lành phủ nhận đặc ân này của Đức Mẹ, nhưng Kinh Thánh viết rất rõ về điều này. Ở đây chúng ta không có đủ không gian và thời gian để đi sâu vào chi tiết, nhưng điều chính yếu trong Phúc Âm này muốn nhấn mạnh đến tầm quan trọng trong tương quan giữa đức tin và mầu nhiệm nhập thể của Thiên Chúa: “Phúc cho Bà là kẻ đã tin rằng lời Chúa phán cùng Bà sẽ được thực hiện.” Ai có niềm tin vào Thiên Chúa thì người đó không chỉ có hy vọng và bình an của Ngài mà còn có sự sống đời đời. Tuy nhiên, để cảm nghiệm sâu xa về sự huyền nhiệm đức tin, ai cũng phải trải qua những đau khổ và giày xéo trong tâm hồn như Đức Mẹ đã phải trải qua trong quyết định xin vâng hay khước từ, phải giải thích sao với người bạn đời Giuse và công luận sẽ xử phạt mình như thế nào với bào thai trong bụng. Đức Mẹ cũng là con người như chúng ta, nhưng Mẹ luôn để Lời Chúa làm kim chỉ nam dẫn đường cho đức tin của Mẹ. Bởi thế, niềm tin của Mẹ cũng là một lời chào chúc Giáng Sinh đến tất cả nhân loại: Thiên Chúa ở cùng chúng ta qua việc Mẹ đến thăm bà Isave. Không khí Giáng Sinh năm nay có vẻ trầm lặng hơn dưới đám mây u ám của những vụ xì căng đan, những bất đồng giữa Linh mục và giáo dân, giữa vợ chồng con cái và chung chung giữa những điều tiêu cực chung quanh. Buồn là một cảm giác và là một trạng thái tự nhiên không thể tránh đối với con người. Đó là cuộc sống! Vậy thì đức tin Kitô hữu có để làm gì? Chính trong những lúc Giáo hội lẫn xã hội đang đối diện với những bầy hầy tâm linh và bất ổn chính trị thì đó mới chính là những cơ hội tốt để người Kitô chứng minh và sống niềm tin của mình. Báo chí truyền thông có quyền đăng tin vịt, nhưng tin hay không vẫn tùy thuộc nơi mình. Khi còn trong Chủng viện, một cha giáo đã có khuyên các thầy nên nhìn đời qua lăn kính Phúc Âm chứ đừng ngược lại. Lạy Chúa, chúng con cảm tạ Chúa không chỉ vì đặc ân được làm con cái Chúa mà còn được Chúa và Đức Mẹ song hành mỗi ngày trong cuộc đời này. Xin Chúa tiếp tục chúc lành và thánh hóa bản thân và gia đình chúng con để làm những nhân chứng niềm tin giữa đời biết trông cậy và phó thác khi gian nan hoạn nạn, biết đón nhận mọi cảnh đời trong hy vọng, và biết nở nụ cười với mọi người chung quanh. Amen. Nhạc Hòa Tấu Giáng Sinh (48 phút) :