Luật Mới Của Chúa Giêsu

– Lm. Maria Giuse Nguyễn Tuấn LongDựa theo phân tích của các nhà chú giải Kinh Thánh, sự kiện gặp gỡ giữa Chúa Giêsu, Môsê, và Êlia trên núi mang một ý nghĩa mặc khải về sứ mệnh và căn tính của Chúa Giêsu: Môsê gắn liền với lề luật và Êlia là tiên tri (Hultgren, 2010; McLarty, 2007; Shauf, 2013). Với sự liên quan đến hai nhân vật gạo cội của Cựu Ước, tác giả Luca rất có thể muốn nhấn mạnh Chúa Giêsu là sự kiện toàn và là trọng tâm mà các tiên tri đã tiên báo cũng như lề luật mới của Ngài mang đậm nét nhân bản lấy con người làm trung tâm điểm thay vì lề luật. Tiếp theo, lời xác nhận từ đám mây càng cho thấy rõ chân dung và sứ vụ của Ngôi Hai dưới thế. Bởi thế, nghe theo lời Chúa Giêsu dạy cũng đồng nghĩa với lắng nghe thánh ý Cha. Như vậy, hành động xuống núi có thể được coi như là lời mời gọi dấn thấn đem chân lý Kitô vào đời.Nếu chúng ta để ý, người Do Thái dưới thời Cựu Ước lẫn Tân Ước, ngay cả đến hôm nay, vẫn rất coi trọng hình thức lề luật. Ai đã từng đi Do Thái thì cũng biết họ giữ luật ngày sabbát rất khắc khe. Có lần những khách hành hương chúng tôi (người Việt lẫn ngoại quốc) vào thăm mộ vua Đavít, người gác cổng bỗng nhiên quát tháo chúng tôi giữ thinh lặng một cách rất cộc cằng thô lỗ rồi bình thản cúi xuống đọc Kinh Thánh. Giả sử Chúa Giêsu là một trong những khách hành hương thì Ngài sẽ nói gì? Lề luật hay luật pháp luôn cần thiết trong xã hội, nhưng nó chỉ là phương tiện chứ không phải cùng đích. Chỉ có con người và mối tương quan với nhau mới chính là cùng đích. Nếu con người biết mến Chúa và yêu người cách thực thụ, thì lề luật sẽ trở nên dư thừa. Tuy nhiên, thực tế đã và đang cho thấy bản ngã con người luôn cần đến khuôn khổ luật pháp. Dẫu sao thì luật mới của Chúa Giêsu dạy chúng ta yêu người như chính mình, làm cho người khác điều mình muốn, và tha thứ kẻ thù v.v. luôn là thách đố cũng như là kim chỉ nam chính xác hướng chúng ta đến với chân thiện mỹ mỗi ngày.

Ba Cơn Cám Dỗ

– Lm. Maria Giuse Nguyễn Tuấn Long Ba cám dỗ Chúa Giêsu đã đối đầu với ma quỷ: đói, quyền lực, và cậy dựa vào kẻ khác. Thông thường cái đói thể xác dễ làm con người trở nên suy nhược tinh thần và quỵ lụy trước miếng ăn. Thực tế sống đã và đang chứng minh điều này. Khi có của ăn thức uống đầy đủ, con người dễ nói chuyện luân lý đạo đức, nhưng khi đối mặt với túng thiếu đói nghèo, sống luân lý đạo đức quả là một cực hình. Lý thuyết đạo đức dần dần được giảm xuống chỉ còn là một diễn giải cá nhân để biện hộ cho hành động kiếm ăn. Sống đức tin bị kẹt giữa lý trí và bản năng sinh tồn. Cám dỗ thứ hai là quyền lực và vinh quang thế gian điều mà con người luôn mê mẩn khát khao vì có quyền là có tiền. Có tiếng là có miếng. Có danh là có lơi. Quyền lực có một sức hút vô hình rất mãnh liệt và điển hình nó được thể hiện rất rõ nét ở những chính trị gia. Có người nắm quyền hành cả chục năm nhưng vẫn luôn muốn bám trụ ở độ tuổi xế chiều. Tại sao họ không vui hưởng sự an nhàn của quãng đời còn lại? Cuộc sống và suy nghĩ con người chẳng ai giống ai. Cơn cám dỗ cuối của Chúa là sự cậy dựa vào thiên thần gìn giữ. Con người thường có khuynh hướng cậy dựa vào thân thế hay quen biết những người có quyền lực trong xã hội. Để thành công trong đời thường và nhất là trong quân đội, nó không chỉ quan trọng là chúng biết gì mà chúng ta cần phải biết ai và ai biết mình. Ví dụ: Một vị tướng sẽ rộng đường thăng hoa một khi được bộ trưởng quốc phòng hay tổng thống biết đến tên tuổi. Tất cả những thứ này đều thừa thãi và không cần thiết đối với Chúa Giêsu và Ngài đã chứng minh và chu toàn sứ mệnh mà chẳng cần đến những phương tiện này. Trở về với cuộc sống thường ngày của chúng ta trong mùa Chay này, ba cám dỗ trên là những cám dỗ tiêu biểu để chúng ta suy gẫm sâu xa hơn về cuộc chiến tâm linh mà mỗi người chúng ta đang phải đối diện và vật lộn giữa thể xác và tinh thần, lý trí và bản năng, tâm linh hay/và tâm lý. Bị cám dỗ không phải là tội, nhưng xa chước cám dỗ mới thành tội. Vậy để phần nào tránh xa chước những cám dỗ, mỗi người chúng ta nên dành thời gian tĩnh lặng suy gẫm, cầu nguyện, và tham gia những công việc bác ái từ thiện. 

Kitô Hữu Đích Thực

– ĐÔ. Phaolo Phan Văn HiềnPhê phán tiêu cực về người khác là một tật xấu gắn liền với bản tính con người từ ngàn xưa cho đến ngày nay. Tật xấu này bắt nguồn từ tính tự kiêu, muốn mình nổi bật, nên tìm mọi cách để đè bẹp, hạ bệ người khác, dù phải nói sai sự thật, vu khống bất công, vì nghĩ rằng làm như vậy mình sẽ được nâng cao lên.   Bài đọc I của sách Huấn Ca trong Chúa Nhật hôm nay đã khuyến cáo dân chúng nên phân biệt người tốt xấu qua chính lời nói của họ: “Nết xấu của một người cũng xuất hiện trong lời nói… Xem trái liền biết cây thế nào, thì nghe lời nói cũng biết tư tưởng lòng người như thể ấy”.  Lời chỉ dạy của sách Huấn Ca trên đây phản ảnh một phần nào giáo huấn của Chúa Giêsu trong bài Tin Mừng của Thánh Luca hôm nay. Chúa Giêsu lên án những ai phê phán một cách bất cẩn, bất công, vội vàng với hậu ý xấu về thái độ, cảm xúc, ý hướng và hành động của người khác. Ngài dùng hình ảnh hai người mù dẫn đường cho nhau, và hình ảnh một người tìm cách lấy cọng rác trong mắt người khác mà quên trước hết phải lấy cái đà lớn ra khỏi mắt mình, để nói lên kiểu sống giả dối, lố bịch của hạng người này.Một cách cụ thể, đây chính là hạng người chuyên nói hành nói xấu, bịa đặt phao tin, ngồi lê đôi mách. Và như vậy, họ hủy hoại danh dự của người khác một cách trầm trong đến nỗi không thể nào hàn gắn lại được. Chúa Giêsu đã ví họ như những cây xấu, suốt đời không thể sinh trái tốt. Và tất nhiên, đó không phải là cách sống của người Ki tô hữu. Vậy đâu là cách sống của người Ki tô hữu đích thực. Người Ki tô hữu đích thực là người biết dùng lời nói của mình để đem lại bình an, hiệp nhất, niềm vui và hy vọng cho những người chung quanh. Cuộc đời họ gắn liền với Đức Ki tô qua việc cầu nguyện và sống theo lời Ngài chỉ dạy, nên họ nhận ra được tất cả mọi người đều là anh chị em của mình, thật tâm yêu mến, và muốn cho nhau những điều tốt đẹp nhất. Chính nhờ đó, họ luôn tôn trọng người khác, và để quyền phán xét cho một mình Thiên Chúa.Cuộc đời Đức Hồng Y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận là một mẫu gương của người Ki tô hữu đích thực. Ngài xem 13 năm tù như là một cuộc tĩnh tâm dài, không hề oán hận, than trách bất kỳ một ai. Trái lại, Ngài luôn yêu thương mọi người, kể cả những kẻ canh gác Ngài, vì Ngài nhận ra được chính những người có thái độ thù nghịch này cũng là con cái của Thiên Chúa, và đáng được yêu thương hơn. Ngài tin hoàn toàn vào Chúa. Kinh nghiệm này được Ngài viết lại trong cuốn sách Đường Hy Vọng: “Giữa những đau khổ, oan ức, những giả dối, bất công, con hãy vững vàng tuyên xưng với toàn thể dân Chúa: “Và người sẽ trở lại trong vinh quang, để phán xét kẻ sống và kẻ chết, nước Người sẽ không bao giờ cùng.” (ĐHV 679) Và để trở thành Ki tô hữu đích thực, Ngài khuyến khích mỗi người chúng ta: “Hãy nhìn mọi sự với con mắt của Thiên Chúa, con sẽ thấy giá trị khác, kích thước khác” ĐHV 111). 

Hãy Yêu Thương Kẻ Thù

– Lm. Joseph Kim ĐăngChúa Giêsu dạy các môn đệ của Ngài rằng: “Hãy yêu thương kẻ thù của mình, hãy làm điều tốt cho những kẻ ghét mình, hãy chúc lành cho những kẻ nguyền rủa mình, và còn cầu nguyện cho những người đã bạc đãi mình, đối xử tàn tệ với mình”. Tất cả những điều ấy đều là những bài học nặng ký, nhưng riêng bài học “hãy yêu thương kẻ thù của mình” thì đó là điều vượt ra ngoài giới hạn của con người. Tức là nó không còn là ở cấp độ con người nữa, mà là ở cấp độ thần tiên rồi.   Là loài người, tha thứ cho kẻ thù thì chúng ta có thể làm được, hay giúp đỡ kẻ thù một chút khi họ gặp khốn khó thì cũng còn hiểu được. Nhưng để yêu thương kẻ thù, thì tâm lý con người không thể làm nổi. Chỉ có ơn Chúa, chúng ta mới làm được. Gần như không hề có tôn giáo nào, không có một triết học nào dạy người ta yêu thương kẻ thù cả. Chỉ có Chúa Giêsu dạy chúng ta, dạy môn đệ của Ngài “yêu thương kẻ thù”. Đây là điều rất thần thánh từ trên trời, chứ loài người có bao giờ nghĩ ra chuyện “yêu thương kẻ thù của mình”?Trở lại bài đọc I phụng vụ Lời Chúa hôm nay, lấy từ sách Tiên Tri Sa-mu-en kể về chuyện vị tướng trẻ David tha thứ cho vua Saolê. Khi Saolê có lòng nghi kỵ, định giết David, vì sợ David chiếm ngôi, thì David bỏ chạy và Saolê đuổi theo để giết. Có lúc Saolê quá mệt nên ngủ trong một hang đá, và David cũng trốn ở hang đá đó. Đây là cơ hội tốt để trả thù lại Saolê, nhưng David đã bỏ qua không lấy mạng ông. Tuy nhiên, trong bài Phúc âm hôm nay, Chúa dạy chúng ta ở cấp cao nhất của sự tha thứ, đó là “yêu thương cả kẻ thù”, và điều này thật khó hiểu với chúng ta phải không? Sách Sáng Thế Ký cho chúng ta biết rằng, loài người được dựng nên theo hình ảnh của Thiên Chúa, chỉ điều đó không thôi đã là quý lắm rồi; nhưng khi Chúa Giêsu xuống thế làm người và cho các môn đệ được làm anh em với Ngài, thì điều đó đã nâng con người lên một bậc cao hơn, đáng quý hơn. Hay nói cách khác, Chúa Giêsu đồng hóa chúng ta để chúng ta được làm con cái của Thiên Chúa, qua việc Ngài dạy chúng ta đọc “kinh Lạy Cha”. Vì loài người đã được Thiên Chúa dựng nên theo hình ảnh tốt đẹp này, mà lỡ có những ai làm hình ảnh đó củaThiên Chúa xấu đi trong họ, thì chúng ta cũng không có quyền ghét họ. Nếu như, bao lâu chúng ta có thể chăm sóc giúp đỡ họ, và điều cao cấp nhất đó là yêu thương họ như chính Chúa yêu họ, thì chúng ta đã bắt đầu trở thành những môn đệ đích thực rồi. Chỉ khi nào chúng ta ngẫm nghĩ ra được rằng, Thiên Chúa đã tạo dựng chúng ta theo hình ảnh của chính Ngài, và tất cả chúng ta được làm con cái của Ngài, thì lúc đó chúng ta sẽ dễ bỏ qua cho nhau hơn. Vì vậy, câu chuyện sau đây sẽ giúp chúng ta hiểu lời dạy của Chúa Giêsu nhiều hơn: Một bà mẹ trẻ đang làm bếp, thì đứa con chạy đến nói: “Mẹ, em nó đánh con đau quá!” rồi khóc bù lu bù loa. Người mẹ chạy ra và bảo: “Con đau ở đâu? đưa mẹ xoa cho bớt đau”. Sau đó đứa con mới hỏi mẹ: “Em nó đánh con, thế bây giờ con chạy ra đánh em một cái, cho nó công bằng, cho nó huề nhé mẹ?”. Người mẹ nói với con rằng: “Không, con không nên đánh em”. Đứa con hỏi lại: “Tại sao vậy mẹ?” Người mẹ trả lời: “Khi em đánh con, con bị đau, thì mẹ cũng đã bị đau một lần rồi. Nhưng nếu bây giờ con trả thù, con đánh lại em cũng y như vậy, thì mẹ sẽ phải chịu đau đến hai lần. Nếu con bỏ qua cho em, thương em, thì con bị đau có một lần, và mẹ cũng chỉ đau có một lần; thay vì con đánh lại em, thì mẹ sẽ phải chịu đau đến hai lần”. 

Phúc Thật Tám Mối

– Lm. Joseph Kim ĐăngBài Phúc Thật Tám Mối do chính Chúa Giêsu giảng và được cả hai Thánh ký là Lu-ca và Mát-Thêu ghi lại.   Thánh Lu-ca ghi lại trong Phúc Âm của Ngài (6.17-26): “Phúc cho ai có tinh thần nghèo khó, vì nước trời là của họ…” Nhưng Lu-ca chỉ ghi lại có 4 điều phúc. Gần đây Giáo Hội sắp xếp lại bài đọc trong năm, thì bài Phúc Thật Tám Mối này được dùng trong nhiều thánh lễ khác nhau, để nói lên rằng: Thiên Chúa chúng ta là Thiên Chúa của các phúc lành.   Thiên Chúa chỉ chờ những cơ hội trong cuộc đời chúng ta để Ngài ban thêm nhiều phúc lành cho chúng ta. Thật ra Thiên Chúa ban cho chúng ta nhiều mối phúc lắm chứ không phải chỉ có Tám Mối. Người ta gọi Phúc Thật Tám Mối cho thuận miệng dễ nhớ. Riêng ngày hôm nay chúng ta chỉ chú tâm đến một điều trong “Phúc Thật Tám Mối” để chúng ta suy gẫm sâu xa hơn. Đó là “phúc cho những ai có TINH THẦN nghèo khó, vì Nước Trời là của họ“. Vào thời xưa nói chung, hay thời của Chúa Giêsu nói riêng, có rất ít người giầu, chỉ có một vài người thuộc Hoàng Gia có họ hàng thân thuộc với nhà vua, hoặc một vài thương gia mới giầu có. Còn lại tất cả dân chúng đều nghèo, và thời đó chưa có giới trung lưu (middle class). Chính vì thế mà những người giầu muốn bảo vệ quyền lợi của họ, thì họ thường bóc lột cách này, cách khác, hay họ phải mua lấy chức tước để cai trị người khác. Đó là tình hình xảy ra mấy ngàn năm trước, vì vậy mà người nghèo là người bị thiệt thòi đủ mọi điều, và họ thường bị khinh khi, bóc lột bởi giới nhà giầu. Chính vì thế mà Chúa nói lên cái phúc đầu tiên, là cho tất cả những người nghèo. Thật ra đó gần như là tất cả dân chúng, vì đại đa số đều nghèo, “Phúc cho ai có tinh thần nghèo khó, vì nước trời là của họ”. Câu của bản gốc chỉ là “Phúc cho những ai nghèo khó”, nhưng các học giả muốn dịch câu cho trơn, thì viết là “Phúc cho những ai có TINH THẦN nghèo khó”, bởi vì có sự móc nối điều Chúa dạy về những người nghèo khó này, với phúc lành của Chúa dành cho những ai trông cậy Ngài. Đây là chủ đề rất lớn – chủ đề “Người nghèo của Thiên Chúa” hay “Người nghèo của Giavê”. Chủ đề trên không lưu tâm gì mấy đến việc người ta có của cải nhiều hay ít. Điều quan trọng là họ có trọn “Niềm Trông Cậy” vào Thiên Chúa hay không. Cho nên đối với người nghèo của Giavê – của Thiên Chúa, cho dù Chúa cho họ nhiều hay ít,  hay ở trong bất cứ hoàn cảnh nào thì họ vẫn không đổi lòng, vẫn luôn trông cậy vào Thiên Chúa. Đó là hình ảnh người nghèo của Giavê mà Kinh Thánh nhắc tới, chứ không phải chỉ nói đến người nghèo về địa vị, tiền bạc. Điều này cũng nhắc nhở chúng ta về chủ đề “người nghèo” trong bài kinh Magnificat. Đức Mẹ cũng nói lên sự tương phản giữa giầu và nghèo, sự đối lập giữa những kẻ có quyền hành, và những kẻ bị bắt nạt, bị bách hại. Magnificat cũng phản ảnh thật mạnh mẽ chủ để “Người nghèo của Giavê” khi Đức Mẹ nói “kẻ đói nghèo Chúa ban của dư đầy, còn người giầu có thì đuổi về tay trắng.” Yếu tố đối nghịch trong kinh Magnificat và trong “Phúc Thật Tám Mối” có nhiều nét rất giống nhau, vì có cùng một chủ đề “Người nghèo của Giavê”. Vì vậy, để có một kết luận có ích lợi cho chúng ta, lần này chúng ta nhắc nhở nhau, nhắc nhở chính mình, cố gắng học lấy một điều thôi, đó là dốc lòng trông cậy vào Thiên Chúa. Dù Chúa cho mình giầu, hay vẫn còn nghèo. Khi khỏe mạnh, cũng như những lúc ta bị bệnh tật, khi ta thành công hay thất bại, lúc nào ta cũng tập luyện trông cậy vào Chúa, luôn  trọn niềm tin tưởng vào Chúa, thì chúng ta sẽ được liệt vào loại  “Người nghèo của Giavê” – “Người nghèo của Thiên Chúa” và cái phúc mà ta được nhận sẽ là  “Nước Trời là của họ”, điều mà do chính Chúa Giêsu dạy và hứa với chúng ta và Ngài đã hứa, thì chắc chắn Ngài sẽ ban cho chúng ta.

Mẻ Cá Lớn

– Lm. Joseph Kim ĐăngVào khoảng thời gian này năm trước, tôi đang thoải mái đọc sách ở kè đá ngoài bờ biển Long Beach, thì có một bà mẹ trẻ, bế một đứa con trai khoảng 4 tuổi đến hỏi thăm. Khi đến gần, bà mới khám phá ra tôi không phải cùng là người da trắng, hình như bà cũng ngại ngại, vì bà từ xa đến và không quen gặp người Á Châu. Bà ta hỏi vội: “Xin lỗi ngài, tôi đang lạc đường, và ngài có nói được Tiếng Anh không?”. Tôi trả lời: “Tôi cũng nói được một chút Tiếng Anh”. Sau đó bà hỏi thăm, rồi chúng tôi nói chuyện với nhau, tôi mới biết là cả gia đình bà sắp đi Phi Châu. Tức là cả hai vợ chồng bà và cháu nhỏ 4 tuổi qua đó để truyền giáo trong vòng vài năm.   Bà chia sẻ: “Chúa ban cho chúng tôi nhiều quá. Chúng tôi biết ơn Chúa, chúng tôi muốn hy sinh một vài năm để mang niềm vui, mang hạnh phúc đến cho người khác. Vì vậy mà chúng tôi muốn sang Phi Châu để truyền giáo”.   Điều mà bà chia sẻ với tôi, đã nhắc nhở tôi về một nguyên tắc tâm lý phổ thông. Đó là, những ai đã cảm thấy mình nhận được nhiều, thì họ sẵn sàng cho đi một cách dễ dàng hơn.Còn những ai cảm thấy là mình chưa nhận được đủ, thì lúc nào cũng cố gắng vơ vét cho mình. Gia đình trẻ này cảm thấy đã nhận được ơn Chúa quá nhiều, cho nên họ tìm cách đi truyền giáo, giúp cho những người khác được biết đến Chúa, được hạnh phúc như họ đã cảm thấy trong đức tin của họ.Vì vậy mà câu chuyện này trở lại trong trí nhớ của tôi khi tôi chuẩn bị cho bài giảng trong tuần thứ V hôm nay. Bài Phúc Âm hôm nay vẽ ra hình ảnh những người đánh cá ở Galilê thời đó… Khi họ nhận được mẻ cá lớn, đáng ra họ vẫn tiếp tục đánh cá để làm giàu chứ nhỉ? Nhưng không phải vậy! Câu chuyện rất thú vị ở Capernaum ngày hôm đó là, ở ngoài chợ, chỗ nào cũng thấy cá, mà cá rất lớn. Và mọi người trầm trồ nói với nhau rằng: “Ủa! Sao lâu nay đâu có thấy những con cá lớn như vậy, mà lại rất là nhiều nữa? Nhưng hình như không ai có thể giải thích, cho đến khi có một số người nói: “Cá đây là từ những người thuyền chài ở Galilê đó”. Người ta bắt đầu đi tìm họ, nhưng những người đánh cá xứ Galilê đã biến đâu mất, không còn ở đó nữa? Đến khi họ ra bờ biển tìm những người đánh cá Galilê này thì cũng không thấy họ ở đâu, chỉ thấy họ bỏ lại đằng sau tất cả thuyền bè, lưới chài còn họ đã đi mất. Lúc đó mọi người mới bắt đầu giật mình ngẫm nghĩ: hình như còn có một cái gì đó lớn hơn những mẻ cá lớn này (?), cho nên, họ bắt đầu nhận ra có một điều gì đó còn cao cả, quý giá hơn là cái mẻ cá lớn đã làm mọi người trầm trồ khen ngợi.

Lời Chào Giáng Sinh- Chúa Nhật 4 Mùa Vọng – Ngày 19 Tháng 12 – Năm C

Lời Chào Giáng Sinh – (Lm. Nguyễn Tuấn Long) – Lời chào của bà Isave dành cho Đức Maria là một trong những nền tảng thần học rõ ràng cho thấy Đức Mẹ là Mẹ Thiên Chúa: “Bởi đâu tôi được Mẹ Chúa tôi đến viếng thăm tôi?” Thần học Tin Lành phủ nhận đặc ân này của Đức Mẹ, nhưng Kinh Thánh viết rất rõ về điều này. Ở đây chúng ta không có đủ không gian và thời gian để đi sâu vào chi tiết, nhưng điều chính yếu trong Phúc Âm này muốn nhấn mạnh đến tầm quan trọng trong tương quan giữa đức tin và mầu nhiệm nhập thể của Thiên Chúa: “Phúc cho Bà là kẻ đã tin rằng lời Chúa phán cùng Bà sẽ được thực hiện.” Ai có niềm tin vào Thiên Chúa thì người đó không chỉ có hy vọng và bình an của Ngài mà còn có sự sống đời đời. Tuy nhiên, để cảm nghiệm sâu xa về sự huyền nhiệm đức tin, ai cũng phải trải qua những đau khổ và giày xéo trong tâm hồn như Đức Mẹ đã phải trải qua trong quyết định xin vâng hay khước từ, phải giải thích sao với người bạn đời Giuse và công luận sẽ xử phạt mình như thế nào với bào thai trong bụng. Đức Mẹ cũng là con người như chúng ta, nhưng Mẹ luôn để Lời Chúa làm kim chỉ nam dẫn đường cho đức tin của Mẹ. Bởi thế, niềm tin của Mẹ cũng là một lời chào chúc Giáng Sinh đến tất cả nhân loại: Thiên Chúa ở cùng chúng ta qua việc Mẹ đến thăm bà Isave. Không khí Giáng Sinh năm nay có vẻ trầm lặng hơn dưới đám mây u ám của những vụ xì căng đan, những bất đồng giữa Linh mục và giáo dân, giữa vợ chồng con cái và chung chung giữa những điều tiêu cực chung quanh. Buồn là một cảm giác và là một trạng thái tự nhiên không thể tránh đối với con người. Đó là cuộc sống! Vậy thì đức tin Kitô hữu có để làm gì? Chính trong những lúc Giáo hội lẫn xã hội đang đối diện với những bầy hầy tâm linh và bất ổn chính trị thì đó mới chính là những cơ hội tốt để người Kitô chứng minh và sống niềm tin của mình. Báo chí truyền thông có quyền đăng tin vịt, nhưng tin hay không vẫn tùy thuộc nơi mình. Khi còn trong Chủng viện, một cha giáo đã có khuyên các thầy nên nhìn đời qua lăn kính Phúc Âm chứ đừng ngược lại. Lạy Chúa, chúng con cảm tạ Chúa không chỉ vì đặc ân được làm con cái Chúa mà còn được Chúa và Đức Mẹ song hành mỗi ngày trong cuộc đời này. Xin Chúa tiếp tục chúc lành và thánh hóa bản thân và gia đình chúng con để làm những nhân chứng niềm tin giữa đời biết trông cậy và phó thác khi gian nan hoạn nạn, biết đón nhận mọi cảnh đời trong hy vọng, và biết nở nụ cười với mọi người chung quanh. Amen. Nhạc Hòa Tấu Giáng Sinh (48 phút) :

Từ Bỏ Để Sống Yêu Thương

– ĐÔ. Phaolô Phan Văn HiềnĐức Cố Hồng Y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận, trong thời gian mất tự do, đã suy nghĩ về những lối sống làm cản trở đời sống thiêng liêng của người Ki tô hữu, được Ngài xem như là những bệnh thiêng liêng cần phải được chữa trị. Có tất cả 10 bệnh, được gọi là Thập Đại Bệnh; và một trong số 10 căn bệnh đó chính là “Bệnh Phô Trương”. Bệnh này được nhìn thấy nơi các luật sĩ trong bài Tin Mừng hôm nay. Chúa Giê-su khuyến cáo dân chúng: “Các ngươi hãy coi chừng bọn luật sĩ. Họ thích đi lại trong bộ áo thụng, ưa được bái chào ngoài công trường, chiếm những ghế nhất trong hội đường và trong đám tiệc.”   Bệnh phô trương gắn liền với bản tính con người từ xưa đến nay. Bệnh này còn có một tên gọi khác đó là háo danh. Đây chỉ là mặt nổi của tính kiêu ngạo, đứng đầu trong 7 mối tội đầu. Và người kiêu ngạo vì luôn thấy mình trổi vượt hơn người khác, và cảm thấy quá đầy đủ, nên không cần ai phụ giúp. Họ có thể ví như một tách trà mà nước đã đầy ngang miệng, không còn có thể thêm nước trà vào được nữa. Đây chính là lý do khiến người phô trương và háo danh không cần ơn Chúa trợ giúp, và dần dần sống xa Chúa. Như vậy, muốn thăng tiến trong đời sống thiêng liêng, người Ki-tô hữu trước hết phải loại bó thói phô trương và háo danh, và khiêm tốn thú nhận sự yếu kém, bất toàn của mình, rồi tin tưởng xin Chúa giúp đỡ. Trong khi người phô trương và háo danh đặt niềm tin vào của cải và tài năng khéo léo của mình, người Ki-tô chân chính lại đặt trọn vẹn niềm tin vào Chúa và tình thương quan phòng của Ngài. Niềm tin tuyệt đối này được chứng tỏ qua cách dâng cúng của bà góa trong bài Tin Mừng hôm nay. “Thầy nói thật với các con: Trong những người đã bỏ tiền vào hòm, bà goá nghèo này đã bỏ nhiều hơn hết. Vì tất cả những người kia bỏ của mình dư thừa, còn bà này đang túng thiếu, đã bỏ tất cả những gì mình có để nuôi sống mình“.  Và đây cũng chính là niềm tin của bà góa thành Sarephta, khi bà nghe theo lời tiên tri Elia, đã dùng nắm bột và ít dầu cuối cùng để làm chiếc bánh cho tiên tri. Và Thiên Chúa đã không thua lòng quảng đại của bà: “Từ ngày đó hũ bột không cạn và bình dầu không vơi như lời Chúa đã dùng Êlia mà phán.” Con người ngày nay thường đánh giá nhau trên sự giàu có, thành công và nổi tiếng. Nhưng đó chỉ là những giá trị tạm thời chóng qua, và càng không phải là điều Chúa mong muốn vì những điều này dễ dàng đưa con người xa Chúa và xa anh em đồng loại. Điều quan trọng trong đời sống Ki tô hữu chính là sống yêu thương. Thật vậy, Mẹ Thánh Têrêsa khi được hỏi về những thành công trong công việc của Mẹ, Mẹ đã suy nghĩ trong chốc lát và trả lời một cách cương quyết: “Tôi không nhớ có chỗ nào Chúa nói về thành công cả. Ngài chỉ nói về việc trung thành yêu thương. Và đó mới là thành công duy nhất đáng kể”. Ước mong mỗi người trong chúng ta đều thực hiện được mong ước của Đức Hông Y F.X. Thuận: “Mỗi chiều tối, trước lúc lên giường ngủ, con phải nói được rằng: “Suốt ngày nay tôi đã yêu thương.” (ĐHV 781) 

Xin Cho Con Được Thấy

– Lm. Francis Bùi Ngọc Tỷ Nhiều người trong chúng ta là thuyền nhân vượt biển tìm tự do. Tuy đã ba bốn mươi năm qua, nhưng nỗi ám ảnh của cuộc hành trình đầy sóng gió vẫn còn âm ỉ trong tim. Khi gần kề cái chết, chúng ta đã hướng lên Chúa kêu cầu. Chúng ta hy vọng Chúa dùng quyền năng của Người cứu vớt chúng ta. Đó cũng là tâm tình của dân Is-ra-el trong thảm cảnh lưu đày ở Babylon. Lúc đó, Chúa đã sai ngôn sứ Giê-rê-mi-a đến nói với họ: “Đây, Ta sẽ dẫn dắt chúng từ đất Bắc trở về… trong bọn chúng có kẻ đui mù, què quặt… Chúng vừa đi vừa khóc, Ta sẽ lấy lòng từ bi dẫn dắt chúng trở về.”   Ông Bác-ti-mê trong câu chuyện Phúc Âm hôm nay cũng sống trong hoàn cảnh u tối. Ông bị mù, sống lê lết bên vệ đường, ăn xin cho hết kiếp người. Bỗng ông nghe được Đức Giêsu đi ngang qua. Niềm hy vọng bùng lên, ông kêu lớn tiếng: “Lạy Đức Giêsu, Con vua Đa-vít, xin dủ lòng thương tôi.” Và ông cầu xin: “Xin cho tôi được thấy.” Đức Giêsu đã chữa lành đôi mắt ông, cho ông được nhìn thấy. Ánh sáng cho đôi mắt là ánh sáng cho cuộc đời. Ông Bác-ti-mê đã nhìn thấy ngày mai. Ông đã tìm được lẽ sống cho đời mình; từ đó ông đi theo Chúa. Chúa cũng đã “mở mắt” linh hồn cho chúng ta. Đó là đôi mắt đức tin. Đức tin là ơn quan trọng nhất mà Chúa ban, vì nó dẫn ta vào sự sống thần linh của Chúa và sẽ tiếp tục đưa ta đến cùng đích của đời mình là hạnh phúc viên mãn trên trời. Đức tin là sợi dây gắn kết chúng ta vào Chúa. Nó phát triển nhờ tình yêu chúng ta dành cho Chúa. Tình yêu nuôi dưỡng lòng tin. Lòng tin khi được triển nở, sẽ cung cấp nhiên liệu cho ngọn lửa tình yêu giữa chúng ta với Chúa. Bí quyết để phát triển lòng tin là sự gắn kết với Chúa Kitô và đồng hành với Ngài. Như ông Bác-ti-mê đã quyết định đi theo Đức Giêsu, chúng ta cũng hãy khẳng định lại quyết tâm theo Chúa của mình. Tổng giáo phận Los Angeles đã khởi xướng năm thánh mừng kỷ niệm 250 năm thành lập cứ điểm truyền giáo San Gabriel. Giáo phận kêu gọi chúng ta làm ba việc sau đây:1) Đọc và suy niệm Lời Chúa để được ơn soi sáng.2) Cầu nguyện cho những ai đang yếu tin.3) Quan tâm đến những người thiếu thốn, vật chất cũng như tinh thần. Dùng lời nói, việc làm nâng đỡ họ.Lòng tin sống động của các tín hữu sẽ là sợi dây cứu cấp cho một xã hội đang càng ngày càng xa Chúa.

Thành Tựu

– Lm. Francis Bùi Ngọc Tỷ Loạt phim 007 rất ăn khách. Người ta thích coi điệp viên siêu hạng James Bond vì anh ta là người hùng, lao đầu vào nguy hiểm và luôn luôn chiến thắng. Hơn nữa, James Bond còn là một playboy đúng nghĩa: giàu có, điệu nghệ, nhất là có sức hấp dẫn đối với phụ nữ. James Bond là tượng trưng cho sự thành công ở đời. Gia-cô-bê và Gio-an cũng theo đuổi sự thành công. Hai ông vất vả đi theo Đức Giêsu vì nhắm tới hai chiếc ghế cao nhất trong Nước Trời. “Xin cho chúng con, một người ngồi bên hữu, một người ngồi bên tả Thầy, khi Thầy được vinh quang.”   Sự cầu cạnh của hai ông khiến anh em ghen ghét. Nhưng hai ông cũng không ý thức rằng, điều mong ước của mình dầu cho có đạt được, cũng chưa chắc thỏa mãn mọi ước vọng sâu thẳm trong tâm hồn. Thành công về mặt xã hội, trong đạo hay ngoài đời, chưa phải là sự thành tựu của một đời người. Chúa Giêsu dạy chúng ta khi Ngài trả lời hai ông: “Việc ngồi bên hữu hay bên tả Thầy, thì Thầy không có quyền cho, nhưng Thiên Chúa đã dọn sẵn cho ai thì kẻ ấy được.” Đối với Đức Giêsu, sự thành tựu nằm trong ý định của Thiên Chúa. Chúa cho ai thì kẻ ấy được. Điều đáng mừng là chúng ta không cần phải tranh giành nhau, vì Thiên Chúa định cho mỗi người mỗi khác. Mỗi người sinh ra với một sứ mạng đặc thù. Và Chúa đặt sẵn trong ta những khả năng thể xác và tinh thần phù hợp. Ngài cũng sắp đặt những hoàn cảnh thuận lợi để chúng ta có thể hoàn thành sứ mạng đó. Giống như cha mẹ sắp đặt cho tương lai con cái. Nhưng chúng cũng hoàn toàn tự do: chấp nhận hay từ chối. Điều này không có nghĩa như thuyết tiền định. Thánh Phaolô giải thích trong thư Rôma như sau: “Chúng ta biết rằng, Thiên Chúa làm cho mọi sự đều sinh lợi ích cho những ai yêu mến Người, tức là cho những kẻ được Người kêu gọi theo ý Người định.”(Rm 8:28) Một cách nói khác: đó là ơn gọi. Sống đúng ơn gọi của mình, chúng ta sẽ hưởng được thành quả tốt nhất cho cuộc đời mình. Đức Maria đã sống đúng ơn gọi của mình. Ngài được ơn vô nhiễm nguyên tội, vì đó là điều kiện cần thiết để cưu mang Con Thiên Chúa. Khi nhận biết sứ mạng mà Chúa trao phó, Ngài đã thưa “vâng”. Suốt cuộc đời, Ngài đã hoàn thành cách tuyệt hảo Ý định của Thiên Chúa. Chính vì thế, Thiên Chúa đã ban cho Ngài đặc ân lên trời cả hồn lẫn xác. Sự thành tựu của một đời người là nhận biết và sống theo Ý Chúa.