Đức nguyên Giáo hoàng Benedict XVI, đau yếu ở tuổi 93, chọn nơi an táng cho mình.

(03/08/2020) – Theo tờ nhật báo của Đức “Passauer Neue Presse” cho hay Đức nguyên Giáo hoàng Benedict XVI, 93 tuổi, thì tình hình sức khỏe của Ngài bị trồi sụt bất thường, đặc biệt sau chuyến thăm bào huynh của ngài ở Đức vào tháng 6 năm nay, thì sức khỏe của Ngài xuống cấp thấy rõ, giọng nói thều thào, nghe không còn được rõ nữa. Tuy nhiên tinh thần của ngài thì rất minh mẫn tốt. Tờ báo Passauer Neue Presse (PNP) cho hay Đức Nguyên Giáo hoàng Benedict đã chọn ngôi mộ cũ của Thánh Giáo hoàng John Paul II, dưới hầm Đền thờ Thánh Phêrô làm huyệt mộ cho ngài. Tòa thánh đã di chuyển hài cốt của thánh giáo hoàng John Paul II lên vương cung thánh đường sau khi Ngài được phong thánh vào năm 2014. (Theo Thanh Quảng, sdb, Vietcatholic News)  

Phân Ưu – Thầy Phi-lip-phê NGUYỄN HỮU PHI

PHÂN ƯU   Ban Thường Vụ Cộng Đồng Công Giáo Việt Nam – Tổng Giáo Phận Los Angeles thành kính phân ưu đến đại gia đình tang quyến khi nhận được tin:  Thầy Phi-lip-phê NGUYỄN HỮU PHI  đã đột ngột từ trần ngày 29 tháng 7, 2020 tại Lynwood, California, hưởng dương 56 tuổi. Sinh thời, thầy Nguyễn Hữu Phi là cựu chủng sinh Đại Chủng Viện Thánh Gioan, Carmarillo, thuộc Tổng giáo phận Los Angeles. Trong nhiều chương trình mục vục tại các cộng đoàn Việt Nam và những sinh hoạt chung của cộng đồng, thầy luôn phục vụ với tinh thần nhiệt thành, hy sinh và quảng đại.   Nguyện xin Thiên Chúa đón nhận linh hồn Phi-lip-phê vào Nước Hằng Sống, và ban ơn bình an xuống trên toàn thể tang quyến trong thời gian khó khăn này. Thành kính phân ưu. Ryan Bùi Thế Lữ Chủ Tịch

Thánh Pontianô, Giáo Hoàng và Thánh Hippolytô, Linh Mục Tử Đạo – Kính ngày 13 tháng 8

Năm 230, khi thánh Pontianô lên kế vị ngai tòa thánh Phêrô thì Giáo Hội đang trải qua một cơn khủng hoảng phân tán do linh mục Hippolytô gây nên. Thánh Hippolytô là người nổi tiếng về môn Thánh Kinh và có những tư tưởng sâu sắc, nhưng ngài lại không muốn chấp nhận việc chọn lựa thầy sáu Callistô làm Giáo Hoàng (217). Từ đó ngài trở thành thủ lãnh một cộng đồng ly khai và tin rằng mình luôn giữ đúng truyền thống. Trong khi ấy, Ðức Callistô và các đấng kế vị đã ngả theo thời cuộc và nhượng bộ. Năm 235, hoàng đế Maximinô ra lệnh bách hại. Vì nghĩ rằng giáo hữu Rôma tuân phục hai Giám Mục, nên hoàng đế đã truyền lệnh bắt cả hai và kết án khổ sai. Ðể Giáo Hội không vắng bóng chủ chăn trong những hoàn cảnh khó khăn, Ðức Pontinô liền từ chức và Hippolytô cũng đã làm như vậy. Các ngài đều bị lưu đày sang Sardaigne và đã cùng nhau tuyên xưng đức tin. Khi cơn cấm đạo lắng chìm, Ðức Giáo Hoàng Fabianô (236-250) đã chuyển xác các ngài về Rôma. Chẳng bao lâu, mọi người đều quên rằng thánh Hippolytô trước đó đã là một kẻ lạc giáo, nhưng hơn thế nữa, còn nghĩ về ngài với tước vị tử đạo và tiến sĩ.                                                                                                      (Nhóm Châu Kiên Long, Ðà Lạt)  

Thánh Clara Ðồng Trinh (1194-1253) – Kính ngày 11 tháng 8

Ngài sinh ngày 16/7/1194 tại Assise miền Ombrie nước Ý, trong một gia đình quý phái. Chính thân mẫu đã lưu tâm dạy dỗ ngài ngay từ nhỏ, chẳng những bằng lời nói mà còn bằng gương sáng. Bà đã hun đúc cho ngài bằng tâm tình cầu nguyện, đức từ bỏ và tính nhẫn nhục. Lên 16 tuổi, ngài tránh xa tiếng ồn ào của đô thị đến ẩn mình trong một nhà thờ ở miền quê (1212). Chính nơi đây ngài đã gặp thánh Phanxicô Khó Khăn và được tận tình giúp đỡ trên đường tu đức. Ngài can đảm chống lại ngăn cản của gia đình. Cuối cùng ngài được đưa đến đền thờ thánh Ðamianô để lập Hội Các Chị Tận Hiến cho Thiên Chúa. Về đời sống thiêng liêng, ngài vẫn trực tiếp theo sự hướng dẫn của thánh Phanxicô. Ngài điều khiển tu hội cách ân cần và khôn ngoan, ngài qua đời ngày 11/8/1253 trước sự thương tiếc của mọi người. (Theo nhóm truyền giáo Châu Kiên Long, Đà Lạt)

Ngài Là Sự Bình An Của Chúng Ta

Năm 1899, cuộc xung đột biên giới giữa hai nước Chile và Argentina suýt đưa tới một cuộc chiến tranh khốc liệt… Mùa Phục Sinh năm 1900, quân đội của hai bên đã sẵn sàng giao tranh với nhau. Trong suốt tuần thánh năm đó, vị tổng giám mục Buenos Aires của Argentina đã đưa ra một lời kêu gọi tha thiết về Hòa Bình. Sứ điệp của ngài đã không mấy chốc được truyền sang Chile. Các giám mục của nước này cũng hưởng ứng nhiệt liệt lời kêu gọi. Giáo hội của hai bên đã làm áp lực để hai chính phủ ngồi vào bàn hội nghị với nhau qua trung gian của vua Edward thứ 7 của Anh quốc. Không mấy chốc, một hòa ước đã được hai nước ký kết. Ðể nói lên thiện chí xây dựng hòa bình, quân đội Argentina đã gom góp lại một số khí giới và nung lên để rồi đúc thành một tượng Chúa Giêsu. Bức tượng đã được đặt tên là “Ðức Kitô của dãy núi Andes”. Andes là dãy núi nơi đã có cuộc xung đột giữa hai quốc gia. Cánh tay phải của bức tượng được mở rộng để ban phép lành, còn cánh tay trái cầm thánh giá. Chính phủ Argentina đã quyết định đưa bức tượng lên đỉnh núi ở cao độ gần 4 ngàn thước. Xe lửa di chuyển bức tượng đến chân núi. Sau đó, người ta dùng chính các chiến xa do lừa kéo để đưa bức tượng lên núi. Và cuối cùng, khi đến gần đỉnh núi, chính các quân nhân là những người hoàn thành công tác còn lại. Sau khi đã dựng bức tượng, người ta viết dưới bệ của bức tượng như sau: “Những ngọn núi này sẽ sụp xuống và biến thành cát bụi nếu nhân dân của Chile và Argentina quên đi lời giao hòa mà họ đã long trọng ký kết dưới chân Ðức Kitô”. Trên mặt khác của chân tượng, người ta cũng đọc thấy câu trích từ thư của thánh Ephesô như sau: “Chính Ngài là sự bình an của chúng ta. Ngài đã làm cho đôi bên bị chia rẽ nên một”. Giải thưởng Nobel Hòa Bình năm 1990 đã được quyết định trao tặng cho tổng thống Gorbachov của Liên Xô. Cả thế giới đã nhìn nhận vai trò của ông trong việc đạp đổ bức tường ô nhục Bá Linh và các chế độ cộng sản tại Ðông Âu, cũng như góp phần dập tắt cuộc chiến tranh giữa hai khối cộng sản và tư bản. Hòa bình mà tổng thống Gorbachov góp phần kiến tạo phải chăng không là kết quả của một sự “đạp đổ”: chỉ khi nào những bức tường của kỳ thị, của bách hại, của hận thù, của độc tôn bị đạp đổ thì Hòa Bình mới thực sự chớm nở… Người La Mã ngày xưa thường nói: Nếu muốn Hòa Bình, hãy chuẩn bị chiến tranh. Còn cuộc chiến nào gay go, khốc liệt cho bằng cuộc chiến để đạp đổ những bức tường của hận thù, của bạo động, của bất khoan dung trong tâm hồn của mỗi người chúng ta. Chúng ta chỉ thực sự có bình an trong tâm hồn và người người mới thực sự có Hòa Bình khi những bức tường ấy được đạp đổ trong chúng ta.   (Lẽ Sống, Radio Veristas)

Chúa Ở Đâu?

Ngôn sứ Êlia đi tìm Chúa. Ông đã mệt mỏi rã rời vì chạy trốn cơn thịnh nộ của hoàng hậu Giêsaben.  Trước đó, ông đã chiến thắng huy hoàng khi đánh bại đám sư sãi của bà hoàng hậu ngoại giáo này, người đã mang các thần ngoại bang đến, làm ô nhiễm niềm tin của Israel. Nhưng thắng lợi đó cũng không đem được Israel trở về cùng Chúa. Riêng bản thân ông còn bị đuổi giết. Ông muốn có lại sức mạnh và niềm hy vọng để tiếp tục sứ mạng. Nhưng, Chúa ở đâu? Tại sao Người im hơi lặng tiếng? Các môn đệ của Đức Giêsu đang vượt biển hồ thì một cơn bão nổi lên khiến các ông hoảng sợ vì thuyền sắp chìm. Hình ảnh con thuyền sắp chìm là biểu tượng của Giáo hội trong cơn khủng hoảng.  Nguy hiểm trùng trùng. Sức con người không thể vượt qua. Chúng ta cần Chúa. Nhưng, Chúa ở đâu? Tại sao Người im hơi lặng tiếng? Trong cả hai trường hợp, những con người yếu đuối và tuyệt vọng đó mỏi mắt trông tìm Chúa. Không phải họ không tin có Chúa. Điều họ muốn là ơn trợ giúp của Người. Nhưng không biết tại sao Chúa không can thiệp khiến họ cảm thấy bơ vơ bất lực và sợ hãi. Chúng ta cũng đang sống trong hoàn cảnh nguy hiểm tứ bề, khiến lòng đầy sợ hãi. Và chúng ta cũng tự hỏi: Chúa ở đâu? Chắc chắn, Thiên Chúa không bao giờ bỏ rơi con cái Người, như Lời Chúa nói qua miệng ngôn sứ Hôsêa: “Làm sao Ta nỡ bỏ ngươi, hỡi Ephraim!”(Hs 11:8) Điều chúng ta phải làm là tin tưởng và cậy trông nơi Chúa. Hơn nữa, chúng ta còn phải mở rộng tâm hồn để nhận biết đường lối của Chúa và ra sức sống theo Thánh Ý của Người. Đường lối của Chúa đầy bất ngờ. Ngôn sứ Êlia tưởng rằng Thiên Chúa đầy sức mạnh và vinh quang, nên khi Người xuất hiện sẽ khiến đất trời rung chuyển. Nhưng Chúa lại đến trong cơn gió nhẹ, trong sự tĩnh lặng sâu thẳm của tâm hồn. Các môn đệ của Đức Giêsu không bao giờ ngờ được Thầy mình có thể đi trên mặt nước đến với họ. Một con người hằng ngày vẫn ăn ngủ nói năng với họ, nay lại biểu lộ một quyền năng phi phàm. Thiên Chúa có cách hành động của Người. Chúng ta phải tin tưởng. Hơn nữa, nếu chúng ta luôn nhìn lên Chúa và bước đi theo đường lối của Người, chúng ta có thể như thánh Phêrô, đạp trên sóng dữ và bình an vượt qua mọi hiểm nguy. -Lm. F.X. Bùi Ngọc Tỷ

ĐTC Phanxicô mời gọi hãy để mình được “nhiễm” tình yêu chứ không nhiễm virus

(29/07/2020) – Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã viết lời tựa cho một cuốn sách mới có tựa đề “Hiệp thông và Hy vọng”, và khuyến khích mọi người tái khám phá tình liên đới giữa những tàn phá của đại dịch virus corona, hãy để mình được “nhiễm” tình yêu thương chứ không nhiễm virus. Tìm gốc rễ của hạnh phúc Theo Đức Thánh Cha, tình cảnh bi thảm này cho thấy rõ bản tính dễ tổn thương của con người, bị giới hạn bởi thời gian và sự bất ngờ. Đại dịch buộc chúng ta đặt câu hỏi về gốc rễ của hạnh phúc và tái khám phá gia sản đức tin Ki-tô giáo của chúng ta. Ngài nói: “Nó nhắc nhở chúng ta rằng chúng ta đã quên hoặc đơn giản là trì hoãn tham gia một số vấn đề chính trong cuộc sống. Nó đang khiến chúng ta đánh giá những gì thực sự quan trọng và cần thiết, và những gì có tầm quan trọng thứ yếu hay chỉ là hời hợt”. Cơ hội sống liên đới Đức Thánh Cha suy tư rằng thời gian thử thách này cho chúng ta cơ hội để hướng cuộc sống chúng ta trở về với Thiên Chúa; nó mời gọi chúng ta dùng cuộc sống phục vụ tha nhân, ý thức những bất công và thức tỉnh trước tiếng kêu của người nghèo và trái đất bị đau bệnh. “Truyền nhiễm” tình yêu từ trái tim này sang trái tim khác Phục Sinh tỏ cho các tín hữu thấy rằng chúng ta không bị tê liệt bởi đại dịch. Phục Sinh mang hy vọng, tin tưởng và khuyến khích, củng cố ý thức liên đới. Mối nguy bị nhiễm virus sẽ dạy chúng ta cách “truyền nhiễm” tình yêu từ trái tim này sang trái tim khác. Cử hành Thánh Thể ban cho chúng ta sức mạnh để giải quyết những khó khăn và thử thách. Và cuối cùng, Đức Thánh Cha hy vọng cuốn sách giúp khám phá “một ý nghĩa mới của hy vọng và liên đới.” (Theo Hồng Thuỷ, hdgmvietnam.com)  

Vị sáng lập đoàn Hiệp sĩ Kha Luân Bố sẽ được tuyên Chân Phước vào tháng 10

(24/07/2020) – Cha Michael McGivney, là vị sáng lập tổ chức huynh đệ Công Giáo Hiệp sĩ Kha Luân Bố, sẽ được tuyên Chân Phước vào ngày 31 tháng 10, Bộ Tuyên Thánh đã công bố như trên trong tuần qua. Tin này đã được thông báo trên trang web và trên Twitter của Bộ Tuyên Thánh ngày 20 tháng 7. Một phép lạ được ghi nhận nhờ sự can thiệp của Cha McGivney đã được Vatican chấp thuận và được Đức Thánh Cha Phanxicô truyền cho công bố vào ngày 27 tháng 5. Một đứa trẻ được chẩn đoán là mắc bệnh nan y từ trong bụng mẹ đã được chữa lành một cách kỳ diệu sau những lời cầu nguyện xin cha McGivney can thiệp. Thánh lễ tuyên Chân Phước cho vị linh mục dự kiến sẽ được cử hành tại quê hương Connecticut của ngài. Như thế, Cha McGivney đang ở bước cuối cùng trước khi được tuyên thánh. Cha McGivney sẽ trở thành người sinh ra tại Mỹ thứ tư được tuyên Chân Phước, sau các Chân Phước Stanley Rovers, James Miller và Solanus Casey…  (Trích lược theo Đặng Tự Do, Vietcatholic News)

Thánh Gaetanô, Linh Mục (1480-1547) – Kính ngày 7 tháng 8

Thánh Gaetanô sinh năm 1480 tại Vivence nước Ý, thuộc gia đình quý phái mang tên là Thiena. Nhờ sự giáo dục chu đáo của người mẹ, ngay từ nhỏ ngài đã biết tận hiến cho Ðức Maria và siêng năng học tập các nhân đức. Ngài còn tỏ ra là một tâm hồn rất quảng đại, biết yêu thương đồng loại, nhất là kẻ bần cùng khốn khổ. Ngài học luật ở Padua. Nhờ trí thông minh và lòng đạo đức, ngài được Ðức Juliô II mời gọi vào làm trong Giáo Triều Rôma và sau đó được phong chức linh mục năm 1516. Ngài lập nhiều nhà thương miễn phí và trong khi bệnh dịch hoành hành, ngài vẫn cứ trực tiếp chăm sóc bệnh nhân. Ðặc biệt ngài rất lưu tâm đến phần rỗi của kẻ khác, nên người ta có thói quen gắn cho ngài biệt hiệu là “Thợ săn các linh hồn”. Sống trong lúc kỷ luật Giáo Hội sa sút, ngài đã cố gắng tái lập lại bằng đời sống gương mẫu hoạt động tông đồ. Ngài lập hội các linh mục triều, sống tinh thần Phúc Âm đích thực, bán các tư sản, không cần giáo dân đảm bảo cho tương lai, chỉ nhận những của bố thí tự phát. Ngài đã đào tạo cho Giáo Hội nhiều cán bộ tài đức. Sau bốn ngày lâm bệnh, ngài trút hơi thở cuối cùng vào đầu tháng 8/1547 tại Naples trước sự chứng kiến của anh em trong dòng.

Đức Tổng Giám Mục Portland lên tiếng về các cuộc biểu tình đầy bạo lực liên tục trong suốt hơn 60 ngày qua

(28/07/2020) – Đức Tổng Giám Mục Portland, Oregon kêu gọi người Công Giáo tìm hiểu và học hỏi cách đối phó với tội lỗi phân biệt chủng tộc, đồng thời lên án bạo lực đi kèm với nhiều cuộc biểu tình trong thành phố trong suốt hai tháng qua. Trong thông điệp video, Đức Tổng Giám Mục Sample nhấn mạnh rằng trong tư cách là mục tử của người Công Giáo trong thành phố này, ngài không thể can dự vào một một hình thái chính trị đảng phái, và không thể chọn đứng về phía nào, bất chấp những yêu cầu qua email và hộp thư đòi hỏi ngài phải lên tiếng bênh vực bên này hay bên kia. Tuy nhiên, Đức Tổng Giám Mục cho biết, vào mỗi buổi sáng sau khi xem các tin tức, và nhìn thấy mỗi đêm đều có thêm những sự tàn phá mới, ngài cảm thấy “mất tinh thần” và “lúng túng”. “Chúng ta cần phải nói sự thật trong đức ái, và không ngần ngại lên tiếng. Tôi nghĩ rằng đại đa số mọi người không chấp nhận những gì đang diễn ra hiện nay, đặc biệt là các hình thái bạo lực, phá hủy tài sản và cướp bóc.” Người Công Giáo – và bất cứ ai quan tâm đến điều này – nên phẫn nộ trước tội ác phân biệt chủng tộc, nhưng người Công Giáo phải cẩn thận, suy nghĩ hợp lý và bình tĩnh, và nên tránh “các nhân đức hời hợt” nhưng thay vào đó hoạt động để thực sự thăng tiến trên đàng thiêng liêng, và đưa các giáo huấn xã hội Công Giáo vào thực hành để đối phó với nạn phân biệt chủng tộc… Giáo hội dạy rằng mỗi người đều có một phẩm giá mà chúng ta, với tư cách là con người, không ban cho những người khác, nhưng phẩm giá ấy mà đến từ Thiên Chúa… (Trích lược theo Jos. Tú Nạc, NMS, thanhlinh.net)