Sáng Mắt

Bài Phúc Âm hôm nay kể lại phép lạ Chúa Giêsu đã làm cho một người mù từ lúc mới sinh được sáng mắt. Thánh Gioan tường thuật phép lạ này với rất nhiều chi tiết. Chúa Giêsu lấy nước miếng, nhồi với đất thành bùn, bôi vào mắt người mù và bảo anh ta đi rửa ở hồ Siloe và anh ta nhìn thấy. Tuy được sáng mắt, anh mù lại gặp nhiều rắc rối khiến anh phải phấn đấu và qua đó, anh đã nhận biết Đức Giêsu chính là Thiên Chúa. Qua cách tường thuật của thánh Gioan, chúng ta thấy ông muốn dùng câu chuyện này để nói về đời sống đức tin của người tín hữu. Bùn trong câu chuyện nhắc lại hình ảnh Chúa lấy bùn đất để dựng nên Adam. Nước hồ Siloe là hình ảnh nước Rửa tội. Trong bí tích Rửa tội, chúng ta được dựng nên trong đời sống mới, đời sống của người con Chúa. Ánh sáng của đôi mắt gợi ý về ánh sáng đức Tin. Khi được rửa tội, chúng ta nhận lấy cây nến thắp sáng từ nến Phục sinh với lời dạy: “Hãy nhận lấy ánh sáng Chúa Kitô.” Đời sống mới gieo xuống đời ta trong bí tích Rửa tội chỉ là một hạt giống. Nó phải tăng trưởng. Trong câu chuyện, đức tin của anh mù lớn lên qua ba giai đoạn, theo cách anh nói về Đức Giêsu. Lúc đầu, khi có ai hỏi anh ai làm cho anh sáng mắt, anh trả lời: “một người tên là Giêsu.” Sau đó, khi những người Pharisêu chất vấn anh, anh trả lời: “Ngài là một ngôn sứ.” Câu chuyện diễn tiến đến tột đỉnh khi anh bị trục xuất ra khỏi đền thờ, gặp lại Đức Giêsu, Ngài hỏi anh: “Anh có tin vào Con Người không?” Anh đáp: “Thưa Ngài, tôi tin.” Rồi sấp mình xuống trước mặt Người. Nhận thức của anh về Đức Giêsu đã thay đổi từ “người” tới “ngôn sứ” tới “Chúa.” Sự thăng tiến trong câu chuyện gợi ý về sự tăng trưởng trong đời sống đức tin. Bước khởi đầu là lãnh nhận ơn Chúa. Ơn chữa lành, ơn bình an, ơn hiểu biết, ơn đức Tin… Bước kế tiếp là tìm hiểu và nhận định về Đấng đã làm ơn cho mình. Người mù qua những cọ sát với các Pharisêu đã học biết Kinh thánh, nên có cái nhìn sáng sủa hơn về Đức Giêsu. Thánh Giêrônimô đã nói: “không biết Kinh Thánh là không biết Đức Kitô.” Chúng ta phải quen biết Chúa Kitô mới có thể bước theo chân Ngài. Bước thứ ba là liều mạng bảo vệ niềm tin của mình vào Đức Kitô. Tuyên xưng Ngài là Chúa và sấp mình thờ lạy, tức là đặt Ngài làm chủ tể đời mình và tự nguyện sống hoàn toàn cho Chúa và vì Chúa. -Lm. F.X. Bùi Ngọc Tỷ

Khao Khát

Bài Phúc Âm hôm nay kể lại cuộc nói chuyện của Chúa Giêsu với người phụ nữ xứ Samaria bên bờ giếng Giacop.  Chúa Giêsu nói với người phụ nữ: “Ai uống nước này sẽ lại khát. Còn ai uống nước tôi cho, sẽ không bao giờ khát nữa.” (Ga 4:13-14a) Chúa Giêsu muốn nói về cơn khát nội tâm, về khát vọng thâm sâu trong mỗi con người. Ai trong chúng ta cũng có ít nhiều kinh nghiệm về cơn khát nội tâm này. Những câu nói như: “đứng núi này trông núi nọ,” “túi tham không đáy,” “được voi đòi tiên,” cho thấy tham vọng không cùng của con người. Tiền tài, danh vọng, thú vui, quyền lực, có rồi lại muốn có thêm; thêm nữa và thêm nữa. Bao nhiêu cũng không đủ. Nhà văn Frank Sheed nói về sự bi thảm của con người như sau: trong trái tim con người có một cơn khát tinh thần; thay vì giải khát bằng những gì có giá trị tinh thần, người ta lại tìm cách thỏa mãn họ bằng vật chất. Giống như cho một người đang khát uống nước biển; càng uống họ sẽ càng khát. Thánh Augustinô khi còn trẻ đã cuồng nhiệt chạy theo danh vọng, tiền tài cũng như nhục dục. Tuy hết sức thành công, nhưng luôn thấy chán chường. Một ngày kia, được đánh động bởi Lời Chúa qua miệng thánh Ambrôsiô, Ngài được ơn trở lại. Sau khi tìm gặp Chúa, Augustinô mới nhận ra tại sao trước kia mình luôn luôn cảm thấy bất an trong tâm hồn. Ngài đã nói với Chúa: “Lạy Chúa, Chúa đã dựng nên con cho Chúa. Linh hồn con không bao giờ được nghỉ yên cho đến khi được yên nghỉ trong Chúa.” Nguồn gốc của khát vọng là bởi Chúa. Chúng ta được dựng nên “theo hình ảnh Thiên Chúa.” Nên chỉ có Chúa mới có thể lấp đầy khoảng trống trong tâm hồn chúng ta. Có người đã ví điều đó một cách bóng bảy “Our hearts have a God-shaped hole in them, that only God can fill.” Tìm gặp Chúa, sống với Chúa, hy sinh vì Chúa, yêu mến Chúa, chúng ta mới thật sự an vui. “Như nai khát tìm đến suối nước trong, hồn con cũng trông mong được gần Ngài, lạy Chúa. Linh hồn con khao khát Chúa Trời, là Chúa Trời hằng sống” (TV 42) Không biết bạn đã tìm gặp Chúa và được an vui trong Chúa chưa? Có lẽ bạn nên ngồi xuống và bình tâm trò chuyện với Chúa như người phụ nữ xứ Samaria đã làm. Chắc chắn bạn sẽ không thất vọng, vì Ngài sẽ cho bạn “Nước Hằng Sống.” Và bạn sẽ không còn khát nữa. Trở về với Chúa đi, vì: “Đây là thời Thiên Chúa thi ân, đây là ngày Thiên Chúa cứu độ.”(2 Cr: 6:2b) -Lm. F.X. Bùi Ngọc Tỷ

Hãy đi tới Đất ta sẽ chỉ cho

Kinh Thánh bắt đầu từ cuộc tạo dựng. Ngay sau đó là tội bất trung của ông bà nguyên tổ. Kế đó là Cain giết em mình là Abel; rồi đến lụt đại hồng thuỷ rửa sạch tội lỗi đã lan tràn khắp mặt đất. Sau trận lụt, con người vì muốn chống trời, đã khởi công xây một cái tháp cao nhưng không thành vì chia rẽ nhau, nên gọi là tháp Babel. Loài người khi đã rời xa Thiên Chúa, thì càng ngày càng lún sâu vào tội lỗi và sự chết. Nhưng Thiên Chúa đã không bỏ mặc con người. Để thực hiện công trình cứu độ, Thiên Chúa cần một người hết lòng tin tưởng vào Ngài. Người đó là Abram. Lời Chúa hôm nay kể chuyện ông Abram lìa bỏ quê cha đất tổ, khởi đầu một hành trình vô định chỉ vì tin vào lời hứa của Thiên Chúa. Không ai muốn rời xa quê hương của mình. Quê hương là chỗ dựa tinh thần cũng như vật chất. “Dù trong dù đục ao nhà vẫn hơn.” Lìa bỏ quê hương là bước vào một cuộc phiêu lưu không có gì chắc chắn, nhất là chỉ vì một lời hứa: “Hãy đi tới đất Ta sẽ chỉ cho.” Đất nào? Có tốt hơn ở đây không? Đi hướng nào? Có trở ngại gì? Bao nhiêu băn khoăn lo lắng không cản bước Abram, vì ông hoàn toàn tin tưởng vào Chúa. Người mà thôi.”(Mt 4:10) Hành trình về Đất Hứa là một hành trình Đức Tin. Tin tưởng nhưng không mù quáng, vì nhận ra Chúa luôn đồng hành với mình. Sự hiện diện của Chúa trong suốt cuộc hành trình là bảo chứng cho Lời Hứa. Kẻ lừa gạt sẽ trở mặt sau khi nắm được ta. Thiên Chúa thì dìu dắt, nâng đỡ, chở che, yêu thương, chăm sóc, thêm sức, chữa lành, và luôn trung thành với Lời đã hứa. Thiên Chúa hiện diện cách vô hình, nhưng bàng bạc bao trùm cả cuộc sống. Có đôi khi, Ngài tỏ vinh quang và sức mạnh cách rõ ràng, nhất là khi ta gặp gian nguy. Câu chuyện Chúa biến hình trong bài Phúc Âm là một trường hợp cụ thể. Chúa Giêsu biết trước Ngài sẽ chịu khổ hình. Ngài cũng biết đó là thử thách lớn lao đối với niềm tin của các môn đệ. Cho thấy một chút xíu vinh quang sẽ giúp các ông hiểu rằng: Tử Nạn là chuyển tiếp; Phục Sinh mới vĩnh cửu. Bạn đã được ơn Đức Tin, là niềm hy vọng sẽ được cứu rỗi. Cuộc lữ hành trần gian sẽ giúp bạn tôi luyện và trưởng thành. Hãy nhớ rằng, Chúa Giêsu luôn đồng hành với bạn. “Nghe Lời Ngài”, bạn sẽ vượt qua mọi đau khổ và sự chết để đạt tới vinh quang Phục Sinh. -Lm. F.X. Bùi Ngọc Tỷ

Cám Dỗ

Có một chàng thanh niên trúng số 3.5 triệu đô la. Quá sung sướng, anh ta lấy 3 tháng nghỉ không lương để đi du lịch vòng quanh thế giới. Sau kỳ nghỉ dài, không còn hứng thú với công việc nhàm chán ít tiền, hơn nữa, tiền trúng số vẫn còn nhiều, anh ta quyết định về hưu non. Ở không mà ăn thì núi cũng lỡ. Sau ít năm, chàng thanh niên đó nghèo túng, bệnh tật và đã chấm dứt cuộc đời trong buồn chán tuyệt vọng. Một chọn lựa sai lầm khiến hư hỏng cả một đời. Lời Chúa trong thánh lễ Chúa Nhật đầu Mùa Chay hôm nay mời gọi chúng ta suy xét kỹ về những chọn lựa của mình, nhất là những chọn lựa quan trọng liên quan đến phần rỗi đời đời. Trước khi khởi đầu sứ vụ, Chúa Giêsu đã dùng 40 ngày thinh lặng, cô độc, một mình trước mặt Chúa để nhận định rõ mục đích tối hậu của đời mình. Trong thời gian đó, Ngài phải đương đầu với 3 thử thách, quen gọi là 3 cơn cám dỗ. “Hãy biến những tảng đá này thành bánh đi.” (Mt 4:3) Phải ăn mới sống. Không có thức ăn, nước uống, nhà cửa, tiền bạc… làm sao mà sống! Nhưng, dù cho kiệt quệ vì đã nhịn ăn 40 đêm ngày, Chúa Giêsu vẫn chọn “những lời tự miệng Thiên Chúa phán ra” làm lẽ sống của mình. Con người phải có danh dự, có phẫm giá. Nhưng giá trị của chúng ta không phải do tiếng khen của người đời, mà do Thiên Chúa đánh giá chúng ta thế nào. Lợi dụng danh Chúa để dương danh với đời chính là “thử thách Thiên Chúa.” Cám dỗ của quyền lực là cám dỗ tinh tế và mạnh mẽ nhất. Nhiều người khi đã đứng trên đỉnh cao quyền lực, họ cư xử như chính mình là Chúa. “Ngươi hãy thờ lạy Chúa là Thiên Chúa của ngươi và chỉ một mình Người mà thôi.”(Mt 4:10) Chúa Giêsu đã chiến thắng nhờ đặt trọn niềm tin vào Thiên Chúa. Niềm tin khiêm cung, sâu thẳm, tuyệt đối, không gì lay chuyển. Niềm tin đó mới đủ sức đánh tan những khát vọng đối với quyền lực, hư danh và lợi ích nằm sâu trong bản tính của loài người từ thời nguyên tổ. Ông bà nguyên tổ vì muốn được “trở nên như Thiên Chúa,” đã nghi ngờ và đã bất tuân Lời Chúa. Khi quay lưng lại với Chúa, họ đã mở cửa cho sự dữ và sự chết tiến vào. Công trình cứu chuộc của Chúa Giêsu bắt đầu bằng hành vi tin tưởng và vâng phục Lời Chúa cách vô điều kiện. Hôm nay, bạn hãy tự hỏi mình: tôi có hoàn toàn tin tưởng và vâng theo Thánh Ý Chúa chưa? -Lm. F.X. Bùi Ngọc Tỷ

COVID-19 Siêu Hình

Trận dịch coronavirus đang là chủ đề chính trên hầu như các nhật báo toàn cầu và cũng là nỗi bận tâm lo lắng cho cả thế giới. Tuy con siêu vi khuẩn này bé tí ti chỉ thấy được bằng kính hiển vi, vậy mà sức công phá của nó đang làm đảo lộn tất cả mọi sinh hoạt thường ngày của con người từ kinh tế cho đến tâm lý chính trị. Cũng vì nó, nhiều người di dân gốc Á châu ở nhiều nơi phải chịu những tổn thương tâm lý như bị khinh bỉ, tẩy chay, bị xa lánh v.v. nơi các quán ăn hay những nơi công cộng. Cũng chẳng trách những thái độ thái quá như thế được vì tâm lý ai cũng sợ bị nhiễm bệnh. Thật lòng mà nói, chính chúng ta cũng có một cảm giác bất an muốn tránh né nếu biết được bạn bè hay một những người chung quanh đến từ Trung Hoa, đặc biệt là từ Vũ Hán. Nỗi no sợ này là chính đáng có cơ sở hợp lý. Thế nhưng một loại virus khác cũng rất đáng sợ trong lúc này là loại virus siêu hình miệt thị trong tư tưởng đối với người dân Trung Hoa. Riêng đối với nhiều người Việt, cứ cho là chúng ta không có cái nhìn mấy thiện cảm với người Trung Quốc, đặc biệt là với chính quyền Trung cộng trước những vụ lấn đất chiếm biển ngang ngược, nhưng đây không phải là lúc để chúng ta tự cho mình cái quyền đưa ra những khẳng định hay suy nghĩ lập luận thiếu cơ sở triết lý lẫn thần học như Thiên Chúa đang trừng phạt, bị loài dơi trả báo v.v. Dựa vào đâu mà chúng ta dám khẳng định đây là sự trừng phạt của Thiên Chúa đối với con người? Không ít thì nhiều mỗi người phải nhìn nhận rằng chúng ta đã và đang có một sự thành kiến, thiếu thiện cảm đối với người Trung Quốc. Nếu cơn dịch corona này đang thỏa mãn cái thành kiến đó, thì chúng ta cần phải nên xét lại chiều kích tâm linh cũng như mối tương quan với Thiên Chúa dưới lăng kính Phúc Âm tuần này: “Vậy anh em hãy nên hoàn thiện, như Cha anh em trên trời là Đấng hoàn thiện.” Có lẽ người dân Trung Quốc đang chịu rất nhiều những tổn thương tinh thần cho đến thể lý trong lúc này. Họ không cần phải nghe thêm hay chịu đựng thêm những con virus siêu hình lây lan qua lời nói. Trái lại, chúng ta nên thinh lặng để lắng đọng và cầu nguyện nhiều cho họ, cho chính bản thân mình và cho toàn thể thế giới. Những lời nói vô bổ không làm cho kẻ khác hạnh phúc sẽ chẳng bao giờ đem lại hạnh phúc cho dù có lập lại trăm lần. Hãy trở nên hoàn thiện bằng cách sống tốt lành mỗi ngày. Trong ca dao tục ngữ Việt Nam có câu: “Cười người chớ vội cười lâu, cười người hôm trước hôm sau người cười.” -Lm. Giuse Maria Nguyễn Tuấn Long

Ngoại Tình Qua Trang Phục

Còn Thầy, Thầy bảo cho anh em biết: ai nhìn người phụ nữ mà thèm muốn, thì trong lòng đã ngoại tình với người ấy rồi” (Mt. 5:28). Hai chữ “Còn Thầy” được dùng để nhấn mạnh rằng đối với riêng Chúa Giêsu, sự thèm khát dâm ô cũng đủ cơ sở để hình thành tội ngoại tình. Dưới chiều kích tâm linh, đây còn là một tội tấn công đức khiết tịnh. Một khi nói đến tội lỗi, chúng ta thường có khuynh hướng tự bào chữa mình bằng cách đổ lỗi cho người khác như ông Adong đổ thừa cho bà Eva, còn bà Eva thì đổ lỗi cho con rắn. Rốt cuộc, con rắn lãnh đủ. Nếu xét mình dưới đoạn Phúc Âm này, hầu như khó ai có thể thoát khỏi tội trong tư tưởng. Thế nhưng nói đi phải nghĩ lại, cũng rất khó cho giới mày râu tự kềm chế tư tưởng trong xã hội ngày nay trước những cách ăn mặc đầy khiêu gợi hở hang của giới phụ nữ.  Áo không ra áo mà là gáo dừa đắp lên. Quần mặc thì rách trên mòn dưới, thịt da lồi lõm. Nhiều phụ nữ ngày nay không còn kín đáo hay còn sự tự trọng bản thân mình mà ngược lại khoe khoang hở hang thân xác lại được coi là hãnh diện như kiểu càng nhiều người chú đến thì mình càng đặc biệt. Cũng hơi khó hiểu là một số cha mẹ vẫn vô tư để mặc cho con cái mình dưới vị thành niên ăn mặc sao cũng được. Nhiều lúc và nhiều ông chồng cũng ngại không dám khuyên vợ mình thay bộ đồ nào kín đáo hơn để khỏi bị trúng gió hay hàng xóm ngó vào. Thử hỏi tại sao các vụ xâm hại tình dục, hãm hiếp, và quấy nhiễu v.v. không ngày càng trở nên thường xuyên hơn trước? Ngày xưa các tội liên quan đến tình dục được khuyến cáo trong bối cảnh con người ăn mặc kín đáo có ý tứ cho nên tội trong tư tưởng thường được kích hoạt bởi đam mê nhục dục. Ngày nay, tội trong tư tưởng rất dễ hình thành do cả hai phái (kẻ muốn khoe hàng và kẻ thích xem hàng) trong bối cảnh tục hóa.Bài suy niệm này không đem lại giải pháp, nhưng chỉ mong đóng góp như một câu hỏi để mỗi người tự vấn lại chính mình và đề cao ý thức tôn trọng bản thân mình và những người chung quanh qua cách ăn mặc thường ngày trong nhà thờ hay ở những nơi công cộng. Chúa dạy nếu con mắt là cớ phạm tội thì móc bỏ đi. Nhưng nếu bộ đồ chúng ta đang mặc có thể là cớ cho kẻ khác vấp ngã trong tư tưởng thì sao? Thì thay bộ khác hay mặc thêm áo vào. -Lm. Giuse Maria Nguyễn Tuấn Long

Muối và Ánh Sáng

Nếu phân tích các mạch văn và những hình ảnh Chúa Giêsu đã dùng để rao giảng, phải công nhận Ngài là một vị giảng thuyết rất dễ hiểu cũng như rất gần gũi với đàn chiên qua hai hình ảnh cụ thể chúng ta thường thấy mỗi ngày là muối và ánh sáng. Cái đặc tính của muối là mặn không chỉ để nêm nếm cho các món ăn mà còn giúp trị liệu và bảo quản lương thực như thịt cá v.v. Ánh sáng cũng vậy, đặc tính của nó là chiếu soi giúp cho đôi mắt được nhìn thấy mọi sự chung quanh. Như vậy, đặc tính của người Kitô hữu là gì? Đơn giản chỉ là sống chứng nhân như Lời Chúa dạy. Nói và viết về Lời Chúa thì rất ư là đơn giản dễ dàng. Chung chung, đa số người Công giáo giữ đạo còn rất tốt—còn đi lễ mỗi Chúa Nhật là đẹp rồi, lâu lâu hắt xì chỉ bỏ lễ trọng trong tuần thôi. Thật lòng mà nói, đa số những người Kitô giáo đang sống đạo mới chính là những người đang phải đối diện với những bách hại ở các nước Trung Đông hoặc các quốc gia đông  người Hồi giáo. Những người Công giáo ở Việt Nam ngày nay đang dần dần bước sang giai đoạn giữ đạo mà thôi—có đi lễ Chúa Nhật là đủ. Nghịch lý thay, những ai đang từ từ bỏ đạo lại là những người đến được bến bờ tự do này để theo đuổi giấc mơ Hoa Kỳ. Bạn có cảm thấy lòng sốt sáng mộ đạo của mình đang từ từ suy giảm mỗi ngày không hay đó chỉ là riêng cá nhân tôi? Có phải là mình không còn mấy thiết tha hay các cha đang tạo ra? Có phải là tôi đang tìm những biện hộ cho những thoải mái riêng mình?Có lẽ thời gian này không mấy thích hợp để chỉ ngón tay vào người kia để đào xới những nguyên nhân, nhưng tốt hơn hết vẫn là đấm ngực mình: Lạy Chúa chính con chưa muốn, chưa ước ao để trở thành muối và ánh sáng trong lúc này. Có đúng không? Ước gì mỗi người chúng ta sẽ là những hạt muối tuy nhỏ nhưng mặn mà cho những mảnh đời đang sống nhạt nhẽo cô đơn. Ước gì chúng ta cũng là những tia nắng lung linh chói xuyên qua những khe hở những tâm hồn rạng nức trong tăm tối. -Lm. Giuse Maria Nguyễn Tuấn Long

Dâng Lên Chúa Mọi Sự

Lễ Đức Mẹ dâng Chúa Giêsu vào đền thờ là một trong những tập tục tôn giáo có thể được bắt nguồn từ Cựu Ước khi vua Pharaon không cho dân Do Thái trở về xứ sớ mình. Hậu quả là con trai đầu lòng của nhà vua đã phải chết thay. Thế nhưng cái chết của con trai mình vẫn chưa làm nhà vua thay đổi ý nghĩ, cuối cùng tất cả những kỵ binh hùng tráng Ai-Cập đã bị vùi chết trong biển Đỏ, người Do Thái gọi đó là sự kiện hay biến cố Vượt Qua. Để tưởng nhớ đến công ơn Thiên Chúa đã giải thoát họ ra khỏi kiếp nô lệ, luật Mosê hay Do Thái giáo dạy mỗi gia đình phải dâng lên Thiên Chúa con trai đầu lòng. Dĩ nhiên Đức Mẹ và thánh Giuse là những người Do Thái giáo ngoan đạo nên đã làm đúng theo luật dạy cùng với những lễ vật đơn sơ. Điểm nhấn chính yếu trong Tin Mừng này là sự nhận biết ra Đấng Cứu thế bởi ông Simeon, một người được coi là công chính sùng đạo và hằng được Chúa Thánh Thần ngự trên. “Muôn lạy Chúa, giờ đây theo lời Ngài đã hứa, xin để tôi tớ này được an bình ra đi… Vì chính mắt con được thấy ơn cứu độ Chúa đã dành sẵn cho muôn dân: Đó là ánh sáng soi đường cho dân ngoại, là vinh quang của Ít-ra-en Dân Ngài.” Thật tuyệt vời và diệu kỳ thay, Chúa Giêsu và gia phả Ngài xuất phát từ Do Thái giáo mà nay chính Simeon, một tín hữu Do Thái giáo đạo đức, đã phải thốt lên những lời khẳng định và xác tín con người Đức Kitô, chính Ngài là ánh sáng soi đường và là vinh quang của Israel. Qua những chứng từ của Simeon, chúng ta có thể suy ra rằng Đức Kitô chính là chân thiện mỹ và Ngài (cũng như Kitô giáo) mới chính là niềm an ủi, là ánh sáng, và là niềm hy vọng cho thế giới. Nếu Simeon đã có khả năng nhận biết ra được Chúa Giêsu là Đấng Cứu thế, vậy thì chúng ta cùng suy niệm với những câu hỏi sau đây. Yếu tố nào đã giúp Simeon có khả năng nhận ra được Thiên Chúa? Chúng ta có cảm thấy hạnh phúc và bình an trong lúc này không? Nguyên nhân của sự bất an và trống vắng trong tâm hồn được bắt nguồn từ đâu? Nếu Đức Mẹ đã dâng Chúa Giêsu lên Thiên Chúa, thì chúng ta nên bắt chước Mẹ dâng lên Ngài những nỗi buồn sầu khổ và tiếp tục xin Ngài thánh hóa mỗi ngày. -Lm. Giuse Maria Nguyễn Tuấn Long

Sự Can Thiệp Nhiệm Mầu

Phép lạ đầu tay của Chúa Giêsu tại Cana không chỉ cho thấy tầm vóc quan trọng của Đức Mẹ trong đời sống hôn nhân vợ chồng mà còn chứng minh được là Đức Mẹ có khả năng can thiệp vào công trình cứu rỗi các linh hồn. Nhờ Mẹ mà niềm vui của tiệc cưới được kéo dài và nhân đôi. Qua Mẹ mà Chúa Giêsu đã thay đổi thời gian hành động. “Hễ Người bảo gì thì phải làm theo.” Nếu Đức Mẹ quan tâm đến thể diện của hai gia đình cô dâu chú rể trong tiệc cưới, thì chắc chắn Mẹ càng quan tâm đến sự cứu rỗi của các linh hồn trong khả năng của Mẹ. Đối với thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, qua Đức Mẹ chúng ta đến với Con của Người càng dễ dàng hơn. Thật vậy, ai yêu mến Chúa Giêsu nhiều bao nhiêu thì người đó càng phải yêu mến Đức Mẹ nhiều bấy nhiêu. Điều này cũng dễ hiểu thôi vì càng gần Mẹ nhiều bao nhiêu thì Mẹ sẽ giúp chúng ta yêu mến Chúa nhiều bấy nhiêu. Điều thứ tư trong mười lăm lời hứa của Đức Mẹ đối với những ai lần chuỗi kinh mân côi là linh hồn sẽ được thánh hóa. Nói một cách vắn gọn, Chúa Giêsu đã ra tay uy quyền biến tàn tiệc thành bữa tiệc mới. Tất cả mọi sự kể cả sự cứu rỗi các linh hồn đều nằm trong quyền năng của Thiên Chúa. Đức Mẹ là người nắm giữ vai trò là người cầu thay nguyện giúp để rồi mọi sự đều có thể xảy ra ngoài sức tưởng tuợng con người. Nước trở thành rượu ngon là điều không ai có thể tưởng tượng trong bữa tiệc. Đức Mẹ là tác nhân đã mở lời trước khi thành sự. Kết luận, nếu chúng ta đặt trọn hy vọng vào lòng thương xót Chúa để được cứu rỗi, vậy thì chúng ta có dám tin rằng sự can thiệp của Đức Mẹ sẽ cứu được linh hồn chúng ta không? -Lm. FX. Bùi Ngọc Tỷ