Emmanuel

Vua Ahaz, hậu duệ vua David, trị vì xứ Judah khoảng 700 năm trước Chúa Giáng Sinh. Thời ấy, thủ đô Jerusalem bị đe dọa bởi đế quốc Assyria hùng mạnh. Ahaz muốn thỏa hiệp với quân thù. Ngôn sứ Isaia khuyên nhà vua không nên tin tưởng nơi người đời, nhưng hãy đặt trọn niềm phó thác nơi Thiên Chúa, vì Chúa mới là Đấng điều khiển mọi sự trên trời dưới đất. Ahaz từ chối cách khéo léo: “Tôi không dám thử thách Thiên Chúa.” Thực ra lòng tin của Ahaz và dân Israel đã phai lạt. Đã lâu rồi, họ không còn thấy những phép lạ như thời kỳ Xuất hành. Để chứng tỏ Ngài vẫn luôn bên cạnh họ, Thiên Chúa ban cho họ một dấu chỉ: “Này đây một trinh nữ sẽ thụ thai, sinh hạ một con trai và đặt tên con trẻ là Emmanuel,” nghĩa là Thiên Chúa ở cùng chúng ta. Thiên Chúa ở cùng chúng ta. Đó là sứ điệp của ngày Chúa Nhật trước lễ Giáng Sinh. Sứ điệp này dạy chúng ta hai điều. Thứ nhất, Thiên Chúa luôn luôn hiện diện với chúng ta, nhất là trong những lúc nguy khốn hay khi chúng ta gặp hoàn cảnh éo le như trường hợp thánh Giuse trong bài Phúc âm hôm nay.  Thứ hai, Thiên Chúa ở giữa chúng ta trong chính cuộc sống thường nhật của mình. Nhiều người nghĩ rằng, chỉ trong nhà thờ, khi cầu nguyện hay làm các việc đạo đức mới có thể gặp được Chúa. Nhưng Chúa đã chọn cách thức ở giữa chúng ta như một con người. Ngài chia sẻ mọi thăng trầm của kiếp người như chúng ta. Bằng cách đó, Ngài dạy chúng ta làm sao nhận biết và nghe theo đường lối của Thiên Chúa trong mọi hoàn cảnh của cuộc sống. Thánh Giuse là một mẫu gương cho chúng ta. Giuse đã gặp một hoàn cảnh hết sức éo le. Cô Maria hôn thê tuyệt vời của Ngài chưa về chung sống đã có thai. Ngoại tình chăng? Xét kỹ thì hình như không phải. Trước hết, Maria là người rất đạo đức không dễ dàng chọn làm điều sai trái. Hơn nữa, ở cái thôn Nazareth nhỏ bé này, có chuyện gì thầm kín mà không bị lộ ra. Phản ứng đầu tiên của Giuse là né tránh. Nhưng sau khi biết được ý Chúa, Giuse đã tin tưởng đặt cược cả tương lai của mình làm theo thánh ý Chúa. Ngài đã đón nhận Maria về nhà mình và trở thành cha nuôi của Chúa Cứu Thế. Chúa ở cùng chúng ta. Chúa không ở đâu xa. Chúa ở thật gần. Tại sao ta không nắm tay Ngài để Ngài dẫn ta đi qua mọi nẻo quanh co của cuộc đời? -Lm. FX. Bùi Ngọc Tỷ  

Mong đợi gì hay mong đợi ai?

Có lẽ mấy tuần trước lễ Giáng Sinh là thời gian vui nhất trong năm. Khi đi mua sắm, khi trang trí nhà cửa, khi sắp đặt những cuộc vui cho mùa nghỉ lễ, chúng ta cảm thấy rộn ràng, háo hức, mong đợi. Mong đợi là chủ đề của Mùa Vọng. Nhưng niềm mong đợi của Mùa Vọng có phải hướng về những điều nói trên không? Nói cách khác, chúng ta mong đợi gì, hoặc mong đợi ai? Thánh Gioan Tẩy Giả, như chúng ta nghe trong bài Phúc Âm, sai sứ giả đến hỏi Chúa Giêsu: “Ông có phải là Đấng phải đến, hay chúng tôi còn phải đợi một Đấng khác?” Câu hỏi của thánh Gioan đại biểu cho niềm mong đợi đầy khắc khoải của dân Israel đã chịu bao thống khổ. Câu hỏi này cũng là niềm mong đợi của cả một nhân loại đang lầm than trong “thung lũng đầy nước mắt.” Mong đợi một ngày mai tươi sáng. Chúa Giêsu không trả lời trực tiếp câu hỏi người ta đặt ra. Ngài chỉ nói với các sứ giả: “Hãy thuật lại cho Gioan những gì các ông đã chứng kiến.” Và họ đã thấy gì? Họ thấy “người mù xem thấy, kẻ què được đi, người cùi được sạch, kẻ điếc nghe được, người chết trỗi dậy, kẻ nghèo được nghe Tin Mừng.” Họ được chứng kiến những dấu chỉ ơn cứu rỗi mà ngôn sứ Isaia đã loan báo, nay được thực hiện qua tay của Đức Giêsu. Chúa Giêsu Kitô chính là Đấng Cứu Thế mà nhân loại đợi trông. Và nay, Ngài đã đến. Một triều đại mới đã khởi đầu. Chúng ta là những người nghèo đang vất vả với những gánh nặng của cuộc đời; người mù đang dò dẫm tìm kiếm con đường về cõi phúc; người cùi mang trên mình đầy thương tích lở lói của những lỗi lầm trong cuộc đời. Lời Chúa hôm nay kêu gọi chúng ta: “Hãy can đảm lên, đừng sợ! Thiên Chúa của anh em đây rồi.” Hy vọng của chúng ta đây rồi. Hy vọng của chúng ta là Chúa Giêsu Kitô. Chỉ cần có Ngài, cuộc đời chúng ta sẽ đổi khác. Và nguồn vui của chúng ta sẽ không bao giờ cạn. Đức cố Hồng Y Nguyễn văn Thuận đã chia sẻ cảm nghiệm của Ngài về niềm hy vọng đích thực như sau: “Cha đã đi một quãng đường, hân hoan có, gian khổ có, nhưng luôn luôn tràn trào hy vọng, vì có Chúa và Mẹ Maria bên cha… Cha đã hạnh phúc và vui tươi, vì cha chỉ hy vọng vào Chúa.” (Đường Hy Vọng, Lời mở đầu) -Lm. FX. Bùi Ngọc Tỷ

Sự Đơn Sơ Mộc Mạc Dễ Nhận Ra Chúa – 3rd Sunday of Advent – Năm A – Lm. Giuse Maria Nguyễn Tuấn Long

[one_half] [/one_half]Phúc Âm tuần trước miêu tả nét đơn sơ mộc mạc và lòng khiêm cung về con người của thánh Gioan Tẩy Giả trong sứ vụ giới thiệu Đức Kitô. Trong tuần này, Chúa Giêsu lại đề cao về con người này trong phần hai của Tin Mừng. Nhiều người thắc mắc tại sao thánh Gioan Tẩy Giả lại đặc biệt như thế? Câu trả lời không chỉ ở công việc của thánh nhân làm là hướng nhân loại về Đấng Cứu thế nhưng quan trọng hơn nữa là cách rao giảng của ngài bằng cách sống khiêm nhu chân thành. Nên nhớ rằng thánh Gioan Tẩy giả vào thời đó rất được nhiều người mến mộ bởi thế một người đang trên đà tiếng tăm lẫy lừng lại hạ mình xuống trước Đức Kitô quả là một hành động cực kỳ khiêm nhu. Cuối cùng thánh nhân đã hy sinh mạng sống mình vì đức công chính và sự ngay thẳng chính trực. Chính cái nếp sống đơn sơ mộc mạc và lòng ngay thẳng là một trong những yếu tố căn bản cần thiết nhất giúp tâm hồn dễ cảm nghiệm và nhận diện ra Thiên Chúa mỗi ngày trong cuộc sống. Kinh nghiệm sống mỗi ngày cũng cho thấy nhiều người giàu có thường dễ trở nên khinh thường những thần phần nghèo khó trong xã hội thế nhưng liệu họ có biết những người chung quanh đang nghĩ gì về họ: khinh, chê, chán, ghét v.v. Trong bối cảnh xã hội ngày nay, con người hình như có tất cả mọi thứ, nhưng sâu thẳm, họ vẫn không cảm thấy hạnh phúc và vẫn luôn khát khao kiếm tìm một cái gì đó để thỏa mãn cho tâm hồn. Một khi con người loại bỏ Chúa Giêsu ra khỏi mùa Giáng Sinh, tự nhiên mọi ý nghĩa đều thay đổi. Không có Chúa trong máng cỏ của mùa Giáng Sinh, máng cỏ chỉ còn lại cỏ và chiên lừa. Đó là hình ảnh mà con người ngày nay đang theo đuổi chỉ mải mê mua sắm ăn chơi thụ hưởng như chiên lừa với cỏ. Để tìm gặp lại được niềm vui và an bình cho tâm hồn, chúng ta nên trở lại với nếp sống đơn sơ giản dị và lòng khiêm nhường như Gioan dọn đường cho Chúa, như Chúa mặc lấy thân xác con người. Kinh nghiệm sống đã và đang cho thấy chẳng ai chê ghét mình vì nếp sống đơn giản, nhưng thường bị gièm pha qua lối sống xa hoa cầu kỳ.    3rd Sunday of Advent – A – 19   Mt. 11:2-11  “Are you the one who is to come or should we look for another” Lm. Giuse Nguyễn Tuấn Long  

Homo homini lupus est

Người đối với người như là sói. Đó là một thành ngữ bằng tiếng La tinh, nói lên một thực tế đáng buồn của nhân loại. Việt ngữ cũng có những câu như “cá lớn nuốt cá bé,” “mạnh được yếu thua,” “cạnh tranh sinh tồn.” Các chuyên gia sinh vật học nói đó là quy luật tự nhiên, “food chain”. Nhiều chuyên gia xã hội học nói nhân loại chia làm hai hạng người, kẻ áp bức và kẻ bị áp bức, sói và chiên. Trong bối cảnh đó, Lời Chúa trong Chúa Nhật thứ hai Mùa Vọng hôm nay vẽ ra một hình ảnh hoàn toàn trái ngược: “Bấy giờ sói sẽ ở với chiên, beo nằm bên dê nhỏ. Bò tơ và sư tử non được nuôi chung với nhau, một cậu bé sẽ chăn dắt chúng…” (Is 11:6) Chuyện không tưởng! Nhiều người sẽ nói như vậy. Trái với quy luật tự nhiên của sinh vật học! Quá ngây thơ xét theo quan điểm xã hội học! Nhưng phê phán như vậy, họ có thực sự hiểu điều ngôn sứ Isaia muốn nói không? Phải để ý đến chữ “bấy giờ.” Ngài muốn nói về điều sẽ xãy ra trong triều đại của Thiên Chúa, một triều đại mà “Thần khí Đức Chúa sẽ ngự trị.” Việc thứ hai phải để ý là ngôn ngữ tượng hình của thể văn. Isaia muốn nói về sự hòa hợp tuyệt vời, khiến những xung khắc tự nhiên giữa hai thái cực đối lập vẫn có thể hòa hợp với nhau trong triều đại của Thiên Chúa. Triều đại của Thiên Chúa khởi đầu với sự xuất hiện của Chúa Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống và là Đấng Cứu Thế sinh ra cho chúng ta. Ngài sẽ thiết lập Nước Thiên Chúa ở trần gian. Những ai tin theo Ngài sẽ được Thần khí Thiên Chúa biến đổi trở nên những con người mới, khiến bản tính tự nhiên được thăng hoa, và họ sẽ sống “không theo tính xác thịt, nhưng theo sự hướng dẫn của Thần khí.” Ơn thánh Chúa không xóa bỏ bản tính tự nhiên của con người, nhưng kiện toàn bản tính ấy. Sự biến đổi của mỗi cá nhân kéo theo sự biến đổi trong tương quan giữa người với người. Trong thâm tâm, không ai thích chiến tranh và hận thù. Sẽ hạnh phúc biết bao nếu vợ chồng con cái anh chị em sống hòa hợp với nhau. Hàng xóm láng giềng qua lại giúp đỡ nhau. Thế giới tìm cách giải quyết mọi khác biệt trong hòa bình và công chính. Điều kiện tiên quyết là chúng ta phải sám hối. “Anh em hãy sám hối, vì Nước Trời đã đến gần.” Hãy nhận biết sự sai lỗi của mình và hướng về Đấng đang đến. Ngài chính là vị Cứu Tinh của nhân loại. -Lm. FX. Bùi Ngọc Tỷ

Mang Nặng Ðẻ Ðau

Trong tờ thông tin liên lạc của một giáo xứ nọ, người ta đọc thấy ở trang bìa của số ra tháng 12 như sau: Mùa Vọng là mùa của thai nghén… Có lẽ chỉ có những người đàn bà đã hơn một lần kinh qua thời kỳ thai nghén và sinh nở mới có thể giúp chúng ta hiểu được thế nào là 9 tháng 10 ngày mang nặng đẻ đau… Trong 9 tháng 10 ngày, ngoài những nôn mửa không ngừng, người đàn bà mang thai thường phải trải qua nhiều tâm trạng khác nhau của vui buồn lẫn lộn… Vui vì sự sống và niềm hi vọng đang lớn dần trong tâm hồn và thể xác của mình, người đàn bà mang thai cũng lo sợ vì những bất ngờ không lường trước được. Những đột biến trong người cũng khiến cho người đàn bà mang thai cảm nhận được sự mỏng dòn, yếu đuối của con người. Tất cả mọi cử động, chế độ dinh dưỡng đều được cân nhắc cẩn thận để không phương hại đến bào thai… Có nên tiếp tục đi nhanh như trước kia không? Có được hút một điếu thuốc như trước không? Có nên dùng càfê không? Có nên dùng một chút bia rượu không? Có nên thức khuya không?… Tất cả đều được cân nhắc từng li từng tí. Bào thai càng lớn dần, niềm vui và nỗi lo lắng cũng tăng thêm… Và khi đến ngày nở nhụy khai hoa, như chúa Giêsu đã nhận xét, niềm vui của người đàn bà khỏa lấp được tất cả những chờ đợi trong khi mang thai và những đớn đau trong khi sinh con. Sự chào đời của hài nhi không những mang lại niềm vui, nhưng cũng đảo lộn cuộc sống trong gia đình. Ðứa bé đã trở thành trung tâm của cuộc sống gia đình. Giờ giấc thay đổi, nhịp sống cũng thay đổi. Và có lẽ cái nhìn cũng đổi mới với mọi người trong nhà. Mùa Vọng là mùa của thai nghén… Do tiếng “Thưa, xin vâng!” đáp trả của Ðức Tin, chúng ta cũng cưu mang chính Chúa. Như người đàn bà có thể cảm nhận được sự tăng trưởng của bào thai, chúng ta cũng có thể cảm nhận được sự hiển diện mỗi lúc một thêm thân mật và gần gũi của Chúa trong tâm hồn chúng ta. Cũng như người đàn bà mang thai có thể nhận ra sự mỏng dòn yếu đuối của mình, với sự hiện diện của Chúa trong tâm hồn, chúng ta cũng cảm nhận sâu sắc hơn những bất toàn, khiếm khuyết và tội lỗi của chúng ta. Ý thức ấy càng mời gọi chúng ta bước đi trong từng cố gắng vươn cao hơn. Cũng như người đàn bà mang thai cân nhắc từng đường đi nước bước, từng cách ăn mặc đi đứng, người cưu mang Chúa cũng tập trung tất cả suy tư, hành động, cư xử của mình vào chính Chúa. Lẽ sống là động lực của người có niềm tin chính là Chúa… Bào thai càng lớn lên thì sự quên mình của người mẹ càng gia tăng. Người cưu mang Chúa cũng thế. Thánh Gioan Tẩy Giả đã diễn tả đúng đòi hỏi ấy khi Ngài nói về chúa Giêsu: “Ngài phải lớn lên, còn tôi phải nhỏ lại”… Càng quên mình, người tín hữu Kitô càng cảm nhận được sự hiện diện của Chúa trong tâm hồn. Ðó là định luật của đời sống Ðức Tin. Chính khi quên mình, người Kitô cảm nhận được sự hiện diện của Chúa và càng gặp được chính mình…Mùa Vọng là mùa của thai nghén: chúng ta hãy chuẩn bị cho Chúa Giêsu một máng cỏ trong tâm hồn chúng ta. Cũng như người đàn bà quên mình vì không biết bao nhiêu chuẩn bị cho con, chúng ta cũng hãy hưởng trọn cuộc sống của chúng ta về với Chúa Giêsu. Hãy để cho Ngài lớn lên bằng những nhỏ lại của chúng ta: nhỏ lại trong tham vọng, nhỏ lại trong những ước muốn bất chính, nhỏ lại trong những đố kỵ, ghen ghét, ích kỷ, nhỏ lại trong muôn vàn những đớn hèn, nhỏ nhặt trong cuộc sống… Và rồi, với Chúa ngự trị trong ta, tình mến sẽ lớn mãi trong trái tim. (Lẽ Sống, Radio Veritas)

Hãy Thức Dậy Đi

Có người so sánh đời người với cuộc sống trong một chiếc tàu ngầm. Chiếc tàu ngầm này có một khuyết điểm là không thể nổi lên mặt nước được, vì bộ phận quan trọng đó hư. Có hai việc mà các thủy thủ trong tàu ngầm phải làm, nếu không sẽ chết: một là tìm cách sửa chữa thiết bị đưa tàu ngầm lên mặt nước; hai là phải ăn uống ngủ nghỉ để có sức làm việc. Cả hai việc đều tối cần thiết. Thường ngày, chúng ta phải ăn uống ngủ nghỉ làm việc và vui hưởng những thành quả của đời sống. Nhưng đồng thời cũng phải ý thức cuộc sống đời này một ngày nào đó sẽ kết thúc. Thiên đàng, mặt nước trong thí dụ về chiếc tàu ngầm, mới là cuộc sống thật của chúng ta. Lời Chúa trong Chúa Nhật thứ nhất Mùa Vọng hôm nay nhắc nhở chúng ta về ngày Chúa đến lần thứ hai. Đối với mỗi cá nhân, chính là ngày chết. Trong thư gửi tín hữu Rôma, thánh Phaolô viết, “Đã đến lúc anh em phải thức dậy, vì hiện nay ngày Thiên Chúa cứu độ chúng ta đã gần hơn trước kia.”  Chúa Giêsu trong bài Tin Mừng nói đến sự bất ngờ nhưng chắc chắn của ngày Chúa đến,… “Anh em hãy sẵn sàng, vì chính giờ phút anh em không ngờ, thì Con Người sẽ đến.” Lời Chúa kêu gọi chúng ta hãy tỉnh thức, đừng ngủ quên khiến ngày đó đến trong lúc ta không sẵn sàng. Thánh Phaolô nói đến những người đang mê ngủ trong nếp sống sa đọa của mình, đó là những người suốt ngày “chè chén say sưa, chơi bời dâm đãng, cãi cọ ghen tương.”  “Tiêu khiển một vài chung lếu láo” không phải là điều xấu. Nhưng sống buông thả cho những dục vọng thấp hèn như say sưa, dâm đãng, ghen tương, sẽ nhấn chìm chúng ta vào giấc ngủ của tử thần. Có những cuộc vui nhằm tăng thêm hương vị cho đời sống. Cũng có những cuộc vui để quên đời. Những người đi tìm kích thích để có ảo tưởng mình đang sống giống nhưng uống thuốc giảm đau. Thuốc giảm đau không chữa được bệnh, chúng chỉ làm cho thần kinh mất đi cảm giác. Và dĩ nhiên, càng lạm dụng thì càng phải tăng liều lượng mới đủ kích thích. Và đến một lúc nào đó, người ta sẽ thấy đời mình vô nghĩa. Hãy thức dậy đi! Hỡi những người đang ngủ mê! “Đã đến lúc anh chị em phải thức dậy, vì hiện nay ngày Thiên Chúa cứu độ chúng ta đã gần hơn trước kia.” “Hãy cầm lấy vũ khí của sự sáng để chiến đấu.” “Hãy mặc lấy Chúa Giêsu Kitô.” Ngài là niềm hy vọng của chúng ta. Ngài là Đấng Cứu Thế của chúng ta. Ngài đang đến! Adventus!   -Lm. FX. Bùi Ngọc Tỷ

Chúa Giêsu: Vị Vua Chân Thật

Cuộc tranh cử tổng thống Hoa Kỳ không chỉ gây sự chú ý quan tâm đến hàng triệu người dân trong nước mà còn cả thế giới. Một ngày sau khi có kết quả tranh cử, một cụ bà người Pháp độ ngoài sáu mươi đang uống cà-phê ở Lộ Đức hỏi tôi về tình hình kết quả. Biết được kết quả, bà cụ trợn mắt uống nốt ly cà-phê rồi lặng lẽ lấy dù ra đi. Hy vọng là cụ đi cầu nguyện với Đức Mẹ cho tương lai sau này. Tại sao thế giới lại quan tâm đến cuộc bầu cử tống thống Hoa Kỳ? Nói đến nước Mỹ, người ta thường nghĩ ngay đến đô-la, sự giàu có và sức mạnh. Bởi thế, ai là một tổng thống của một đệ nhất siêu cường quốc ít nhiều gì cũng sẽ gây ảnh hưởng đến kinh tế và chính trị của cộng đồng quốc tế. Trên thực tế, làm tổng thống Mỹ có sướng không? Tôi không biết sướng hay không, nhưng hầu như ông tổng thống nào bước vào nhà Trắng thì mái tóc đều đen và ra khỏi đó thì bạc trắng như nhau.  Đôi lúc làm tổng thống hay thủ tướng v.v. chưa chắc có những khoảnh khắc sung sướng trong đời như được ngồi ăn một tô bún mắm vỉa hè, húp hết nước lèo xồn xột mà không sợ bị ai dòm ngó. Ở bất cứ mọi cương vị lãnh đạo nào đi chăng nữa mà người lãnh đạo không có lòng nhiệt thành tâm huyết với trách nhiệm mà chỉ lo thủ lợi cho bản thân thì chính cái văn phòng của họ sẽ là một nhà tù vô hình tự tạo, chiếc ghế sẽ là gông cùm và đam mê ích kỷ sẽ mãi là nỗi ám ảnh kinh niên. Chúng ta nên nhìn lên hình ảnh Đức Kitô. Ngài là Vua không phải để cai trị mà là để hứng chịu những đau thương thiệt thòi. Ngài là Vua không đàn áp hay gây hoang mang lo sợ mà là đi gieo rắc bình an và vui mừng. Ngài là Vua không coi thường nhân phẩm kẻ khác mà là hy sinh chính con người mình cho kẻ khác. Để chuẩn bị bước vào năm phụng vụ mới và mùa Vọng vào tuấn tới, mỗi người chúng ta hãy mời Chúa Giêsu đến ngự vào lòng mình. Hãy để Chúa Giêsu làm trung tâm điểm của đời sống và hướng đi cuộc đời mình với trọn niềm tin sắc son như lời của bài thánh ca Tin Hay Không Tin: Dù đời bao tăm tối tôi cứ vững tin luôn. Tin rằng Ngài đã thương tôi, tin rằng Ngài chết cho tôi. Dù đời bao giông tố tôi quyết bước theo Ngài. Cho dù đời lắm chông gai, tôi vẫn là môn đệ Ngài.

Tôn Giáo và Bắt Đạo Không Thể Rời Nhau

Phúc Âm thánh Luca đã ghi lại lời tiên báo của Chúa Giêsu về sự sụp đổ của Giêrusalem cũng như những bắt bớ sau này. Lời tiên báo này không chỉ ứng nghiệm trong lịch sử mà còn tiếp tục kéo dài cho đến hôm nay với những cuộc bắt bớ đạo ở nhiều nơi trên thế giới. Do Thái là xứ sở cội nguồn của Kitô giáo, nhưng con số tín hữu lại là một trong những thiểu số gần như bị xóa xổ. Hiện tại ở Trung đông hay các quốc gia Hồi giáo, những người Kitô giáo phải thường xuyên đối diện với những bắt bớ và quấy nhiễu. Trên thẻ căn cước (ID) phải có sự xác nhận công dân thuộc tôn giáo nào. Một khi đã chấp nhận mình là Kitô hữu, điều đó cũng đồng nghĩa với sự chấp nhận những thiệt thòi, ngược đãi và bất công xã hội. Riêng ở Việt Nam, các ủy ban nhân dân hay đồn công an thường được đặt gần các nhà thờ Công giáo. Công an chìm vẫn giả dạng đi lễ. Có thể nói Công giáo vẫn luôn là kẻ thù số một với nhà cầm quyền.   Văn minh con người đã chân lên mặt trăng hơn mấy thập niên nay mà tại sao con người vẫn luôn sát hại nhau vì tôn giáo? Có lẽ những bắt bớ đạo cũng là những cuộc chiến giữa thiện và ác, sự thật và gian trá, ánh sáng và bóng tối. Lịch sử đã và đang cho thấy càng bắt bớ đạo khốc liệt bao nhiêu thì đức tin ngày càng thêm kiên định bấy nhiêu.   Một khi con người không còn sợ chết để bảo vệ niềm tin của họ thì chẳng có một thế lực hay vũ khí nào có thể hủy diệt được họ hay xóa xổ tôn giáo trên bản đồ. Nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam rất sợ điều này. Bởi thế, họ bắt đầu đổi chiến thuật lúc cứng lúc mềm khi đàn áp những cuộc biểu tình chống Formosa. Họ tăng cường mở ra những tụ điểm ăn chơi giải trí để rồi từ từ người dân không còn màng đến chính trị, tôn giáo hay đấu tranh cho nhân quyền. Bởi bản chất, con người đang ăn sung mặc sướng dại gì bỏ đi tìm họa cho bản thân. Trên thực tế, nơi nào dồi dào kinh tế thì lòng mộ đạo hay tinh thần đấu tranh nơi đó cũng bị mai một và biến chất. Chúa Nhật này, Cộng đồng Công giáo Việt Nam thuộc Tổng giáo phận Los Angeles sẽ mừng lễ 117 vị Thánh Tử Đạo Việt Nam. Các ngài là những tấm gương sáng và là những viên đá nền tảng cho giáo hội Việt Nam. Ngày xưa các ngài đã can đảm hy sinh gìn giữ và truyền bá đức tin cho hậu thế. Không biết hậu thế ngày nay có còn mặn mà với niềm tin mà họ đã đổi bằng máu? Nguyện xin các Thánh tử đạo Việt Nam cầu bầu cho chúng con được luôn trung thành sống trọn niềm tin. Amen.  

 Vẫn Là Một Trong Hai

Là những Kitô hữu, vì tin có sự thưởng phạt công minh ở đời sau nên ít nhiều chúng ta cố gắng sống tốt lành ở đời này. Giả sử không có sự sống đời sau thì cuộc sống của chúng ta lúc này như thế nào? Giúp đỡ những người nghèo khổ có lợi gì? Sống hy sinh hãm mình để làm chi? Dù sao đi chăng nữa thì chúng ta đã và đang là những người có niềm tin cho nên câu trả lời cũng có phần nào chủ quan. Để xác tín niềm tin của chúng ta về sự sống đời sau và hóa giải sự phủ nhận của nhóm người Sađốc, Chúa Giêsu đã trả lời: “Con cái đời này cưới vợ, lấy chồng, song những ai sẽ xét đáng được dự phần đời sau và được sống lại từ cõi chết, thì sẽ không cưới vợ lấy chồng. Họ sẽ không thể chết nữa: vì họ giống như thiên thần. Họ là con cái Thiên Chúa: vì họ là con cái của sự sống lại. Về vấn đề kẻ chết sống lại, thì Môsê đã cho biết điều ấy trong đoạn nói về Bụi gai, khi ông gọi Chúa là Thiên Chúa Abraham, Thiên Chúa Isaac, và Thiên Chúa Giacóp. Nhưng Thiên Chúa không phải là Thiên Chúa của kẻ chết, mà là của kẻ sống. Vì mọi người đều sống cho Chúa”. Những người Sađốc tin và không tin điều gì? Ngoài Ngũ Kinh (5 quyển Kinh Thánh đầu tiên của Cựu Ước), người Sađốc không chấp nhận một giáo lý nào khác. Họ phủ nhận sự phục sinh, sự sống đời sau, thiên thần hay thần linh. Họ thuộc thành phần khá giả và có ảnh hưởng chính trị trong xã hội. Rất có thể chính những yếu tố lợi lộc này, họ không muốn nhìn nhận có sự sống đời sau vì nếu có đời sau thì những lợi lộc đời này chỉ là thứ yếu. Một khi đã đặt nặng những thứ yếu thành mục tiêu hay lý tưởng, thì tâm hồn rất khó cho đi hay từ bỏ. Người khá giả có thế lực hôm nay cũng vậy, họ cố bám víu vào giàu sang phú quý và tiếng tăm quyền lực. Bên cạnh đó, nếu người Sađốc tin vào Ngũ Kinh thì họ cần phải biết Thiên Chúa của các Tổ phụ họ thờ là Thiên Chúa hằng sống, không thể đồng hóa với các thần linh khác. Chính vì thế, câu trả lời của Chúa không chỉ xác nhận có sự sống đời sau mà còn cho họ thấy sự mâu thuẫn trong cách lý luận của họ: tin vào Thiên Chúa của Abraham, Isaac và Giacóp mà lại phủ nhận sự sống lại và sự sống đời sau. Nếu Chúa của các Tổ phủ không phải hằng sống thì Chúa ấy cũng chỉ là một chúa do con người tự tạo mà thôi. Nói cho cùng, ít nhiều gì con người thường tìm nhiều lý do để chống chế cho sự ích kỷ của mình. Người xưa và nay chẳng khác gì nhau về bản chất, nhưng chỉ khác nhau ở thời gian va không gian. Chỉ có Lời Chúa không thay đổi. Bởi thế, cuối cùng vẫn là một trong hai – Thiên Chúa và thế gian, chúng ta chọn bên nào?

Gặp Gỡ Đức Kitô

Cuộc gặp gỡ giữa Chúa Giêsu và Giakêu là một trong những câu chuyện Phúc Âm mang sắc thái vui tươi và hài hòa khác với những cuộc gặp gỡ căng thẳng với các kinh sư hay biệt phái. Nếu chúng ta đọc kỹ bốn Phúc Âm, Chúa Giêsu thường dùng từ “khốn” với những thành phần được coi là ưu tú hay đạo đức trong xã hội. Riêng những thành phần ô uế và tội lỗi thì Ngài thường dùng những cụm từ rất nhẹ nhàng như: phúc cho, được tha, ơn cứu độ và đức tin cứu chữa con v.v. Hôm nay Chúa Giêsu sử dụng lại những cụm từ này khi gặp gỡ Giakêu: “Hôm nay nhà này được ơn cứu độ, bởi người này cũng là con cái Abraham. Vì chưng Con Người đến tìm kiếm và cứu chữa điều gì đã hư mất.” Khác với những cuộc gặp gỡ trước, lần này Chúa Giêsu đã gọi chính đích danh Giakêu (tiếng Do-Thái có nghĩa là “tinh tuyền” hay “trong trắng”). Thật sự Giakêu dưới con mắt thế gian là một con người tội lỗi, nhưng dưới đôi mắt của Chúa, ông ấy là một con người công minh chính trực.  Sự chính trực này được hiểu ngầm ở câu nói: “và nếu tôi có làm thiệt hại cho ai điều gì, tôi xin đền gấp bốn.” Quả thật, cuộc gặp gỡ Đức Kitô không chỉ biến đổi tâm hồn Giakêu mà còn biến đổi cả cách sống và lối suy nghĩ của ông ấy đối với những người chung quanh. Giakêu biết ý thức hơn về bổn phận và trách nhiệm đối với người nghèo và sự công bằng trước mặt Thiên Chúa: “Lạy Ngài, tôi xin bố thí nửa phần của cải tôi cho kẻ khó, và nếu tôi có làm thiệt hại cho ai điều gì, tôi xin đền gấp bốn.” Học từ kinh nghiệm của Giakêu, cuộc gặp gỡ thực sự với Đức Kitô phải luôn có một sức mạnh thần linh có khả năng cảm hóa và thay đổi lòng người. Nhiều người Công giáo vẫn nói mình được ơn biến đổi rồi ơn này ơn kia và được Chúa chữa nhiều lần v.v. nhưng cách cư xử với anh em và gia đình lại khác hẳn với những gì Chúa ban. Phải như Giakêu, gặp gỡ Đức Kitô đòi hỏi mỗi người chúng ta phải sống có trách nhiệm với những người nghèo bất hạnh chung quanh và công lý công bằng với mọi người trong xã hội. Là những nhân chứng cho Đức Kitô, đời sống chúng ta có thể hiện sự công bằng bác ái trong xã hội như Giakêu đã làm chưa?