Đức Thánh Cha nói tất cả chúng ta đều là những người tội lỗi

(08/07/2017)- “Tất cả chúng ta đều có bằng đại học về tội lỗi”, Đức Thánh Cha đã nói như trên trong bài giảng thánh lễ sáng thứ Sáu 7 tháng Bảy tại nhà nguyện Santa Marta dành cho các nhân viên bảo trì tại Vatican. Trong một bài suy niệm về lời Chúa mời gọi Thánh Mátthêu đi theo Ngài, ĐTC nói rằng những người Pharisêu đã nhanh chóng nhìn thấy tội lỗi nơi những người khác, nhưng chậm nhận ra những khuyết điểm có khi còn trầm trọng hơn của chính mình. Đức Thánh Cha nói rằng ngài xúc động trước những lời của Chúa Giêsu “Ta đến không phải để kêu gọi những người công chính, nhưng là các tội nhân” Đức Thánh Cha khuyến khích cộng đoàn đặt niềm tin nơi Chúa Kitô: “Khi anh chị em yếu đuối và sa ngã, hãy tin là Chúa sẽ giúp anh chị em đứng vững; Ngài sẽ chữa lành anh chị em.” Đức Thánh Cha cũng nhắc nhớ đến câu chuyện của Thánh Jerome, là người đã nói với Chúa Giêsu rằng ngài đã dâng hết cho Chúa tất cả công việc của ngài về Kinh Thánh. Chúa Giêsu đáp lại rằng Ngài muốn thánh nhân hãy dâng cả những tội lỗi của mình để Chúa thánh hóa ông. (Theo Đặng Tự Do, Vietcatholic News)

Đức Hồng Y Luis Antonio Tagle: “Xin các cha đừng nói ‘Good Morning’ ở đầu thánh lễ”

(07/07/2017)- Đức Hồng Y Luis Antonio Tagle của Manila khuyên các linh mục của ngài đừng nói “Good Morning” vào đầu các Thánh lễ nữa. Ngài quan sát rằng nhiều linh mục quá nhấn mạnh vào câu chào này. Các ngài nói “Good Morning” và mong cộng đoàn đáp lại “Good Morning, Father”. Thậm chí có vị còn lặp lại “Good Morning” khi thấy cộng đoàn đáp lại “Good Morning, Father” nhỏ quá. Theo Đức Hồng Y, các linh mục bắt đầu Thánh lễ bằng “Good Morning” dường như không nắm bắt được sự sâu sắc của lời chào “Dominus vobiscum” – “Chúa ở cùng anh chị em” “Với tất cả sự tôn trọng, thưa các anh em linh mục của tôi, tôi không hiểu tại sao anh em phải nói ‘Good Morning’ và những lời chúc tương tự khi Sự Hiện Diện Thật Sự của Thiên Chúa trong Thánh Thể là một phúc lành quá đủ cho mọi người rồi”.

Thánh Bregitta, Góa Phụ (1303-1373) – Kính ngày 21/7

Thánh Brigitta sinh năm 1303 tại Thụy Ðiển (Suède). Cha mẹ ngài là bậc vị vọng và rất đạo đức. Ngài thích suy gẫm về sự thương khó Chúa. Kết hôn với ông Ulf Gusmarsson, quận công miền Névécie. Bằng lời nói và việc làm gương mẫu, ngài đã khéo hướng dẫn chồng đến tột đỉnh nhân đức. Ngài còn là người mẹ của tám đứa con. Lối giáo dục nhân từ dịu dàng và khôn ngoan đã giúp chúng biêt yêu thương kẻ nghèo và đau yếu. Sau khi chồng vào dòng Citeaux và chết ít lâu sau đó, ngài bắt đầu sống một đời rất khắc khổ (1344). Ngài đã được Thiên Chúa mạc khải nhiều lần điều bí nhiệm. Ngài đã lập một dòng ở Vadsténa theo luật dòng Saint Sauveur. Sau khi sang Giêrusalem hành hương, ngài trở về Rôma và mắc phải một chứng bệnh nan y. Sau một năm trường vật lộn với cơn bệnh, ngài từ trần năm 1373. Giáo Hội luôn kính nhớ những phép lạ ngài đã làm. Ngày 07/10/1391, Ðức Giáo Hoàng Bonifaciô IX đã ghi tên ngài vào sổ các Hiển Thánh. (Theo nhóm truyền giáo Châu Kiên Long, Đà Lạt)

Thánh Laurensô Brindisi, Linh Mục, Tiến Sĩ Hội Thánh (1559-1619) – Kính ngày 21/7

Jules César Russô sinh tại Brindisi, vùng Apulia, miền Nam nước Ý, vào năm 1559. Suốt cuộc đời ngài muốn trở thành một chiến sĩ của Thiên Chúa, một người hướng dẫn các linh hồn. Vì thế ngài đã xin gia nhập dòng thánh Phanxicô ở Vêrôme. Năm 1575, ngài được mặc áo dòng với tên là Laurensô Brindisi. Những năm học tại Padua đã giúp ngài trở thành một học giả, thông thạo các thứ tiếng Pháp, Ðức, Hy Lạp, Syrie, Do Thái. Ngài đã chuẩn bị sẵn sàng để bắt tay vào việc cải cách. Trước hết bằng lời giảng dạy: ngài đã không lý luận suông nhưng đặt vào lời Chúa một sức sống hầu lôi kéo các linh hồn. Danh tiếng ngài vang dội khắp Trung Âu. Ngoài ra, ngài còn là một người hăng say với Thập Tự Quân, ngài đã dẫn đầu đạo binh Hung Gia Lợi, với Thánh Giá cầm tay, để chống lại quân Thổ Nhĩ Kỳ. Và ngài đã thành công năm 1601. Ngài còn là một nhà ngoại giao tài giỏi của Ðức Giáo Hoàng. Ngài có một đời sống kết hợp thân mật với Ðức Kitô một cách đặc biệt. Ngoài những hoạt động bên ngoài, ngài dành rất nhiều thời giờ cho việc cầu nguyện và thực tập các nhân đức. Năm 1619, đang khi thi hành sứ mạng được trao phó ở Lisbone, ngài đã từ biệt cõi đời trong sự nghèo khó, đơn sơ và thánh thiện. Ngài đã để lại nhiều tác phẩm rất có giá trị bảo vệ đức tin Công Giáo. Ðức Giáo Hoàng Lêô XIII đã tấn phong ngài lên bậc Hiển Thánh năm 1881 và Ðức Giáo Hoàng Gioan XXIII đã tôn vinh ngài làm Tiến Sĩ Giáo Hội năm 1959.

Phân Ưu – Cụ Bà Anna Ngô Thị Tứ

  Cộng Đồng Công Giáo Việt Nam Tổng Giáo Phận Los Angeles nhận được tin Cụ Bà ANNA NGÔ THỊ TỨ Là nhạc mẫu của ông Nguyễn Thái Bạch, chủ nguyền Chương Trình Thăng Tiến Hôn Nhân Gia Đình TGP/LA, đã được Chúa gọi về lúc 10:00 sáng Thứ Tư ngày 5 tháng 7 năm 2017 tại Bình Giả – Bà Rịa Vũng Tàu, Việt Nam, hưởng thọ 90 tuổi. Trong tình hiệp thông với ông bà chủ nguyền Nguyễn Thái Bạch – Vân và Tang Quyến, Cộng Đồng Công Giáo Việt Nam Tổng Giáo Phận Los Angeles nguyện xin Thiên Chúa là Cha Nhân Lành, giầu lòng thương xót, xin thương tha thứ mọi lỗi lầm và sớm đưa Linh Hồn Cụ Bà ANNA về hưởng Tôn Nhan Thánh Ngài trên Thiên Quốc. Xin Mẹ Maria nâng đỡ an ủi ông bà và Tang Quyến trong lúc đau buồn trước sự mất mát quá lớn lao này. THÀNH KÍNH PHÂN ƯU. TM/CĐCGVN/TGP/LA. CT/ Phêrô Nguyễn Hiếu Vinh

Người Ganh Tỵ và Tham Lam

Câu chuyện có tính cách ngụ ngôn sau đây đã xảy ra tại thế kỷ thứ 16 tại Ấn Ðộ. Trong triều đình có hai viên sĩ quan nổi tiếng vì những đam mê của mình. Một người thì ganh tị, một người thì tham lam. Ðể chữa trị những tính xấu ấy, vua cho triệu tập hai viên sĩ quan vào giữa triều đình. Vua thông báo sẽ tưởng thưởng hai viên sĩ quan vì những phục vụ của họ trong thời gian qua. Họ có thể xin gì được nấy, tuy nhiên, người mở miệng xin đầu tiên chỉ được những gì mình muốn, còn người thứ hai sẽ được gấp đôi. Cả hai viên sĩ quan đều đứng thinh lặng trước mặt mọi người. Người tham lam nghĩ trong lòng: nếu tôi nói trước, tôi sẽ được ít hơn người kia. Còn người ganh tị thì lý luận: thà tôi không được gì còn hơn là mở miệng nói trước để tên kia được gấp đôi… Cứ thế, cả hai đều suy nghĩ trong lòng và không ai muốn lên tiếng trước. Cuối cùng, vua mới quyết định yêu cầu người ganh tị nói trước. Người này lại tiếp tục suy nghĩ: thà không được gì còn hơn để tên tham lam kia được gấp đôi. Nghĩ như thế, hắn mới dõng dạc tuyên bố: “Tôi xin được chặt đứt một cánh tay…”. Hắn cảm thấy sung sướng với ý nghĩ là người tham lam sẽ bị chặt hai cánh tay. Lắm khi chúng ta không hài lòng về cái mình có và chúng ta cũng không sung sướng khi người khác gặp nhiều may mắn hơn chúng ta. Không bằng lòng về chính mình, chúng ta không được hạnh phúc, mà bất mãn về người khác, chúng ta lại càng đau khổ hơn.   (Radio Veritas)

LỊch Phụng Vụ Trong Tuần (17/07/2017 – 23/07/2017)

17/07: Thứ Hai trong tuần thứ Mười Lăm Mùa Thường Niên Xh 1:8-14,22; Tv 124:1-3,4-6,7-8; Mt 10:34; Mt 11:1 18/07:   Thứ Ba trong tuần thứ Mười Lăm Mùa Thường Niên Xh 2:1-15; Tv 69:3,14,30-31,33-34; Mt 11:20-24 19/07:   Thứ Tư trong tuần thứ Mười Lăm Mùa Thường Niên                Xh 3:1-6,9-12; Tv 11:25-27 20/07:  Thứ Năm trong tuần thứ Mười Lăm Mùa Thường Niên Xh 3:11-20; Tv 105:1,5,8-9,24-25,26-27; Mt 11:28-30 21/07:  Thứ Sáu trong tuần thứ Mười Lăm Mùa Thường Niên Xh 11:10; Xh 12:14; Tv 116:12-13,15-16,17-18; Mt 12:1-8 22/07:   Thứ Bảy trong tuần thứ Mười Lăm Mùa Thường Niên                Thánh Maria Mađalêna                 Xh 12:37-42; Tv 136:1,23-24,10-12,13-15; Mt 12:14-21 23/07: Chúa Nhật thứ Mười Sáu Mùa Thường Niên Kn 12:13,16-19; Tv 86:5-6,9-10,15-16; Rm 8:26-27; Mt 13:24-43; Mt 13:24-30

Tâm Tình Người Đi Gieo

Bài dụ ngôn thật đẹp. Đẹp về hình ảnh phong phú. Đẹp về ý nghĩa sâu xa. Nhưng đẹp nhất vẫn là thái độ của người đi gieo. Người đi gieo đã có thái độ vừa hào phóng vừa kiên trì, vừa hy vọng vừa yêu thương. Người đi gieo đã gieo một cách hào phóng. Hãy nhìn kìa: ông vốc từng vốc lớn hạt giống và rộng tay vung vãi. Ông gieo không tiếc xót. Ông gieo không tính toán. Ông gieo không loại trừ. Những mảnh đất phì nhiêu màu mỡ nhận được hạt giống đã đành. Cả đến những mảnh đất sỏi đá, gai góc cũng được hưởng ơn mưa móc. Cả đến lối mòn có bước chân người cũng không bị lãng quên. Người đi gieo không bỏ rơi một mảnh đất nào, một ngõ ngách nào. Ông muốn cho hạt giống được gieo vãi khắp chốn. Người đi gieo đã gieo một cách kiên trì. Ông gieo bất kể ngày đêm. Ông gieo bất kể mưa nắng. Ông gieo bất kể những thất bại. Đợt gieo giống đầu tiên đã thất bại vì chim chóc tha đi, ông liền gieo tiếp đợt hai. Bị sỏi đá nắng hạn, cây lúa mất mùa, ông lại đi gieo tiếp đợt thứ ba. Bị gai góc bóp nghẹt, cây lúa bị lụi tàn, ông vẫn không nản, cứ gieo đợt thứ tư. Ông đúng là người đi gieo hạt không biết mỏi mệt. Người đi gieo đã gieo trong niềm hy vọng. Niềm hy vọng của ông thật lớn lao. Chính với niềm hy vọng ấy, ông đã dám đầu tư tất cả tiền bạc, sức khỏe, thời giờ vào việc gieo hạt. Chính niềm hy vọng ấy đã giúp ông đủ sức mạnh vượt qua những khó khăn, đứng vững trước những thất bại. Vì hy vọng, ông gieo cả trên lối đi, trên đá sỏi, trong cỏ gai. Ông tin rằng có gieo thì có gặt. Chính niềm hy vọng ấy đã giúp ông kiên trì và sau cùng đi đến thành công. Người đi gieo đã gieo trong tình thương yêu. Tình thương yêu của ông dạt dào lắm. Nên ông đã không ngại hao tốn tiền của, tâm trí, sức lực. Tình thương ấy bao la lắm. Nên ông động lòng thương đến cả những mảnh đất chai cứng, đá sỏi, gai góc. Tình yêu thương ấy mãnh liệt lắm. Nên ông mong sẽ cảm hoá được cả gai góc, sỏi đá, biến chúng thành đất màu mỡ phì nhiêu. Ông đã có thể chỉ chọn đất tốt mà gieo. Nhưng tình thương yêu mãnh liệt không cho phép ông làm thế. Vì ông không muốn loại trừ những miền đất chai cứng chứa đầy sỏi đá, cỏ gai. Người đi gieo chính là Thiên Chúa hiện thân trong Chúa Giêsu. Chúa Giêsu đã gieo trong yêu thương. Yêu thương đến độ chính Người lại trở nên một hạt giống,chịu vùi chôn, chịu mục nát để biến cải những mảnh ruộng gai góc, sỏi đá thành màu mỡ phì nhiêu, mong một mùa gặt đầy những bông lúa chín vàng trĩu nặng. Thiên Chúa là người đi gieo không biết mệt mỏi. Chúa Giêsu là người đi gieo say mê đến quên chính cả bản thân mình. Người muốn cho các môn đệ của Người tiếp tục công việc gieo Tin Mừng đi khắp mọi nơi.   Hôm nay Người muốn ta gieo một cách hào phóng. Hãy gieo không xẻn xo. Hãy gieo không tính toán. Hãy gieo không loại trừ. Hãy biết dùng mọi phương tiện hiện đại nhất để chuyên chở Tin Mừng. H ãy đem Tin Mừng tới mọi lãnh vực của đời sống. Hãy đem Tin Mừng tới tất cả mọi hạng người không loại trừ một ai. Người cũng muốn ta kiên trì gieo hạt Tin Mừng. Hãy kiên trì như thánh Phaolô, cứ gieo dù gặp “thời thuận lợi hay không thuận lợi”. Hãy cứ gieo dù đá sỏi, chông gai. Hãy cứ gieo dù những thất bại, nhọc nhằn.   Nhưng điều Người mong chờ nhất là các môn đệ của Người hãy đi gieo yêu thương. Yêu thương không chỉ những mảnh đất phì nhiêu, nhưng yêu thương cả những mảnh đất sỏi đá, gai góc. Yêu thương không chỉ những người mình thương và những người thương mình mà còn yêu thương cả những người không ưa mình và mình không ưa: vì một tình yêu thương đích thực thì không loại trừ ai. Chỉ có tình yêu thương mãnh liệt như thế mới cảm hoá được cỏ gai, làm mềm được đá sỏi, biến tất cả thành màu mỡ phì nhiêu. – Đức TGM Giuse Ngô Quang Kiệt

Đức Thánh Cha Phanxicô bổ nhiệm tân Tổng trưởng Bộ Giáo lý Đức tin

(1/07/201) Đức Thánh Cha Phanxicô đã bổ nhiệm Đức Tổng Giám mục Luis Ladaria Ferrer, SJ, 73 tuổi, một nhà thần học Dòng Tên, Tổng Thư ký Bộ Giáo lý Đức tin làm Tổng Trưởng Bộ Giáo lý Đức tin thay thế Đức Hồng Y người Đức Gerhard Müller. Đức Tổng Giám mục Luis Ladaria Ferrer, SJ đã được Đức Giáo Hoàng Bênêđictô XVI bổ nhiệm làm Tổng Thư ký Bộ Giáo lý Đức tin từ năm 2008 và ngài đã tiếp tục đảm nhận vai trò này khi Đức Thánh Cha Phanxicô được bầu làm giáo hoàng. Đức TGM Luis Ladaria Ferrer, SJ sinh ngày 19 tháng 4 năm 1944 tại Tây Ban Nha. Ngài học luật tại đại học Madrid năm 1966. Ngài gia nhập Dòng Tên ngày 17 tháng 10 cùng năm. Sau khi theo học tại đại học giáo hoàng Comilas, Tây Ban Nha và trường triết – thần Sankt Georgen, Đức, ngài được truyền chức linh mục năm 1973. Năm 1975 ngài tốt nghiệp tiến sĩ thần học tại đại học giáo hoàng Gregorian, Rôma và sau đó trở thành giáo sư môn thần học tín lý tại đại học giáo hoàng Comilas. Năm 1984 ngài giảng dạy tại đại học Gregorian và sau đó được bổ nhiệm làm phó viện trưởng đại học này từ năm 1986-1994. Ngài trở thành thành viên của Uỷ ban Thần học Quốc tế năm 1992 và chuyên viên của Bộ Giáo lý Đức tin năm 1995. Năm 2004, cha Ladaria Ferrer được bổ nhiệm làm Tổng Thư ký Uỷ ban Thần học Quốc tế. Năm 2008 ngài được Đức Giáo Hoàng Bênêđictô XVI bổ nhiệm làm Tổng Thư ký Bộ Giáo lý Đức tin và tấn phong ngài làm Tổng Giám mục hiệu toà Thibica. Quyết định bổ nhiệm tân Tổng trưởng bộ Giáo lý Đức tin của ĐTC Phanxicô được xem là bổ nhiệm quan trọng nhất tại Giáo triều Rôma sau việc bổ nhiệm Đức Hồng Y Pietro Parolin làm Quốc Vụ khanh Toà Thánh. Với cương vị mới này, Đức Tổng Giám mục Ladaria Ferrer cũng sẽ đảm nhiệm vị trí chủ tịch Uỷ Ban Giáo hoàng về Thánh Kinh, Uỷ ban Thần học Quốc tế và Uỷ ban Giáo hoàng “Ecclesia Dei” (Giáo Hội của Chúa). Đức Thánh Cha đã quyết định không tái bổ nhiệm Đức Hồng Y Müller cho nhiệm kỳ thứ 2. Đức Hồng Y Gerhard Müller đã được Đức Giáo Hoàng Bênêđictô XVI bổ nhiệm làm Tổng Trưởng Bộ Giáo lý Đức tin năm 2012 với nhiệm kỳ 5 năm. Thông cáo từ Vatican cho hay Đức Thánh Cha Phanxicô bày tỏ lòng biết ơn đối với Đức Hồng Y Ludwig Müller vì những đóng góp của ngài trên cương vị là người đứng đầu Bộ Giáo lý Đức tin. (Theo Chỉnh Trần, S.J., Vietcatholic News)

ĐHY Müller: không có bất kỳ căng thẳng nào giữa tôi với ĐGH Phanxicô

(4/07/2017)- Đức Hồng Y Müller phủ nhận rằng đã có đôi chút mâu thuẫn giữa ngài và Đức Thánh Cha Phanxicô, trong một cuộc phỏng vấn với tờ báo của Đức sau khi ngài được thay thế chức vụ Tổng trưởng Thánh Bộ Giáo lý Đức tin. Đức Hồng Y Müller nói với Algemeine Zeitung: “Giữa tôi với Đức Thánh Cha không có dị biệt nào. Ngài đã bác bỏ quan niệm – hầu như phổ biến trong số những phóng viên của Vatican – rằng ngài đã bị thay thế vì những dị biệt căng thẳng về vấn đề thần học. Đức Hồng Y người Đức nói rằng Đức Thánh Cha đã quyết định kết thúc việc thực hiện thường lệ kéo dài việc bổ nhiệm các viên chức Vatican vượt quá những nhiệm kỳ 5 năm và “tôi là người đầu tiên được áp dụng điều này.” (Theo Jos. Tú Nạc, Nguyễn Minh Sơn, Thanhlinh.net)