Cái Đói Hồng Phúc

Aị đói không hẳn là một điều xấu. Có đói, ăn mới thấy ngon. Có tôi luyện trong gian nan thử thách mới thực sự nên người. Đó chính là điều Thiên Chúa đã làm với dân Israel khi dẫn dắt họ đi suốt 40 năm trong sa mạc, trước khi về Đất Hứa. Ông Môsê giải thích cho dân như sau: “Thiên Chúa các ngươi đã dẫn đưa các ngươi qua sa mạc suốt bốn mươi năm, để rèn luyện và thử thách các ngươi, để biết các điều bí ẩn trong lòng các ngươi và xem các ngươi có tuân giữ lề luật của Người hay không? Người đã để các ngươi vất vả thiếu thốn, và ban cho các ngươi manna làm của ăn mà các ngươi và cha ông các ngươi chưa từng biết tới, để tỏ cho các ngươi thấy rằng: Con người sống không nguyên bởi bánh, mà còn bởi mọi lời do miệng Thiên Chúa phán ra.” Thiên Chúa đã thử thách lòng trung thành của dân. Ngài để cho họ đói và cho họ ăn. Ngài muốn khai mở lòng họ, cho họ thấy điều quan trọng nhất trong cuộc đời là tin tưởng và gắng bước theo chân Chúa trên cuộc lữ hành về Đất Hứa. Thiên Chúa cũng tôi luyện chúng ta bằng mọi gian nan thử thách và đau khổ trong cuộc sống. Ngài để chúng ta đói để thử thách lòng trung thành của chúng ta. Đồng thời Ngài cũng nâng đỡ và dìu dắt chúng ta, vì biết chúng ta yếu đuối và ngu muội. Ngài ban Lời hằng sống dạy dỗ chúng ta và ban bánh bởi trời là Mình và Máu Thánh Chúa nuôi dưỡng chúng ta trong cuộc lữ hành giữa sa mạc trần gian. Hôm nay mừng kính lễ Mình Máu Thánh Chúa, chúng ta hãy dành ít phút để suy niệm về thần lương bởi trời này. Thánh Augustinô giải thích tác dụng đặc biệt của bí tích Thánh Thể như sau: Thức ăn thường ngày chúng ta ăn sẽ bị tiêu hóa và biến thành máu thịt của chúng ta. Nhưng Mình Máu Thánh Chúa chúng ta lãnh nhận sẽ biến đổi chúng ta nên giống Chúa Kitô. Xem ra rước lễ không giống ăn cho no, mà giống ăn cho đói. Chịu lễ tuy là ăn vào, nhưng là ăn vào sự chết: “Mỗi lần ăn bánh và uống chén này, chúng con loan truyền Chúa chịu chết.” Nói cách khác, chịu lễ là hiệp thông với sự hy sinh của Chúa Kitô trên thập giá, là “cùng chết với Chúa Kitô để được cùng sống lại với Người.” Chết đi cái tôi của mình. Lột bỏ chính mình để Chúa Kitô Phục Sinh mỗi ngày mỗi lớn lên trong ta. Chịu lễ là ăn cho đói, cái đói hồng phúc, cái đói của tình yêu dâng hiến. -Lm. F.X. Bùi Ngọc Tỷ

Thánh Antôn Pađua, Linh Mục Tiến Sĩ Hội Thánh (1195-1231) – Kính ngày 13 tháng 6

Thánh Antôn Pađua, Linh Mục Tiến Sĩ Hội Thánh (1195-1231) – Kính ngày 13 tháng 6                                Antôn Pađua sinh năm 1195 tại Lisbonne thủ đô nước Bồ Ðào Nha, trong một gia đình quyền quý và đạo đức. Vốn được giáo dục theo tinh thần Phúc Âm nên ngài sớm ý thức được việc dâng mình cho Chúa. Ðầu tiên, ngài nhập dòng thánh Augustinô và được chịu chức linh mục tại đó. Cảm thấy lý tưởng sống khiêm tốn và khắc kỷ hợp với mình hơn và nhất là ngài ao ước được truyền giáo cho dân ngoại và được tử đạo, nên ngài xin gia nhập dòng Phanxicô năm 1220. Tại đây, ngài được Bề Trên sai đi truyền giáo cho dân Sarrasins ở Phi Châu, thể theo ý nguyện của ngài. Nhưng ý Chúa quan phòng lại định liệu cách khác. Vừa tới Phi Châu, ngài ngã bệnh nặng và phải trở về điều trị. Trên đường về quê, tàu ngài bị bão thổi dạt vào đảo Sicile thuộc nước Ý và ngài ở lại nhà dòng tại Monte Paulo. Nhờ gương đạo đức và tài giảng thuyết, ngài được Bề Trên cử đi giảng khắp nơi và lo việc huấn luyện các tu sĩ trong dòng. Bất cứ ở đâu, lời giảng của ngài đều có sức lôi cuốn nhiều người đến nghe. Chúa còn minh xác lời ngài bằng nhiều phép lạ. Không những tại Ý, mà tại đất Pháp, ngài làm việc không biết mệt mỏi. Và người ta đã ghép cho ngài tên “Hòn Bia giao ước” và “Cái búa của bọn lạc giáo”. Ngài trở về Pađua một năm trước khi chết. Ngài nổi tiếng vì công đức và các phép lạ đã làm. Ngày 13/6/ 1231, ngài về an nghỉ trong Chúa, hưởng thọ 36 tuổi. Năm 1946, Ðức Giáo Hoàng Piô XII đã tôn phong ngài làm Tiến Sĩ Hội Thánh.

Thánh Êphrem, Phó Tế, Tiến Sĩ Hội Thánh (308-373) – Kính ngày 09 tháng 6

Thánh Êphrem sinh năm308 tại Nisible nước Syria. Từ khi còn nhỏ, ngài đã bị cha đuổi ra khỏi gia đình vì ngài có cảm tình với đạo Công Giáo, ngài đến với Ðức Cha Giacôbê học đạo và chịu phép Rửa. Vì sự tiến triển quá mau chóng về đường tu đức và học vấn, Ðức Cha đã trao cho ngài giữ chức vụ giáo sư thần học tại Nisible, miền Mésopotamia, và ít lâu sau phong chức phó tế cho ngài. Vì sự khiêm tốn, ngài xin từ chối không lãnh chức linh mục. Nhờ khôn ngoan, thông minh và đạo đức, ngài đã được mang danh hiệu Tiến Sĩ Giáo Hội ngay khi ngài còn sống. Ngài có lòng mộ mến Ðức Maria Vô Nhiễm cách đặc biệt. Ngài cũng là một nhà chiêm niệm với nếp sống khổ hạnh, một tiến sĩ với những lời giảng thuyết cao sâu cũng như những bài giáo lý bình dị cho đại chúng. Hơn nữa ngài còn là một thi sĩ với danh hiệu “Cây đàn của Chúa Thánh Linh”. Ngài đã dùng thơ văn trong việc giảng dạy Phúc Âm. Dưới hình thức Thánh Vịnh, ngài đã chuyển đạt cho dân chúng những bài học dễ hiểu và dễ nhớ. Những bài thơ của ngài đầy ý vị diễn tả tình yêu đối với Chúa Giêsu và Ðức Mẹ Maria. Năm 363, Nisible bị rơi vào tay người Ba Tư, ngài phải chạy về Edesse (Mésopotamia) và chết ở đó ngày 16/6/373. Năm 1920, Ðức Giáo Hoàng Bênêđictô XV đã tuyên phong ngài làm Tiến Sĩ Hội Thánh.

Tuyên bố của Hội Đồng Giám Mục Hoa Kỳ về tình trạng kinh hoàng hiện nay

(01/06/2020) – Dưới đây là bản dịch Việt Ngữ. Việc giết hại anh George Floyd là một hành động vô nghĩa và tàn bạo, một tội lỗi kêu thấu đến trời cao để đòi công lý. Làm thế nào lại có thể xảy ra ngay tại Hoa Kỳ này những cảnh tượng kinh hoàng trong đó cuộc sống của một người da đen có thể bị tước đoạt trong khi những lời kêu cứu của anh không được trả lời, và sự giết hại anh được ghi hình lại khi nó đang xảy ra? Tôi đang cầu nguyện cho linh hồn anh George Floyd và những người thân yêu của anh, và thay mặt cho các giám mục anh em của mình, tôi chia sẻ sự phẫn nộ của cộng đồng da đen và những người đứng cùng với họ ở Minneapolis, Los Angeles và trên toàn quốc. Sự tàn nhẫn và bạo lực mà anh ta phải chịu không phản ảnh đa số những người nam nữ tốt lành trong lực lượng thực thi pháp luật, là những người thực hiện nhiệm vụ của mình trong danh dự. Chúng ta biết điều đó. Và chúng ta tin tưởng rằng chính quyền dân sự sẽ điều tra vụ giết hại anh ta một cách cẩn thận và bảo đảm những người chịu trách nhiệm phải bị trừng trị thích đáng. Tất cả chúng ta nên hiểu rằng các cuộc biểu tình mà chúng ta đang thấy trong các thành phố của chúng ta phản ánh sự thất vọng và sự tức giận chính đáng của hàng triệu anh chị em chúng ta, những người thậm chí ngày nay vẫn phải trải qua sự coi thường, sỉ nhục, và không có cơ hội bình đẳng chỉ vì chủng tộc hoặc màu da của họ. Xã hội Hoa Kỳ không nên diễn ra như thế. Phân biệt chủng tộc đã được dung thứ quá lâu trong cách sống của chúng ta. Mục sư Martin Luther King, Jr. đã nói thật chí lý: bạo loạn là ngôn ngữ của những người không được lắng nghe. Chúng ta nên lắng nghe nhiều hơn ngay từ bây giờ. Lần này, chúng ta phải lắng nghe những gì mọi người nói qua nỗi đau của họ. Cuối cùng chúng ta cần phải thoát khỏi sự bất công chủng tộc vẫn còn lây nhiễm quá nhiều trong các lĩnh vực trong xã hội Mỹ. Tuy nhiên bạo lực của những đêm gần đây là tự hủy hoại và tự đánh bại mình. Chúng ta chẳng đạt được gì qua bạo lực và rất nhiều mất mát. Chúng ta hãy tập chú vào phần thưởng là sự thay đổi thực sự và lâu dài. Các cuộc biểu tình hợp pháp không nên được khai thác bởi những người có các giá trị và các chương trình nghị sự khác nhau. Đốt phá và cướp bóc cộng đồng, hủy hoại sinh kế của những người lân cận của chúng ta, không thúc đẩy chính nghĩa bình đẳng chủng tộc và phẩm giá con người. Chúng ta không nên để anh George Floyd chết một cách vô lý. Chúng ta nên tôn vinh sự hy sinh của cuộc đời anh bằng cách loại bỏ sự phân biệt chủng tộc và sự căm ghét khỏi trái tim của chúng ta và canh tân cam kết thực hiện lời hứa thiêng liêng của đất nước chúng ta là trở thành một cộng đồng yêu quý cuộc sống, tự do và bình đẳng cho tất cả mọi người. + Đức Tổng Giám Mục Jose H. Gomez Chủ tịch Hội Đồng Giám Mục Hoa Kỳ (Theo Đặng Minh An dịch, Vietcatholic News)    

ĐGH Phanxicô nguyện Kinh Mân Cội Mân tại Hang đá Lộ Đức ở Vatican

(02/06/2020) – Đức Thánh Cha Phanxicô đã đặt một bó hoa trước Đức Mẹ Hang đá Lộ Đức trong Vườn Vatican. Hang đá này, được xây dựng vào đầu thế kỷ 20, là nơi được chọn để cầu nguyện Mân Côi cho những người bị ảnh hưởng bởi coronavirus. Đức Thánh Cha Phanxicô: “Chúng con tự phó dâng cho Mẹ, Mạnh khỏe khỏi Bệnh tật, những người trước Thánh Giá đã kết giao với nỗi đau của Chúa Giêsu, một lòng trung kiên đức tin của Người.” Một bác sĩ, một y tá và một tuyên úy bệnh viện, những người mà đã chăm sóc bệnh nhân bị nhiễm coronavirus là một trong số những người có mặt. Cũng có một người đã được chữa khỏi và một người phụ nữ mất mẹ vì căn bệnh này. Mỗi người dẫn một phần của chuỗi Mân côi, trong số những người Công giáo được cầu nguyện với cường độ mãnh liệt hơn trong tháng Năm. Trên khắp thế giới, 50 đền thờ Thánh Mẫu đã tham gia cầu nguyện từ các quốc gia tương ứng. Đức Thánh Cha Phanxicô: “Họ nói với tôi rằng có rất nhiều đền thờ ở Mỹ Latinh và tôi muốn gửi lời chào bằng tiếng Tây Ban Nha tới tất cả các bạn, các đền thờ của Mỹ Latinh. Tôi thấy Guadalupe … và nhiều nơi khác đang liên lạc với chúng tôi, hiệp nhất cầu nguyện. Bằng tiếng mẹ đẻ của tôi, tôi chào các bạn: cảm ơn các bạn đã gần gũi với tất cả chúng tôi. Cầu xin Mẹ của chúng ta từ Guadalupe ở cùng với chúng tôi.” Lời cầu nguyện long trọng đã kết thúc khi được bắt đầu trong lời hát Ave Maria. Tất cả những người có mặt đã hết sức tôn trọng các biện pháp an toàn, với sự cách ly xã hội và mặt nạ, trong khi cầu xin virus coronavirus chấm dứt và cho tất cả những người bị ảnh hưởng. (Theo Jos Tú Nạc, NMS, thanhlinh.net)  

Thư Đức Thánh cha nhân kỷ niệm 25 năm Thông điệp Ut Unum Sint

(29/05/2020) – Đức Thánh cha Phanxicô dâng lời cảm tạ Thiên Chúa vì những bước tiến trên con đường đại kết các tín hữu Kitô và ngài cầu xin Chúa Thánh Linh hướng dẫn hành trình của Giáo hội, và để mỗi tín hữu tái cảm nghiệm tiếng gọi hoạt động cho chính nghĩa đại kết Kitô. Đức Thánh cha bày tỏ lập trường trên đây, trong thư gửi Đức Hồng y Kurt Koch, người Thụy Sĩ, Chủ tịch Hội đồng Tòa Thánh hiệp nhất các tín hữu Kitô, nhân dịp kỷ niệm 25 năm Thông điệp “Ut Unum Sint” của thánh Gioan Phaolô II Giáo hoàng, ngày 25/5/1995 về hiệp nhất Kitô. Đức Thánh cha nhận định rằng trong thông điệp “Ước gì chúng được nên một” (Ut Unum Sint) (Xc. Ga 17,21), thánh Gioan Phaolô II đã xác nhận “một cách không thể hồi lại được” (UUS 3), quyết tâm đại kết của Giáo hội Công giáo, như Công đồng chung Vatican II đã nhìn nhận rằng: phong trào tái lập sự hiệp nhất của tất cả các tín hữu Kitô “đã nảy sinh do ơn của Chúa Thánh Linh” (UR 1). Thông điệp tái khẳng định rằng “Sự khác biệt hợp pháp không hề chống lại sự hiệp nhất của Giáo hội, trái lại càng gia tăng vẻ đẹp và góp phần không ít vào việc chu toàn sứ mạng của Giáo hội” (n.50). Đức Thánh cha cảm tạ Chúa vì hành trình mà Chúa đã cho các tín hữu Kitô thực hiện, trong việc tìm kiếm sự hiệp nhất trọn vẹn. “Tuy đôi khi chúng ta nóng lòng nghĩ rằng chúng ta có thể và phải dấn thân hơn nữa, nhưng chúng ta không được thiếu niềm tin và lòng biết ơn: nhiều bước tiến đã đạt được trong những thập niên qua, để chữa lành các vết thương ngàn đời; gia tăng sự nhìn nhận và quí chuộng nhau, giúp vượt thắng nhiều thành kiến đã ăn rễ sâu; cuộc đối thoại thần học và bác ái được phát triển, và có nhiều hình thức cộng tác với nhau”. Sau cùng, Đức Thánh cha mời gọi các tín hữu tín thác, cầu xin Chúa Thánh Thần hướng dẫn những nỗ lực đại kết của Giáo hội; xin cho mỗi người tái cảm nghiệm lời mời gọi làm việc cho chính nghĩa đại kết, xin Chúa Thánh Linh soi sáng những cử chỉ ngôn sứ mới mẻ và củng cố tình bác ái huynh đệ giữa mọi môn đệ Chúa Kitô “để thế gian tin” (Theo Thanh Quảng, SDB, Vietcatholic News)

Vị Chân Phước sắp được tuyên thánh Charles de Foucauld

(27/05/2020) – Vatican đã công bố hôm thứ Tư rằng Đức Thánh Cha Phanxicô đã đẩy mạnh án tuyên thánh cho 14 vị, trong đó có Chân Phước Charles de Foucauld, một nhà truyền giáo người Pháp bị giết ở Algeria năm 1916. De Foucauld, còn được gọi là Anh Charles của Chúa Giêsu, là một người lính, một nhà thám hiểm, một người Công Giáo trở lại đạo sau khi đã mất đức tin, một linh mục, một ẩn sĩ và là người tu sĩ khó nghèo phục vụ giữa những người Tuareg trong sa mạc Sahara ở Algeria. Ngài bị bởi một nhóm người hạ sát tại nơi ẩn tu của mình trong sa mạc Sahara vào ngày 1 tháng 12 năm 1916… De Foucauld đã nhận ra ơn gọi theo Chúa Giêsu trong cuộc đời mình tại Nazareth, trong một chuyến hành hương đến Thánh địa. Anh trở thành là một tu sĩ Dòng Trappe ở Pháp và Syria trong bảy năm. Dòng Trappe là nói theo tiếng Pháp, tiếng Việt thường gọi là Dòng Xitô Nhặt Phép… De Foucauld là nguồn cảm hứng cho việc thành lập một số hiệp hội giáo dân, cộng đồng tôn giáo và các tu hội bao gồm cả các linh mục và giáo dân, được gọi chung là Gia đình thiêng liêng của Charles de Foucauld. Trong lễ tuyên Chân Phước cho ngài vào năm 2005, Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI nói: “Trong tư cách là một linh mục, Charles de Foucauld, đã đặt Bí tích Thánh Thể và Tin Mừng làm trung tâm của đời mình.”… (Trích lược theo Đặng Tự Do, Vietcatholic News)  

ĐGH Phanxicô: Dạy con trẻ làm dấu thánh giá – hạt giống đối thoại với Thiên Chúa

(28/05/2020) – Trong bài giáo lý của mình, ngài đã suy niệm về những gì Kinh Thánh đề cập đến lời cầu nguyện của những người đơn sơ. Đức Thánh Cha Phanxicô: “Cầu nguyện gieo mầm sự sống – cầu nguyện mộc mạc chân thành. Đó là lý do tại sao việc dạy trẻ cầu nguyện là rất quan trọng.” Đức Thánh Cha Phanxicô nói lời cầu nguyện đầu tiên để dạy con trẻ là dấu thánh giá. Ngài đề nghị giúp trẻ học cách làm đấu một cách chính xác. Đức Thánh Cha Phanxicô: “Thật đau lòng khi tôi nhìn thấy con trẻ và nói: ‘Hãy làm dấu thánh giá’ và chúng làm. Chúng không biết làm thế nào cho đúng. Hãy dạy chúng làm dấu thánh giá. Đó là lời cầu nguyện đầu tiên. Con trẻ phải học cách cầu nguyện. Có thể chúng sẽ quên hoặc chọn một con đường khác, nhưng lời cầu nguyện đó sẽ mãi còn trong tâm hồn chúng, bởi vì đó là hạt mầm của sự sống, hạt giống của cuộc đối thoại với Thiên Chúa.”… (Trích lược theo Jos Tú Nạc, NMS, thanhlinh.net)  

Thánh Thần Tình Yêu

Lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống còn gọi là lễ Ngũ tuần (Pentecost). Lý do: sau khi Chúa Giêsu về trời, các môn đệ họp nhau mừng lễ Ngũ tuần của người Do thái. Chính trong ngày đó, Chúa Thánh Thần đã ngự xuống trên các ông. Hai sự kiện này mang cùng một ý nghĩa. Trong Do thái giáo, lễ Ngũ tuần được cử hành sau lễ Vượt qua 50 ngày. Lễ này kỷ niệm ngày Chúa thành lập Dân Do thái. Trước kia, họ là những bộ lạc và những sắc dân sống riêng lẻ dưới ách nô lệ Ai cập. Họ được Chúa cứu thoát. Dưới chân núi Sinai, Chúa ban cho họ Lề Luật, tức là Mười Điều Răn và đã chính thức nhìn nhận họ là một dân tộc, là Dân riêng của Ngài. Ngày Chúa Thánh Thần hiện xuống cũng có thể coi là ngày Dân riêng mới của Chúa, tức là  Hội Thánh, được chào đời. Hội Thánh đã được Chúa Kitô thai nghén và thông ban sức sống bằng Máu từ trái tim của Ngài (Gioan 19: 34). Hôm nay, Thần Khí của Thiên Chúa đổ xuống như những ngọn lửa, thanh luyện và đốt nóng trái tim họ. Họ mở bung các cửa ra dưới sức mạnh như gió bảo của Chúa Thánh Thần và bắt đầu say sưa loan báo Tin Mừng Chúa Kitô cho mọi người. Hôm ấy có rất nhiều khách hành hương đến Giêrusalem để mừng lễ. Họ thuộc nhiều chủng tộc và tiếng nói khác nhau. Điều rất lạ là mọi người đều nghe và hiểu được Tin Mừng bằng chính ngôn ngữ của họ. Họ đã tin và chịu phép Rửa. Trước kia là những người xa lạ, nay được Chúa Thánh Thần liên kết, họ hiệp nhất trong cùng một đức tin và một tình yêu. Phép lạ của ngày Chúa Thánh Thần hiện xuống đảo ngược một biến cố đã xãy ra trong thời Cựu Ước: việc xây tháp Babel (xem Stk c.11). Loài người muốn họp nhau xây một ngôi tháp cao tận trời, để bất cứ lúc nào họ muốn, họ cũng có thể giao tiếp với Thiên Chúa. Đang khi xây, Chúa làm cho ngôn ngữ họ trở nên bất đồng (babel có nghĩa là lộn xộn). Do đó, họ không còn hiểu nhau, khiến ngôi tháp bị bỏ dở. Thiên Chúa không phải là Đấng con người có thể yêu sách hoặc mua chuộc để Ngài làm theo những gì họ muốn. Tháp Babel là dấu chỉ của việc thiếu đối thoại, hiểu lầm, bất hòa và chia rẽ. Lễ Hiện Xuống là phép lạ của sự cảm thông, đón nhận, yêu thương và hiệp nhất. Là Dân Chúa chọn, chúng ta hãy xin Chúa Thánh Thần tiếp tục thanh luyện, đổi mới và đốt nóng lòng chúng ta bằng ngọn lửa tình yêu của Ngài.   -Lm. F.X. Bùi Ngọc Tỷ

Thánh Justinô Tử Ðạo – Kính ngày 1 tháng 6

Justinô sinh ra trong một gia đình Hy Lạp tại Naplousse, trong xứ Syria Palestina. Mặc dù sống trong bầu khí ngoại giáo, ngài vẫn khao khát được tìm biết Thiên Chúa chân thật. Ước vọng đó kèm theo một óc suy luận và tra cứu đã khiến ngài hiểu tất cả các triết đương thời như pháo Khắc Kỷ, Pythagore, Platon…, nhưng tất cả đều không làm ngài thỏa mãn. Một lần kia, tình cờ ngài gặp một ông lão lạ mặt. Qua cuộc đàm thoại, ông lão chỉ vẽ cho ngài con đường ngay thật để tìm đến Thiên Chúa: đó là học hỏi qua Thánh Kinh. Nghiền ngẫm lời cụ già, ngài bắt đầu mở Thánh Kinh. Nhờ ơn Chúa soi sáng, ngài đã cảm phục và say mê các giá trị luân lý của đời sống Kitô Giáo. Cuối cùng, ngài đã được Rửa Tội để lãnh nhận một đức tin như những người Công Giáo khác. Tự thâm tâm, ngài nhận thấy mình có bổn phận phải rao truyền lời Chúa. Những kiến thức uyên thâm của ngài đã làm cho những người đối thoại phải đuối lý. Nổi danh nhất là cuộc đối chất với Tryphon, một học giả Do Thái. Ngài đã trưng ra tất cả bằng chứng thánh kinh để minh xác Chúa Giêsu là Ðấng Cứu Thế. Nhờ những buổi diễn thuyết, những cuộc đối thoại của ngài, rất nhiều người đã trở lại đạo Công Giáo. Năm 138, vua Antonin Pieux đã mở màn một cuộc bách hại tàn khốc. Thánh Justinô đã mạnh dạn đứng ra bệnh vực giáo hữu. Ngài dùng ba tấc lưỡi cố gắng đòi cho được quyền tự do tín ngưỡng. Tiến đến triều đại Marc Autèle, cuộc bách hại càng gắt gao hơn. Với ý chí sắt đá, ngài đã quyết bảo vệ chân lý. Sau cùng, vì những thất bại chua cay, lương dân đã nộp ngài cùng một số bạn hữu và tống giam vào ngục. Khuyên nhủ ngài không được, năm 165, họ đã kết án tử hình ngài. Năm 1882, Ðức Giáo Hoàng Lêô XIII đã phổ biến lễ kính ngài trên toàn Giáo Hội, đặt ngài làm quan thầy các tâm hồn ngay chính.