33 Năm Sau

Với tựa đề “33 năm sau”, đó là một câu chuyện thuật lại như sau: “Những gì đã xảy ra cho đứa bé năm nào?”. Một trong ba vua đã đi triều bái vua Do Thái mới sinh tự hỏi. Suốt cuộc đời mình, nhà vua không thể nào quên được cuộc hành trình cách đây khoảng 33 năm, một cuộc hành trình dõi theo ánh sáng sao lạ dẫn ông đến hang đá Bêlem. Câu hỏi: “Liệu đứa bé ấy có trị vì dân Israel được không?”. Làm cho nhà vua bồn chồn đứng ngồi không yên. Rồi chẳng dừng được, một lần nữa nhà Vua quyết định lên đường đi đến Palestine. Tại Giêrusalem, những bậc bô lão còn nhớ đến những vì sao lạ, nhưng không ai biết gì đến đứa bé được sinh ra dưới điềm lạ ấy. Còn tại Bêlem mọi người được hỏi đều lắc đầu, ngoại trừ một cụ già cho nhà Vua biết: Làm gì có ông Giêsu Bêlem, chỉ có ông Giêsu Nagiarét, một người nói phạm thượng tự xưng mình là Con Thiên Chúa, nên cách đây mấy tuần đã bị xử “tử hình thập giá”. Thất vọng ê trề, nhà Vua thẫn thờ nhập vào đoàn những người hành hương trở lại Giêrusalem, vào đúng ngày Lễ Ngũ Tuần. Chen lấn vào đoàn lũ đang mừng lễ Tạ Ơn Sau Mùa Gặt, nhà Vua chú ý đến một đám đông đang bu quanh một nhóm người. Tò mò ông lấn qua đám đông để đến gần và nghe có kẻ nói:  “Tưởng gì chứ lại gặp mấy tên say rượu nói tầm xàm”. Nhưng tai nhà Vua lại nghe một người trong nhóm nói tiếng nước mình và rõ ràng ông ta nói về ông Giêsu Nagiarét, người đã bị đóng đinh, nhưng đã được Thiên Chúa cho sống lại từ cõi chết. Như bị một sức mạnh vô hình thúc đẩy, nhà Vua chen vào đám đông cất tiếng hỏi: “Vậy bây giờ ông Giêsu đó ở đâu?”. Ðại diện nhóm người đứng ở giữa đám đông là Simon Phêrô trả lời: “Ngài đang ở giữa chúng tôi. Ngài đang ở trong chúng tôi. Chúng tôi là môi miệng, là tai mắt, là đôi tay, là đôi chân của Ngài”. Trong lúc Phêrô đang nói, bỗng có một luồng gió thổi mạnh và hình lưỡi lửa một lần nữa thổi tràn xuống mọi người. Nhà Vua bỗng lại thấy ánh sao Bêlem, nhưng lần này ánh sao ấy chia ra nhiều ánh sao khác rơi xuống mọi người. Trong tâm hồn, nhà Vua chợt hiểu: Mỗi người phải trở nên máng cỏ nơi Ðức Giêsu sinh ra và mỗi người phải mang Ngài đến cho mọi người xung quanh. Câu chuyện trên nối liền ý nghĩa của Lễ Giáng Sinh, mừng biến cố Ngôi Lời nhập thể với Lễ Tưởng Niệm Biến Cố Chúa Thánh Thần Hiện Xuống. Ðồng thời câu chuyện cũng nêu nổi bật bổn phận của mọi người Kitô, là những kẻ phải trở nên tai mắt, trở nên môi miệng và chân tay của Ðức Kitô để mang Tin Mừng của Ngài đến cho mọi người chúng ta gặp gỡ và cộng tác hằng ngày. (Lẽ Sống)

Học Hỏi về Thánh Lễ

Hỏi: Nghi thức bẻ bánh có ý nghĩa gì? Đáp: Nghi thức bẻ bánh lập lại cử chỉ của Chúa Kitô trong bữa Tiệc Ly: “Người cầm lấy bánh, bẻ ra và trao cho các môn đệ”. Vào thời các Tông đồ, thánh lễ được gọi là việc “bẻ bánh”. Thánh Phaolô giải thích: “Tấm bánh mà chúng ta bẻ ra chẳng phải là thông phần vào Mình Chúa đó sao ? Vì có một tấm bánh, nên chúng ta tuy nhiều người, chúng ta cũng chỉ là một thân thể, vì hết thảy chúng ta thông phần vào một tấm bánh”. Cử chỉ bẻ bánh thể hiện rõ ràng giá trị và tầm quan trọng của dấu hiệu hiệp nhất của mọi người trong cùng một tấm bánh, và của dấu hiệu yêu thương trong việc mọi người cùng chia với nhau tấm bánh duy nhất. Trước đó, kinh Tạ Ơn đã nhấn mạnh điều này khi bày tỏ lời nguyện sau: “Chúng con cúi xin Cha cho Thánh Thần liên kết chúng con nên một khi chúng con dự tiệc Mình và Máu Đức Kitô” (kinh Tạ Ơn II). Chúng ta không thể tăng triển trong sự hiệp nhất với Chúa Kitô nếu chúng ta không cùng một lúc tăng triển trong sự hiệp nhất huynh đệ. Ngày xưa, nghi thức bẻ bánh chiếm nhiều thời gian vì phải chia sẻ bánh thánh cho tất cả cộng đoàn. Ngày nay, vì những lý do mục vụ (số người rước lễ đông chẳng hạn), người ta thường sử dụng những bánh lễ nhỏ cho giáo dân và một bánh lễ lớn cho linh mục. Ngài chỉ bẻ bánh lớn này mà thôi. Do đó nghi thức bẻ bánh có thể khó nhận ra được, nhưng vẫn luôn giữ được ý nghĩa sâu sắc của nó. Hỏi: Phải chăng chúc bình an, một hành vi xã giao mà thôi? Đáp: Khi vị chủ tế chúc: “Bình an của Chúa hằng ở cùng anh chị em”, cộng đoàn thưa: “Và ở cùng cha”.  Và chủ tế nói thêm: “Anh chị em hãy chúc bình an cho nhau”. Bạn đừng nghĩ rằng việc chúc bình an ở đây cũng giống như việc thân hữu ngoài đời trao tặng cho nhau. Không, đây là một sự hòa giải. Thật vậy, trong Bài giảng trên núi, Chúa Giêsu nói rõ rằng trước khi thực hiện mọi hành vi phụng tự, cần phải làm hòa với anh chị em mình trước đã: “Nếu ngươi đang dâng của lể nơi bàn thờ mà sực nhớ người anh em đang có điều bất bình với ngươi, thì ngươi hãy để của lễ lại trước bàn thờ, đi làm hòa với người anh em ngươi trước đã, rồi hãy trở lại dâng của lễ ” (Mt 5, 23-24).Do đó, trong phụng vụ Đông Phương, nghi thức chúc bình an vẫn còn được đặt trước kinh Tạ Ơn, cũng như tại Tây Phương trong thời gian đầu. Việc thực hành nghi thức chúc bình an đã biến mất từ nhiều thế kỷ nay. Sau Công Đồng Vaticanô II, nghi thức này lại được lồng vào trong thánh lễ. Một số người không thích cho lắm, vì họ nghĩ rằng: ngoài các cử chỉ, di động phiền toái, lại còn thiếu sự thân mật giữa các tín hữu đang tham dự thánh lễ. Thật ra, nghi thức chúc bình an trước tiên có một ý nghĩa thiêng liêng. Thánh lễ là nơi mà tất cả tín hữu khám phá và nhận ra mình là con cái của cùng một Cha, do đó tất cả là anh chị em với nhau. Nói lên điều đó không thôi thì chưa đủ, cần phải được thể hiện cụ thể. Cử chỉ chúc và trao bình an là một trong những dấu hiệu đẹp nhất, qua đó chúng ta biểu lộ rằng chúng ta là con cùng một Cha. Nhưng đôi khi việc chúc bình an đòi hỏi một sự cố gắng lớn, bởi vì cử chỉ này đòi hỏi mỗi người ra khỏi cái tôi chật hẹp của mình và coi người khác như là người mà ta phải tôn trọng và yêu thương. Trong một vài trường hợp, để chúc bình an một cách thật lòng, chúng ta cần phải tha thứ trong lòng trước đã, người mà chúng ta sắp đưa tay chúc bình an. Việc này không dễ dàng gì ! Việc chúc bình an được đặt trước phần rước lễ. Điều đó bình thường thôi, bởi vì làm sao chúng ta có thể đến gần Chúa Kitô và nói rằng chúng ta yêu mến Người, trong khi chúng ta từ chối hướng mặt về người anh chị em đang ở bên cạnh chúng ta ? “Kẻ nào không yêu mến anh chị em mà mình xem thấy, thì không thể yêu mến Thiên Chúa mà mình không xem thấy được” (1 Gioan ). Như thế, chia sẻ với người bên cạnh một nắm tay, hôn bình an hoặc cúi đầu chúc bình an (tùy theo phong tục của mỗi dân tộc) không phải là cử chỉ xã giao, lịch sự, mà là dấu chỉ hiệp thông trong sự bình an và tình yêu thương nhau. Và sự bình an này do Chúa Kitô ban tặng (“Bình an của Chúa hằng ở cùng anh chị em”). Thật vậy, Chúa Kitô đã phán: “Thầy để lại bình an cho các con, Thầy ban bình an của Thầy cho các con. Thầy ban cho các con không như thế gian ban tặng” (Gioan 14, 27). Do đó, sự bình an này rộng lớn hơn những gì con tim chúng ta có thể chứa đựng được, cũng như rộng lớn hơn những gì bàn tay chúng ta có thể truyền đạt được.   (Theo vinhsonliem.org)

LỊch Phụng Vụ Trong Tuần (09/01/2018 – 15/01/2018)

08/01: Thứ Hai Tuần I Thường Niên.                   CHÚA GIÊSU CHỊU PHÉP RỬA, lễ kính. Is 42,1-4.6-7 (hoặc Is 55, 1-11); Cv 10,34-38 (hoặc 1Ga 5, 1-9); Mc 1,7-11. 09/01:   Thứ Ba Tuần I Thường Niên. 1Sm 1,9-20; Mc 1,21-28. 10/01:   Thứ Tư Tuần I Thường Niên. 1Sm 3,1-10; Mc 1,29-39. 11/01:   Thứ Năm Tuần I Thường Niên. 1Sm 4, 1-11; Mc 1,40-45. 12/01:  Thứ Sáu Tuần I Thường Niên. 1Sm 8,4-7.10-22a; Mc 2,1-12. 13/01:  Thứ Bảy Tuần I Thường Niên. Thánh Hi-la-ri-ô, Giám mục, Tiến sĩ Hội Thánh. 1Sm 9,1-4.17-19; 10,1a; Mc 2,13-17. 14/01: CHÚA NHẬT II THƯỜNG NIÊN. 1Sm 3,3b-10.19; 1Cr 6,13c-15a.17-20; Ga 1,35-42.

Lễ Giáng sinh tại Bêlem: “Niềm vui của Chúa là sức mạnh của chúng ta” 

(27/12/2017)- Lễ Giáng sinh năm nay là một lễ Giáng sinh đặc biệt đối với các Kitô hữu ở Thánh Địa, sau khi Tổng thống Trump tuyên bố công nhận Jerusalem là thủ đô của Israel. Liên tiếp đã có những cuộc biểu tình phản đối trong khu vực; và ngày 21-12 Đại hội đồng Liên hiệp quốc đã thông qua một nghị quyết kêu gọi Mỹ rút lại tuyên bố trên. Trong bối cảnh này, qua bài giảng Thánh lễ đêm Giáng sinh cử hành tại Vương cung thánh đường Giáng sinh ở Bêlem, Đức Tổng Giám mục Pierbattista Pizzaballa, Giám quản tông toà Toà Thượng phụ Latinh Jerusalem, khích lệ các tín hữu hãy can đảm: “Chúng ta có thể tiếp tục sống và ở lại đây, trong yếu đuối và nghèo khó, bởi vì đây là con đường của Chúa khi Ngài muốn đi vào thế giới và chúc phúc cho nhân loại. Chúng ta đừng buồn, vì niềm vui của Chúa là sức mạnh của chúng ta!” “Bêlem, Thánh Địa và các Giáo hội đang sống, cầu nguyện và chịu đau khổ ở đây, phải là và có thể là một lời nhắc nhở sống động cho toàn Giáo hội và cho thế giới về mầu nhiệm hạt lúa mì chết đi để sinh nhiều hạt khác. Sự hiện diện của Giáo hội, chứng từ của các Kitô hữu khắp nơi trên thế giới, nhưng trên hết là ở đây, phải là sự hiện diện “Giáng sinh” (và “Phục sinh”): cuộc sống và hành động của chúng ta phải phù hợp với cuộc sống và hành động của Chúa Kitô, Đấng được sinh ra nhỏ bé và nghèo nàn để trở nên bánh và sự sống cho con người”. Đức Tổng Giám mục Pizzaballa cũng kêu gọi các nhà lãnh đạo trên thế giới: “Quý vị cũng hãy can đảm lên; ước chi quý vị dám mạo hiểm xây dựng hòa bình và tình huynh đệ, bằng cách từ bỏ tìm kiếm vinh quang và quyền lực, bằng cách cúi xuống phục vụ hạnh phúc của con người”, bởi vì: “Cánh cửa thấp dẫn vào Vương cung thánh đường Chúa giáng sinh cũng là lối vào sự vĩ đại thật sự. Và lát nữa đây, khi chúng ta đứng vòng quanh để chạm vào và hôn kính Hài nhi Bêlem, chúng ta hãy đặt trái tim và cuộc sống của chúng ta vào cử chỉ đó, bằng cách đón nhận đường lối nhỏ bé và khiêm hạ của Giáng sinh, là phương thế duy nhất để được cứu độ và bình an”. Trong số những người tham dự Thánh lễ đêm Giáng sinh tại Bêlem, đặc biệt có Tổng thống Palestine Mahmoud Abbas. ■  (Theo Minh Đức, hdgmvietnam.org)

Thái tử Charles: Tôi nghẹn lời trước tình cảnh bị bách hại của các tín hữu Kitô

(27/12/2017)- Trong bài phát biểu với các thành viên của cộng đoàn Công Giáo Melkite nghi lễ Đông phương hôm 19 tháng 12, Thái tử Charles nói ông cảm thấy “bàng hoàng đến nghẹn lời” trước những cuộc bách hại mà họ đã phải chịu đựng ở Syria. Ông nói: “Là một người trong suốt cuộc đời, đã cố gắng, trong bất kỳ mọi cách dù nhỏ đến đâu đi nữa, nếu có thể tôi luôn thúc đẩy sự hiểu biết giữa những người có niềm tin, và xây dựng các cây cầu giữa các tôn giáo lớn trên thế giới, tôi thật đau lòng không nói lên lời trước bao nhiêu nỗi đau và nỗi buồn những Kitô hữu đang phải chịu đựng, ngày hôm nay cũng như thời gian qua, chỉ vì đức tin của họ.” “Trong tư cách là các Kitô hữu, tất nhiên, chúng ta nhớ lời Chúa đã kêu gọi chúng ta hãy yêu thương kẻ thù của chúng ta và cầu nguyện cho những kẻ bách hại mình. Nhưng trước những người phải đối mặt với hận thù và áp bức như vậy, tôi hình dung ra thật là cực kỳ khó khăn để noi theo gương Chúa Kitô”… ■ (Trích lược theo Đặng Tự Do, Vietcatholic News)

Đức Phaolô VI có thể được tuyên thánh vào năm 2018

(27/12/2017)- Theo báo chí địa phương, Đức Phaolô VI có thể được tuyên thánh vào năm 2018, có lẽ trong thời gian trong lúc diễn ra Thượng Hội đồng Giám mục, một tổ chức mà ngài tái lập sau Công đồng Vatican II, vì rằng Thượng hội đồng Giám mục sẽ họp tại Vatican vào ngày 3 đến 28 tháng Mười để thảo luận về những người trẻ tuổi và giúp họ nhận ra ơn gọi của mình. La Voce del Popolo, tờ báo thuộc giáo phận Brescia, Ý, tường trình rằng ủy ban y tế và ủy ban thần học của Bộ Phong thánh Vatican cho thấy họ đã có những ý kiến ​​tích cực về việc chữa lành có thể là phép lạ cần thiết cho việc phong thánh cho Đức Giáo Hoàng. Các Hồng Y và các Giám mục là thành viên của giáo đoàn vẫn cần phải bỏ phiếu công nhận phép lạ, và còn phải được Đức Thánh Cha Phanxicô công nhận trước khi tổ chức lễ nhậm chính thức phê chuẩn việc phong thánh. Ủy ban thần học đã họp và bầu chọn để công nhận lời cầu bầu của Đức Phaolô trong việc chữa lành một đứa trẻ chưa sinh và giúp thai nhi ra đời đúng kỳ hạn, tờ báo cho biết. Mẹ của cháu bé, người được cho biết là bà có nguy cơ bị sảy thai rất cao, đã cầu nguyện Đức Phaolô VI một vài ngày sau khi Đức Thánh Cha Phanxicô phong chân phước vào năm 2014. Cô bé người Ý sinh ra đã khỏe mạnh và vẫn khỏe mạnh cho đến nay, La Voce del Popolo nói. Chân Phước Phaolô VI đã kế vị với tư cách là Giáo Hoàng năm 1963, chủ tọa ba kỳ họp cuối cùng của Hội đồng và bắt đầu tiến trình thực hiện các quyết định của mình. Ngài qua đời vào năm 1978 ở tuổi 80. ■ (Theo Jos. Tú Nạc, Nguyễn Minh Sơn, thanhlinh.net) 

Tại sao linh mục phải mặc áo dài trắng, áo lễ và đeo dây các phép

Hỏi: Tại sao linh mục phải mặc áo dài trắng, áo lễ và đeo dây các phép? Đáp: Áo dài trắng (cũng gọi là áo Alba) là loại áo chùng dài màu trắng với hai ống tay rộng, được mặc bên trong. Dây các phép (cũng gọi là dây Stola) là một dải vải dài, thường cùng màu với áo lễ. Giám mục và linh mục mang dây các phép chung quanh cổ và rủ xuống phía trước, còn thày phó tế thì đeo chéo vai. Cách đeo dây các phép cho phép ta dễ nhận ra phẩm trật của các chức thánh (giám mục, linh mục, phó tế). Áo lễ, rất rộng phủ ngoài áo dài trắng. Màu áo thì tùy theo mùa phụng vụ hoặc theo ngày lễ: đỏ, xanh, tím, trắng (hoặc vàng). Phó tế chỉ mặc áo trắng và dây các phép (chéo vai). Trong Hội Thánh là Nhiệm Thể Chúa Kitô, các chi thể không thi hành cùng một chức vụ như nhau. Khi thi hành việc phụng tự, sự khác biệt về chức vụ được biểu lộ ra bề ngoài nhờ sự khác biệt về phẩm phục. Do đó phẩm phục là dấu chỉ của mọi thừa tác viên. Hơn nữa, phẩm phục thánh làm tăng vẻ trang trọng của chính nghi lễ phụng vụ. Linh mục phải mặc áo dài trắng, áo lễ và đeo dây các phép trong thánh lễ, chính chỉ vì muốn cho mọi người biết rằng linh mục nói và hành động không phải với danh nghĩa cá nhân của mình, nhưng là nhân danh Đức Giêsu Kitô. (theo vinhsonliem.org)

Phép Lạ Giáng Sinh

Ngày xưa có một ông vua, tuổi đã quá ngũ tuần mà vẫn chưa xem được một quyển sách nào. Bộ sách mà ông thèm khát được đọc nhất là bộ “Lịch sử loài người”. Nhưng khốn nỗi, cuộc đời của ông, từ mái đầu xanh cho đến tóc điểm bạc, không lúc nào được rảnh rang. Ðời ông luôn luôn sống trên lưng ngựa, nằm sương, gối tuyết trên bãi chiến trường. Nay chinh phục nước này, mai ngăn chặn nước kia xâm lăng. Mắt ông chỉ thấy có gươm giáo và máu lửa. Ông rất ân hận vì chưa đọc được một trang sách của thánh hiền… Nay nước nhà đã hòa bình, ông muốn dành thời giờ còn lại để đọc cho kỳ được bộ lịch sử loài người, để xem con người xưa nay sống để làm gì? Nhưng tuổi ông đã cao, mà bộ sách lại quá dày. Biết sức mình không thể đọc hết bộ sách, cho nên nhà vua mới ra lệnh cho viên sử thần làm hộ cho mình công việc ấy. Với sự giúp đỡ của một ban gồm 50 người, viên sử thần mới bắt tay ngày đêm miệt mài đọc sách. Sau 10 năm cắm cúi đọc sách, viên sử thần đã có thể tóm tắt bộ lịch sử loài người thành 10 quyển sách, và cho mang vào trình lên nhà vua. Nhưng vừa nhìn thấy 10 quyển sách và đo lường tuổi tác của mình, nhà vua lại cảm thấy không đủ sức để đọc hết bộ sách đã được rút ngắn. Nhà vua mới đề nghị cho ủy ban làm việc thêm một thời gian nữa. Sau 5 năm làm việc thêm, ủy ban đã có thể tóm lược lịch sử loài người thành 5 quyển. Nhưng khi ủy ban mang 5 quyển sách vào ra mắt nhà vua, thì cũng chính là lúc nhà vua đang hấp hối trên giường bệnh. Biết mình không thể đọc được dù một trang, nhà vua mới thều thào nói với viên trưởng ban tu sử hãy tóm tắt bộ lịch sử loài người thành một câu mà thôi. Vị trưởng ban tu sử mới tâu với nhà vua như sau: “Hạ thần xin vâng mạng. Lịch sử loài người từ khai thiên lập địa đến giờ là: loài người sinh ra để khổ rồi chết”. Nhà vua gật đầu. Ðôi môi khô héo của nhà vua bỗng nở nụ cười mãn nguyện… rồi tắt thở. Và giữa lúc ấy, vị trưởng ban tu sử cũng nấc lên mấy tiếng rồi trút hơi thở cuối cùng. Hôm nay là ngày cuối năm. Nhìn lại một năm qua với không biết bao đói khổ, chiến tranh, chết chóc cho nhân loại cũng như cho chính bản thân, có lẽ cũng có nhiều người đi đến kết luận bi quan như viên trưởng ban tu sử trong câu chuyện trên đây: “Loài người sinh ra để khổ rồi chết”. Ði qua một đoạn đường trong cuộc lữ hành trần gian, Giáo Hội muốn chúng ta mặc lấy thái độ hân hoan và lạc quan. Bài ca trên môi miệng của chúng ta trong ngày hôm nay không phải là bài ca bi ai, tả oán, mà phải là bài ca “Te Deum”, ngợi khen Chúa, cảm tạ Chúa. Ngợi khen Chúa, cảm tạ Chúa bởi vì vinh quang của Ngài là con người được sống. Ngài là Thiên Chúa của kẻ sống chứ không phải của người chết. Không chối bỏ thực tại của khổ đau, chết chóc, nhưng chúng ta luôn được mời gọi để không nhìn vào đó như tiếng nói cuối cùng, như ngõ cụt. Bởi vì vinh quang của Thiên Chúa là con người được sống, cho nên hướng đi của lịch sử loài người không phải là ngõ cụt của sự chết, mà là Sự Sống. Bên kia khổ đau, chết chóc, cuộc sống vẫn còn tiếp tục có ý nghĩa và đáng sống. Còn tâm tình nào xứng hợp trong ngày cuối năm cho bằng cảm tạ và phó thác. Cảm tạ và phó thác cho Chúa bởi vì Ngài vẫn luôn là Thiên Chúa của Tình Yêu, Thiên Chúa của Sự Sống. Cảm tạ và phó thác cho Chúa bởi vì Ngài là Ðường, là Sự Thật và là Lẽ Sống của chúng ta. Cảm tạ và phó thác cho Chúa vì cuộc sống này vẫn tiếp tục có ý nghĩa và đáng sống. (Theo Lẽ Sống)

ĐGH nói rằng Thánh Giuse là gương mẫu của người quên mình

(18/12/2017)- Trong bài giảng thánh lễ tại nhà nguyện Casa Santa Marta, ĐGH Phancicô nói rằng thánh Giuse “chấp nhận” làm cha nuôi của Chúa Giêsu, “một địa vị làm cha một người không phải con của ngài, nhưng là con của Thiên Chúa” Trong những nỗi khó khăn, lúng túng, đêm đen, chúng ta học được từ Thánh Giuse, một người đã biết cách “làm sao để đi trong đêm tối, để lắng nghe tiếng Chúa và để tiến bước trong âm thầm.” Thánh Giuse tin tưởng và vâng lời. ĐGH đã chia sẻ rằng Thánh Giuse đã cảm giác thế nào khi biết được Maria có thai sau khi từ nhà bà chị Elizabeth về. Chắc là ngài “nghi nghờ”, “buồn sầu” và “đau khổ” lắm với lời xầm xì của mọi người, “sự lắm chuyện của hàng xóm”. Thánh nhân “đã không hiểu” nhưng tin chắc rằng Maria là “một người phụ nữ nết na của Thiên Chúa”. Thế là Giuse đã quyết định “bỏ nàng một cách kín đáo” chứ không tố giác nàng. Đó là ý định của thánh nhân cho đến khi “có sự can thiệp của Thiên Chúa” qua một thiên thần trong giấc mơ với lời giải thích rằng con trẻ trong bào thai là do quyền năng Chúa Thánh Thần, và “thánh nhân đã tin và vâng lời” Thánh Giuse đã phải đấu tranh với chính mình khi nghe tiếng của Thiên Chúa. “hãy trỗi dậy” là tiếng đã được nghe nhiều lần trong Kinh Thánh từ khi bắt đầu một sứ mạng. Hãy nhận Maria và đón cô ấy về nhà mình. Hãy can đảm chấp nhận hoàn cảnh, sống với hoàn cảnh và tiến về phía trước. Thánh Giuse đã không đến nhà bạn để tìm lời an ủi, ngài cũng không đến chuyên gia tâm lý để xin giải thích về giấc mơ. Không… Thánh nhân đã tin và ngài đã tiến bước. Ngài chấp nhận hoàn cảnh. Nhưng Thánh Giuse đã chấp nhận hoàn cảnh gì? Thánh nhân đã chịu đựng cái gì vậy? Có hai điều: Làm người cha và sự nhiệm mầu. Chấp nhận làm “cha nuôi”.                 Trước hết là Thánh Giuse chấp nhận làm cha theo đúng như gia phả của Chúa Giêsu, trong gia phả ấy “Chúa Giêsu là con của thánh Giuse.” “Thánh nhân đã nhận làm cha nuôi với trọn ý nghĩa của một người cha chu toàn đầy đủ bổn phận: không những chỉ chăm lo cho Maria và con trẻ, mà còn nuôi nấng, dạy nghề và đưa giúp Con Thiên Chúa trở thành người tốt.” Chấp nhận làm cha một người không phải là con của mình, nhưng là của Thiên Chúa”. Thế thôi, không một lời, chúng ta không tìm thấy lời nào của Thánh Giuse trong Thánh Kinh. Một con người yên lặng, vâng lời trong yên lặng.” Nắm lấy sự mầu nhiệm để đưa người ta về với Chúa. “Thánh Giuse nắm trong tay mầu nhiệm này và hỗ trợ: với sự yên lặng, với công việc, cho đến cái giây phút mà Thiên Chúa gọi thánh nhân về. Đây là người đã nắm lấy vai trò là cha và sự mầu nhiệm, ngài mang hình bóng của người cha, bóng dáng của Cha Trên Trời, người mà Chúa Giêsu cất tiếng đầu đời gọi là “cha” để nhận biết Cha của Ngài là Thiên Chúa. Ngài đã học từ cuộc đời nhân chứng của thánh Giuse, một người đã chăm sóc cho Ngài, nuôi nấng Ngài, một người đã thực hiện tiến trình làm cha nuôi và mọi điều kỳ diệu, nhưng không dành cho mình thứ gì.” (Theo Nguyễn L.  Thao, Vietcatholic News)

Bộ Tuyên Thánh ban hành một Huấn thị mới về thánh tích

(18/12/2017)- Ngày thứ Bảy 16 tháng Mười Hai 2017, Bộ Tuyên Thánh đã ban hành một Huấn thị mới về thánh tích. Tài liệu mang tính kỹ thuật này gồm 12 trang và 38 điều, xác định rõ các thủ tục phải tuân theo về việc công bố tính xác thực và lưu giữ thánh tích. Với nhan đề “Thánh tích trong Giáo hội: Tính xác thực và Việc lưu giữ”, Huấn thị này thay thế những chỉ dẫn trong phần Phụ lục của Huấn thị Sanctorum Mater (2008), và chủ yếu gửi đến các giám mục của Giáo hội Công giáo Latinh và của các Giáo hội Công giáo Đông phương. Trước hết, Huấn thị nhắc lại rằng thánh tích phải “luôn được tôn kính và đặc biệt lưu tâm, bởi vì thân xác của các Chân phước và các Thánh, sẽ được phục sinh, đã là dụng cụ để các ngài sống đời thánh thiện trên trái đất này, được Toà thánh nhìn nhận qua việc tuyên Chân phước và tuyên Thánh”. Và Huấn thị khẳng định rằng “không được trưng bày thánh tích của các Thánh và các Chân phước cho các tín hữu tôn kính nếu không được thẩm quyền của Giáo hội chứng nhận tính xác thực của thánh tích ấy”. Sau đó, Huấn thị trình bày chi tiết các thủ tục phải tuân theo, ở cấp giáo phận và dành cho những người có thẩm quyền, liên quan đến việc công nhận thánh tích về mặt giáo luật, việc phân chia thánh tích, việc tạo ra các thánh tích, di chuyển, chuyển nhượng và hành hương. Huấn thị còn xác định: “Trước khi tiến hành bất kỳ hoạt động nào về thánh tích hoặc hài cốt, cần phải tuân giữ tất cả những gì được quy định trong luật dân sự địa phương, và phải có được sự đồng ý của người thừa kế, phù hợp với cùng luật ấy”, cũng như sự chấp thuận của Bộ Tuyên thánh. Huấn thị mới cảnh báo không được tôn kính hài cốt của các vị tôi tớ Chúa hay Đấng đáng kính, mà án tuyên phong Chân phước hay tuyên Thánh đang được tiến hành. “Cho đến khi các vị ấy được nâng lên hàng vinh quang trên bàn thờ, hài cốt của các ngài vẫn không thể được tôn kính cách công khai, hay được hưởng các đặc ân chỉ dành cho thân xác của những ai đã được tuyên phong là Chân phước hay là Thánh”. Huấn thị mới của Bộ Tuyên thánh còn đề cập đến giai đoạn kiểm tra thánh tích, trước khi nhắc lại việc cấm hoàn toàn và tuyệt đối mua bán thánh tích, cũng như việc trưng bày thánh tích tại những nơi thế tục hoặc không được phép. (Trích lược theo Minh Đức, hdgmvietnam.org)