Homo homini lupus est

Người đối với người như là sói. Đó là một thành ngữ bằng tiếng La tinh, nói lên một thực tế đáng buồn của nhân loại. Việt ngữ cũng có những câu như “cá lớn nuốt cá bé,” “mạnh được yếu thua,” “cạnh tranh sinh tồn.” Các chuyên gia sinh vật học nói đó là quy luật tự nhiên, “food chain”. Nhiều chuyên gia xã hội học nói nhân loại chia làm hai hạng người, kẻ áp bức và kẻ bị áp bức, sói và chiên. Trong bối cảnh đó, Lời Chúa trong Chúa Nhật thứ hai Mùa Vọng hôm nay vẽ ra một hình ảnh hoàn toàn trái ngược: “Bấy giờ sói sẽ ở với chiên, beo nằm bên dê nhỏ. Bò tơ và sư tử non được nuôi chung với nhau, một cậu bé sẽ chăn dắt chúng…” (Is 11:6) Chuyện không tưởng! Nhiều người sẽ nói như vậy. Trái với quy luật tự nhiên của sinh vật học! Quá ngây thơ xét theo quan điểm xã hội học! Nhưng phê phán như vậy, họ có thực sự hiểu điều ngôn sứ Isaia muốn nói không? Phải để ý đến chữ “bấy giờ.” Ngài muốn nói về điều sẽ xãy ra trong triều đại của Thiên Chúa, một triều đại mà “Thần khí Đức Chúa sẽ ngự trị.” Việc thứ hai phải để ý là ngôn ngữ tượng hình của thể văn. Isaia muốn nói về sự hòa hợp tuyệt vời, khiến những xung khắc tự nhiên giữa hai thái cực đối lập vẫn có thể hòa hợp với nhau trong triều đại của Thiên Chúa. Triều đại của Thiên Chúa khởi đầu với sự xuất hiện của Chúa Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống và là Đấng Cứu Thế sinh ra cho chúng ta. Ngài sẽ thiết lập Nước Thiên Chúa ở trần gian. Những ai tin theo Ngài sẽ được Thần khí Thiên Chúa biến đổi trở nên những con người mới, khiến bản tính tự nhiên được thăng hoa, và họ sẽ sống “không theo tính xác thịt, nhưng theo sự hướng dẫn của Thần khí.” Ơn thánh Chúa không xóa bỏ bản tính tự nhiên của con người, nhưng kiện toàn bản tính ấy. Sự biến đổi của mỗi cá nhân kéo theo sự biến đổi trong tương quan giữa người với người. Trong thâm tâm, không ai thích chiến tranh và hận thù. Sẽ hạnh phúc biết bao nếu vợ chồng con cái anh chị em sống hòa hợp với nhau. Hàng xóm láng giềng qua lại giúp đỡ nhau. Thế giới tìm cách giải quyết mọi khác biệt trong hòa bình và công chính. Điều kiện tiên quyết là chúng ta phải sám hối. “Anh em hãy sám hối, vì Nước Trời đã đến gần.” Hãy nhận biết sự sai lỗi của mình và hướng về Đấng đang đến. Ngài chính là vị Cứu Tinh của nhân loại. -Lm. FX. Bùi Ngọc Tỷ

Chúa Giêsu: Vị Vua Chân Thật

Cuộc tranh cử tổng thống Hoa Kỳ không chỉ gây sự chú ý quan tâm đến hàng triệu người dân trong nước mà còn cả thế giới. Một ngày sau khi có kết quả tranh cử, một cụ bà người Pháp độ ngoài sáu mươi đang uống cà-phê ở Lộ Đức hỏi tôi về tình hình kết quả. Biết được kết quả, bà cụ trợn mắt uống nốt ly cà-phê rồi lặng lẽ lấy dù ra đi. Hy vọng là cụ đi cầu nguyện với Đức Mẹ cho tương lai sau này. Tại sao thế giới lại quan tâm đến cuộc bầu cử tống thống Hoa Kỳ? Nói đến nước Mỹ, người ta thường nghĩ ngay đến đô-la, sự giàu có và sức mạnh. Bởi thế, ai là một tổng thống của một đệ nhất siêu cường quốc ít nhiều gì cũng sẽ gây ảnh hưởng đến kinh tế và chính trị của cộng đồng quốc tế. Trên thực tế, làm tổng thống Mỹ có sướng không? Tôi không biết sướng hay không, nhưng hầu như ông tổng thống nào bước vào nhà Trắng thì mái tóc đều đen và ra khỏi đó thì bạc trắng như nhau.  Đôi lúc làm tổng thống hay thủ tướng v.v. chưa chắc có những khoảnh khắc sung sướng trong đời như được ngồi ăn một tô bún mắm vỉa hè, húp hết nước lèo xồn xột mà không sợ bị ai dòm ngó. Ở bất cứ mọi cương vị lãnh đạo nào đi chăng nữa mà người lãnh đạo không có lòng nhiệt thành tâm huyết với trách nhiệm mà chỉ lo thủ lợi cho bản thân thì chính cái văn phòng của họ sẽ là một nhà tù vô hình tự tạo, chiếc ghế sẽ là gông cùm và đam mê ích kỷ sẽ mãi là nỗi ám ảnh kinh niên. Chúng ta nên nhìn lên hình ảnh Đức Kitô. Ngài là Vua không phải để cai trị mà là để hứng chịu những đau thương thiệt thòi. Ngài là Vua không đàn áp hay gây hoang mang lo sợ mà là đi gieo rắc bình an và vui mừng. Ngài là Vua không coi thường nhân phẩm kẻ khác mà là hy sinh chính con người mình cho kẻ khác. Để chuẩn bị bước vào năm phụng vụ mới và mùa Vọng vào tuấn tới, mỗi người chúng ta hãy mời Chúa Giêsu đến ngự vào lòng mình. Hãy để Chúa Giêsu làm trung tâm điểm của đời sống và hướng đi cuộc đời mình với trọn niềm tin sắc son như lời của bài thánh ca Tin Hay Không Tin: Dù đời bao tăm tối tôi cứ vững tin luôn. Tin rằng Ngài đã thương tôi, tin rằng Ngài chết cho tôi. Dù đời bao giông tố tôi quyết bước theo Ngài. Cho dù đời lắm chông gai, tôi vẫn là môn đệ Ngài.

Tôn Giáo và Bắt Đạo Không Thể Rời Nhau

Phúc Âm thánh Luca đã ghi lại lời tiên báo của Chúa Giêsu về sự sụp đổ của Giêrusalem cũng như những bắt bớ sau này. Lời tiên báo này không chỉ ứng nghiệm trong lịch sử mà còn tiếp tục kéo dài cho đến hôm nay với những cuộc bắt bớ đạo ở nhiều nơi trên thế giới. Do Thái là xứ sở cội nguồn của Kitô giáo, nhưng con số tín hữu lại là một trong những thiểu số gần như bị xóa xổ. Hiện tại ở Trung đông hay các quốc gia Hồi giáo, những người Kitô giáo phải thường xuyên đối diện với những bắt bớ và quấy nhiễu. Trên thẻ căn cước (ID) phải có sự xác nhận công dân thuộc tôn giáo nào. Một khi đã chấp nhận mình là Kitô hữu, điều đó cũng đồng nghĩa với sự chấp nhận những thiệt thòi, ngược đãi và bất công xã hội. Riêng ở Việt Nam, các ủy ban nhân dân hay đồn công an thường được đặt gần các nhà thờ Công giáo. Công an chìm vẫn giả dạng đi lễ. Có thể nói Công giáo vẫn luôn là kẻ thù số một với nhà cầm quyền.   Văn minh con người đã chân lên mặt trăng hơn mấy thập niên nay mà tại sao con người vẫn luôn sát hại nhau vì tôn giáo? Có lẽ những bắt bớ đạo cũng là những cuộc chiến giữa thiện và ác, sự thật và gian trá, ánh sáng và bóng tối. Lịch sử đã và đang cho thấy càng bắt bớ đạo khốc liệt bao nhiêu thì đức tin ngày càng thêm kiên định bấy nhiêu.   Một khi con người không còn sợ chết để bảo vệ niềm tin của họ thì chẳng có một thế lực hay vũ khí nào có thể hủy diệt được họ hay xóa xổ tôn giáo trên bản đồ. Nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam rất sợ điều này. Bởi thế, họ bắt đầu đổi chiến thuật lúc cứng lúc mềm khi đàn áp những cuộc biểu tình chống Formosa. Họ tăng cường mở ra những tụ điểm ăn chơi giải trí để rồi từ từ người dân không còn màng đến chính trị, tôn giáo hay đấu tranh cho nhân quyền. Bởi bản chất, con người đang ăn sung mặc sướng dại gì bỏ đi tìm họa cho bản thân. Trên thực tế, nơi nào dồi dào kinh tế thì lòng mộ đạo hay tinh thần đấu tranh nơi đó cũng bị mai một và biến chất. Chúa Nhật này, Cộng đồng Công giáo Việt Nam thuộc Tổng giáo phận Los Angeles sẽ mừng lễ 117 vị Thánh Tử Đạo Việt Nam. Các ngài là những tấm gương sáng và là những viên đá nền tảng cho giáo hội Việt Nam. Ngày xưa các ngài đã can đảm hy sinh gìn giữ và truyền bá đức tin cho hậu thế. Không biết hậu thế ngày nay có còn mặn mà với niềm tin mà họ đã đổi bằng máu? Nguyện xin các Thánh tử đạo Việt Nam cầu bầu cho chúng con được luôn trung thành sống trọn niềm tin. Amen.  

 Vẫn Là Một Trong Hai

Là những Kitô hữu, vì tin có sự thưởng phạt công minh ở đời sau nên ít nhiều chúng ta cố gắng sống tốt lành ở đời này. Giả sử không có sự sống đời sau thì cuộc sống của chúng ta lúc này như thế nào? Giúp đỡ những người nghèo khổ có lợi gì? Sống hy sinh hãm mình để làm chi? Dù sao đi chăng nữa thì chúng ta đã và đang là những người có niềm tin cho nên câu trả lời cũng có phần nào chủ quan. Để xác tín niềm tin của chúng ta về sự sống đời sau và hóa giải sự phủ nhận của nhóm người Sađốc, Chúa Giêsu đã trả lời: “Con cái đời này cưới vợ, lấy chồng, song những ai sẽ xét đáng được dự phần đời sau và được sống lại từ cõi chết, thì sẽ không cưới vợ lấy chồng. Họ sẽ không thể chết nữa: vì họ giống như thiên thần. Họ là con cái Thiên Chúa: vì họ là con cái của sự sống lại. Về vấn đề kẻ chết sống lại, thì Môsê đã cho biết điều ấy trong đoạn nói về Bụi gai, khi ông gọi Chúa là Thiên Chúa Abraham, Thiên Chúa Isaac, và Thiên Chúa Giacóp. Nhưng Thiên Chúa không phải là Thiên Chúa của kẻ chết, mà là của kẻ sống. Vì mọi người đều sống cho Chúa”. Những người Sađốc tin và không tin điều gì? Ngoài Ngũ Kinh (5 quyển Kinh Thánh đầu tiên của Cựu Ước), người Sađốc không chấp nhận một giáo lý nào khác. Họ phủ nhận sự phục sinh, sự sống đời sau, thiên thần hay thần linh. Họ thuộc thành phần khá giả và có ảnh hưởng chính trị trong xã hội. Rất có thể chính những yếu tố lợi lộc này, họ không muốn nhìn nhận có sự sống đời sau vì nếu có đời sau thì những lợi lộc đời này chỉ là thứ yếu. Một khi đã đặt nặng những thứ yếu thành mục tiêu hay lý tưởng, thì tâm hồn rất khó cho đi hay từ bỏ. Người khá giả có thế lực hôm nay cũng vậy, họ cố bám víu vào giàu sang phú quý và tiếng tăm quyền lực. Bên cạnh đó, nếu người Sađốc tin vào Ngũ Kinh thì họ cần phải biết Thiên Chúa của các Tổ phụ họ thờ là Thiên Chúa hằng sống, không thể đồng hóa với các thần linh khác. Chính vì thế, câu trả lời của Chúa không chỉ xác nhận có sự sống đời sau mà còn cho họ thấy sự mâu thuẫn trong cách lý luận của họ: tin vào Thiên Chúa của Abraham, Isaac và Giacóp mà lại phủ nhận sự sống lại và sự sống đời sau. Nếu Chúa của các Tổ phủ không phải hằng sống thì Chúa ấy cũng chỉ là một chúa do con người tự tạo mà thôi. Nói cho cùng, ít nhiều gì con người thường tìm nhiều lý do để chống chế cho sự ích kỷ của mình. Người xưa và nay chẳng khác gì nhau về bản chất, nhưng chỉ khác nhau ở thời gian va không gian. Chỉ có Lời Chúa không thay đổi. Bởi thế, cuối cùng vẫn là một trong hai – Thiên Chúa và thế gian, chúng ta chọn bên nào?

Gặp Gỡ Đức Kitô

Cuộc gặp gỡ giữa Chúa Giêsu và Giakêu là một trong những câu chuyện Phúc Âm mang sắc thái vui tươi và hài hòa khác với những cuộc gặp gỡ căng thẳng với các kinh sư hay biệt phái. Nếu chúng ta đọc kỹ bốn Phúc Âm, Chúa Giêsu thường dùng từ “khốn” với những thành phần được coi là ưu tú hay đạo đức trong xã hội. Riêng những thành phần ô uế và tội lỗi thì Ngài thường dùng những cụm từ rất nhẹ nhàng như: phúc cho, được tha, ơn cứu độ và đức tin cứu chữa con v.v. Hôm nay Chúa Giêsu sử dụng lại những cụm từ này khi gặp gỡ Giakêu: “Hôm nay nhà này được ơn cứu độ, bởi người này cũng là con cái Abraham. Vì chưng Con Người đến tìm kiếm và cứu chữa điều gì đã hư mất.” Khác với những cuộc gặp gỡ trước, lần này Chúa Giêsu đã gọi chính đích danh Giakêu (tiếng Do-Thái có nghĩa là “tinh tuyền” hay “trong trắng”). Thật sự Giakêu dưới con mắt thế gian là một con người tội lỗi, nhưng dưới đôi mắt của Chúa, ông ấy là một con người công minh chính trực.  Sự chính trực này được hiểu ngầm ở câu nói: “và nếu tôi có làm thiệt hại cho ai điều gì, tôi xin đền gấp bốn.” Quả thật, cuộc gặp gỡ Đức Kitô không chỉ biến đổi tâm hồn Giakêu mà còn biến đổi cả cách sống và lối suy nghĩ của ông ấy đối với những người chung quanh. Giakêu biết ý thức hơn về bổn phận và trách nhiệm đối với người nghèo và sự công bằng trước mặt Thiên Chúa: “Lạy Ngài, tôi xin bố thí nửa phần của cải tôi cho kẻ khó, và nếu tôi có làm thiệt hại cho ai điều gì, tôi xin đền gấp bốn.” Học từ kinh nghiệm của Giakêu, cuộc gặp gỡ thực sự với Đức Kitô phải luôn có một sức mạnh thần linh có khả năng cảm hóa và thay đổi lòng người. Nhiều người Công giáo vẫn nói mình được ơn biến đổi rồi ơn này ơn kia và được Chúa chữa nhiều lần v.v. nhưng cách cư xử với anh em và gia đình lại khác hẳn với những gì Chúa ban. Phải như Giakêu, gặp gỡ Đức Kitô đòi hỏi mỗi người chúng ta phải sống có trách nhiệm với những người nghèo bất hạnh chung quanh và công lý công bằng với mọi người trong xã hội. Là những nhân chứng cho Đức Kitô, đời sống chúng ta có thể hiện sự công bằng bác ái trong xã hội như Giakêu đã làm chưa?

Muốn Gần Ai?

Đối với thánh Augustinô, ba điều cực kỳ quan trọng mà ngài muốn học trò của ngài luôn ghi nhớ: (1) khiêm nhường, (2) khiêm nhường, và (3) khiêm nhường. Ngài lập lại đức khiêm nhường đến ba lần để nhấn mạnh một điều rằng con người thường dễ trở nên kiêu ngạo mỗi khi hơn người khác điều gì đó. Trong thực chất, những kẻ hay kiêu ngạo thường khó thấy cái ngu của họ. Ngược lại, những người khiêm nhường cho dù không thấy điểm yếu của chính họ đi chăng vẫn kín đáo không tỏ ra cho người khác thấy cái dốt của họ. Hơn nữa, thái độ của một người khiêm nhường vẫn luôn cởi mở đón nhận và lắng nghe khuyết điểm của mình. Có khiêm nhường thì việc gì cũng trở nên dễ dàng. Kiêu ngạo chỉ làm cho kẻ khác ghét và bực mình. Bởi thế, nét đẹp của mỗi Thánh lễ luôn bắt đầu bằng nghi thức sám hối ăn năn hạ mình trước Thiên Chúa và cộng đoàn: “Tôi thú nhận cùng Thiên Chúa toàn năng và cùng anh chị em. Tôi đã …” Hình ảnh người thu thuế tội lỗi đứng ở xa đấm ngực ăn năn thật ra chính là hình ảnh mà mỗi người chúng ta phải theo gương và áp dụng trong cuộc sống hằng ngày.  Tuy chưa phạm những tội trọng, điều đó không bao giờ cho phép chúng ta tự cho mình là tốt hơn những người đã lỡ phạm. Cuộc đời luôn đầy ắp những cạm bẫy, khôn ba năm dại một giờ là điều luôn có thể xảy ra với mỗi người chúng ta. Đừng bao giờ tự cho mình là hay, là giỏi, là chắc trước những vấp ngã của kẻ khác, nhưng trái lại, hãy luôn rút ra những bài học khiêm nhường cho bản thân từ những vấp ngã đó. Giữa một người dốt mà khiêm nhường và một người thông thái mà kiêu ngạo, thì bạn dễ có thiện cảm với ai? Cá nhân tôi chọn dốt mà khiêm nhường vì ít nhiều gì người khiêm nhường không làm mình cảm thấy ngượng ngạo mà lại dễ gần gũi. Đối với ma quỷ, thông minh kiêu ngạo là thuộc sở trường của chúng, nhưng nói đến khiêm nhường, chúng không cầm cự lâu vì bản chất của chúng ta vẫn là kiêu ngạo. Nói tóm lại, muốn gần Chúa là khiêm nhường. Muốn gần quỷ thì kiêu ngạo.

Liệu Còn Lòng Tin Trên Mặt Đất Chăng?

Trong vòng 20-30 năm tới, bạn nghĩ thế nào về đời sống đạo của bạn và của con cái bạn? Khoan nghĩ chi cho xa vời, ngày nay đa số chúng ta còn giữ đạo qua việc đi nhà thờ tuần một lần là đã hay lắm rồi huống chi là sống đạo. Tuy nhiên, vấn đề chính ở đây không chỉ ở giữ đạo mà còn là sống đạo. Giữ đạo được một phần là nhờ vào thói quen và truyền thống cha mẹ để lại, nhưng đến một hoàn cảnh nào đó như vào quân đội hay đi làm xa ở các quốc gia ít Công giáo v.v., thì thói quen và truyền thống đi nhà thờ cũng từ từ bị mai một và quên lãng. Lý do bỏ đạo một phần là do hoàn cảnh và môi trường không khuyến khích. Ngược lại, đối với người sống đạo thật sự, cho dù có bất cứ ở nơi đâu hay trong môi trường nào, lòng mộ đạo vẫn tiếp tục được trao dồi bằng mọi cách khác nhau như tìm hiểu sách báo văn hóa đạo trên mạng, nghe giảng, hay chuỗi mân côi hằng ngày. Ai sống đạo thật lòng chắc chắn sẽ giữ đạo tốt. Bởi thế, cái khó ngày nay chính là việc sống đạo hơn là giữ đạo. Nếu cha mẹ ngày nay không sống đạo thì thế hệ tương lai sẽ ra sao? Có lẽ đây cũng là mối ưu tư mà Chúa Giêsu đã thấy trước từ lâu: “Nhưng khi Con Người đến, liệu sẽ còn gặp được lòng tin trên mặt đất nữa chăng?” Một số cho rằng ở Việt Nam hay các nước nghèo sẽ giữ đạo tốt hơn. Thế thì tại sao Giáo Hội lại luôn có chủ trương xóa đói giảm nghèo ở các quốc gia đệ tam và toàn cầu nói chung? Đồng ý là môi trường xã hội có ảnh hưởng lên con người, điều đó không có nghĩa là con người đổ hết trách nhiệm đức tin của mình cho môi trường xã hội. Thật ra chính cái no phần xác thường dẫn đến cái nhút nhác phần hồn.  Thiếu linh hoạt trong những công việc bác ái, thiếu chiều sâu sống chiêm niệm và thiếu đạo đức bình dân (lần chuỗi, đọc sách báo thiêng liêng, cầu nguyện nhóm, chầu Thánh Thể, xưng tội v.v.) rất dễ khiến chúng ta trở nên biếng nhác. Kiên trì trong đức tin cũng đồng nghĩa với kiên trì cậy trông vào Thiên Chúa trong bất cứ mọi hoàn cảnh nào. Cuộc sống luôn có những gian truân thử thách khiến đức tin bị bầm giập và hoang mang, nhưng cứ tiếp tục kiên trì tin vào Ngài, sống yêu thương hài hòa với mọi người, và trau chuốt đạo đức bình dân, đặc biệt là bám lấy Đức Mẹ, thì mọi sự sẽ OKAY.

Hãy Cảm Tạ Thiên Chúa

Để cảm ơn Thiên Chúa, con người có muôn vàn lý do để cảm ơn Ngài từ hơi thở sự sống cho đến những gì đang diễn ra trong cuộc sống. Thế nhưng thực tế đã và đang cho thấy con người rất mau quên ơn và vô ơn. Khi túng thiếu khó khăn thì chạy đến nhà thờ xin khấn, một khi qua cơn hoạn nạn ăn chơi vui mừng là chính còn chuyện tạ ơn Chúa thì tính sau. Đa số các di dân từ các nước khác nhập cư vào Hoa Kỳ đều bị ảnh hưởng rất nhiều. Kinh tế của nhiều gia đình tăng lên thì thời gian sinh hoạt với nhà thờ họ đạo lại giảm xuống. Đi làm mệt mỏi về chỉ muốn ăn uống nhậu nhẹt hay đi coi show cho thoải mái trong khi đó nhà thờ thì yên vắng tẻ nhạt. Thật ra sau những buổi tiệc linh đình ồn ào, con người lại trở về với tĩnh lặng lẻ loi và khi đối diện với sự đơn côi một mình lúc đó con người mới nghiệm thấy tâm hồn luôn khao khát sự an ủi vỗ về của Thiên Chúa vì chỉ có Ngài mới đem lại cho tâm hồn sự bình an và hạnh phúc đích thực. Bởi thế, dù chúng ta sống trong bất cứ hoàn cảnh nào đi chăng nữa, tâm tình đầu tiên vẫn luôn là tạ ơn Thiên Chúa hơn là càm ràm than thân trách phận. Trong thực tế, có tạ ơn hay càm ràm thì sự việc vẫn như vậy, nhưng khác biệt là người sống biết ơn Thiên Chúa sẽ sống với một tinh thần tích cực hơn những người sống vô ơn vì họ luôn sống trong cảm nghiệm hồng ân. Ngược lại, những kẻ vô ơn thường khó hài lòng với những gì mình đang có, điều mà kẻ khác mong muốn lại không được, bởi thế kẻ vô ơn luôn đi tìm kiếm những gì không thể có. Biết ơn và cảm ơn là những chân lý sống rất căn bản. Rút ra từ kinh nghiệm người cùi được chữa lành trở về cảm ơn Chúa, trong tuần này chúng ta nên tập sống biết ơn qua những bữa ăn, không chỉ chúng ta làm dấu cảm ơn Chúa trước mỗi bữa cơm mà còn sau đó nữa. Cảm ơn Chúa vì Ngài đã ban cho sức khỏe và công ăn việc làm. Cảm ơn Ngài vì những đôi tay khéo nấu những món ăn ngon miệng. Điều quan trọng hơn hết chúng ta phải luôn cảm tạ Chúa là vì được làm con cái Ngài.

Chưa Đến 2% Thời Gian Dành Cho Chúa

Tiền bạc của cải vật chất luôn có một sức hấp dẫn vô hình thu hút tâm trí con người. Nhiều cụ lớn tuổi có vẻ không còn minh mẫn trên nhiều mặt, nhưng đụng đến tiền bạc thì các cụ tỏ ra như rất sáng suốt, luôn biết phân định rõ ràng tờ nào bao nhiêu v.v. Hầu như tất cả chúng ta ai cũng rất nhạy bén khi đụng đến tiền bạc. Từ māmōn gốc từ tiếng Aramaic có nghĩa là tiền bạc, giàu có, hay lợi lộc. Sau này các thánh Giáo phụ như Cyprian, Jerome và Gioan Chrysostom gắn liền từ ngữ này với sự tham lam. Trên thực tế, một khi đồng tiền bị mất giá như ở Venezuela, thì những tờ giấy bạc cũng chẳng khác gì những truyền đơn rao vặt. Tiền bạc trở nên thần thánh hóa là do con người tự tôn sùng nó và đặt niềm đam mê nó lên trên tất cả mọi sự. Từ đó, Thiên Chúa trở thành thứ yếu, thuộc hạng hai thay vì ở bậc nhất. Trước mặt Thiên Chúa, chẳng có gì sai trái khi chúng ta trở nên giàu có do chính sức lao động bằng mồ hôi nước mắt của mình. Thế nhưng công tâm mà nói, sự giàu có của chúng ta có chắc chắn 100% do mồ hôi nước mắt mà không liên quan đến những bất công không? Cho kẻ khác vay tiền với tiền lời cắt cổ có phải là bất công không? Cho những người mướn nhà mà không chịu sửa sang đàng hoàng có phải là ngay thẳng không? Thiếu thành thật hay khai gian để thu lợi tiền trợ cấp chính phủ hoặc lừa dối người khác có phải công chính không? Vấn đề ở đây không phải là sự giàu có của cải mà là làm cách nào chúng ta trở nên giàu có mà không liên quan đến những gian dối bất công. Bởi thế, chúng ta nên đọc lại Tin Mừng hôm nay trong bối cảnh tiền bạc phải gắn liền với sự liêm chính và tín nhiệm. Ai lem nhem tiền bạc dù chỉ trong việc rất nhỏ cũng đủ mất tín nhiệm. Chính lòng tham vô đáy mà con người dám thi hành bất cứ mọi thủ đoạn trái với lương tâm. Dưới ánh sáng Tin Mừng tuần này, mỗi người chúng ta hãy thành tâm xem lại lương tâm mình Thiên Chúa thật ra đang ở vị trí nào trong cuộc sống đức tin hôm nay. Một trong những lý do biện minh không đến được nhà thờ là do bận bịu với công việc quá. Thật lòng chúng ta có muốn đến nhà thờ hay không mà thôi, thật ra đến với cộng đoàn chỉ có 3 tiếng (2 giờ lái xe, 1 giờ tham dự lễ) so với 168 tiếng (7 ngày) thì có là bao chưa bằng 2% thời lượng Chúa bac ho một tuần. Lúc này, chúng ta còn mạnh khỏe hái ra tiền, nhưng đến lúc bệnh hoạn đau ốm, ai sẽ là người gần bên bạn nhất? Chỉ một mình Ngài mà thôi. -Lm. Giuse Maria Nguyễn Tuấn Long

Bếp Sưởi Tình Thương – CN. 24th Thương Niên – Lm. Giuse Maria Nguyễn Tuấn Long

[one_half] Video[/one_half] Kinh nghiệm sống hằng ngày đã và đang cho thấy có những thứ chúng ta cần đến ngay lúc đó thì tìm không thấy, nhưng  khi không cần đến thì ta lại tìm ra. Tuy không còn cần thiết như trước, nhưng việc tìm lại được những gì mình cần trước kia cũng đem lại cho chúng ta một niềm vui nào đó. Trên phương diện tâm lý, chúng ta cũng nên lưu ý đến việc áp dụng nếp sống đơn giản, gọn gàng ngăn nắp vì càng thêm tuổi trí nhớ chúng ta càng hay quên cộng với những căng thẳng mỗi ngày thường dễ khiến chúng ta bị phân tâm đang làm việc này lại sọ sang việc kia. Cuối cùng chẳng có việc nào hoàn tất cho ra hồn mà chỉ thêm vãi tội. Trở về với Tin Mừng tuần này, Chúa Giêsu đã khai thác niềm vui của người đàn bà khi tìm lại được đồng xu bị thất lạc để nhấn mạnh đến niềm vui của Thiên Chúa còn cao cả biết bao khi một linh hồn ăn năn trở lại với Ngài. Cha mẹ nào có con cái bỏ đi hoang biền biệt bao năm và bỗng nhiên một ngày đẹp trời nào đó, người con đó trở về xin làm hòa với cha mẹ mình. Chắc chắn cả hai cha mẹ và người con hoang trở về đều là những người hạnh phúc vì cả hai đều là những kẻ tìm lại được những gì đã bị thất lạc. Cha mẹ tìm lại được con cái là khúc ruột và giọt máu của mình, con cái tìm lại được tình thương nơi cha mẹ. Tuy nhiên, sự thử thách lớn lao ở đây là tỷ lệ bỏ ra đi so sánh với tỷ lệ trở về với cha mẹ thì bên nào hơn bên kia? Theo nhận định và quan sát cá nhân, tôi thấy nhiều bạn trẻ ngày nay thường mong đến tuổi 18 cho nhanh để thoát ly khỏi nhà. Trong quân đội cũng thế, nhiều em đi lính chỉ vì không biết đi đâu để thoát khỏi gia đình. Cái cảm giác lạc lõng cô đơn là một cảm giác tâm lý gần như bị trầm cảm và suy nhược tinh thần. Hãy trung kiên bám vào Thiên Chúa và Đức Mẹ thì mọi khủng hoảng cũng qua đi. Ước gì tình thương ở nơi cha mẹ luôn là bếp sưởi cho con cái tìm về trong những lúc cơ đơn chán nản giữa đường đời. Hơn bao giờ hết, ước gì mọi người chúng ta luôn trung thành xác tín niềm tin vào lòng thương xót của Thiên Chúa và lời chuyển cầu của Đức Mẹ. Nhiều khi đức tin đơn sơ của một kẻ nguội lạnh trở về cốt lõi chỉ còn là niềm hy vọng cuối cùng vào tình thương và lòng thương xót của Thiên Chúa.    24th Sunday – C – 19  Lk.15: 1-10  “There will be great joy in heaven over one sinner who repents.”    – Lm. Giuse Nguyễn Tuấn Long