Vị hồng y ở quốc gia đa số theo Hồi giáo đông nhất

(28/4/2021)– Ignatius Suharyo đến từ Indonesia chưa bao giờ nghĩ rằng mình sẽ là một hồng y. Nhưng Đức Thánh Cha Phanxicô đã có kế hoạch cho ngài. Vào ngày 1 tháng Chín năm 2019, ngài nhận được một cuộc điện thoại bất ngờ từ Sứ thần Tòa Thánh ở Jakarta, cho biết ngài sắp trở thành hồng y. Đức Hồng y Ignatius Suharyo Hardjoatmodjo, Tổng giám mục Jakarta: “Tôi chắc chắn rằng Đức Thánh Cha Phanxicô đã bổ nhiệm tôi làm hồng y vì ngài muốn đánh giá cao Giáo hội Công giáo ở Indonesia. Và không chỉ Giáo hội Công giáo Indonesia, mà còn cả quốc gia của chúng tôi.”… hai vị giáo hoàng đã đến thăm đất nước này: Phaolô VI và Gioan Phaolô II. Đức Hồng y Suharyo hy vọng sẽ tiếp tục vai trò phục vụ nhân dân. n (Lược theo Jos. Tú Nạc, NMS, thanhlinh.net)

Giuse Trong Xóm Nhỏ Ðiêu Tàn

“Giuse trong xóm nhỏ điêu tàn…” Có lẽ không một người công giáo Việt Nam nào mà không thuộc nằm lòng bài thánh ca trên đây của cố linh mục Ðạo Minh, dòng thánh Giuse… Tác giả đã sáng tác ca khúc trong giai đoạn đau thương của đất nước giữa hai thập niên 40 – 50 và cũng như thánh Giuse, đã ra đi âm thầm trong một cái chết vô cùng bí ẩn sau ngày thay đổi chế độ. Lời ca đơn sơ xuất phát từ cuộc sống lam lũ qua mọi thời đại của người Việt Nam. Nhưng tâm tình đó lại càng hợp với hoàn cảnh sống của người Việt Nam hơn bao giờ hết. Có lẽ ai trong chúng ta cũng cảm thấy gần gũi với thánh Giuse, vị thánh được mệnh danh là người công chính, nhưng đồng thời cũng là con người thinh lặng nhất trong Phúc Âm. Có rất nhiều thứ thinh lặng. Thinh lặng của những người câm điếc, bị trói buộc trong bất lực tự nhiên của mình. Thinh lặng trong cô đơn buồn chán. Thinh lặng trong căm thù oán ghét. Thinh lặng trong khép kín ích kỷ. Thinh lặng trong kiêu hãnh trước đe dọa, thử thách… Thánh Giuse đã thinh lặng trong tinh thần chấp nhận và chiêm niệm. Trong cuộc sống âm thầm tại Nagiaréth, thánh Giuse đã thinh lặng để chiêm ngưỡng mầu nhiệm nhập thể kỳ diệu trong con người của Chúa Giêsu. Cuộc đời của thánh Giuse đã bắt đầu bằng một giấc mơ để rồi tiếp tục trong một giấc mơ triền miên. Nhưng đây không phải là một giấc mơ của mộng ảo phù du, mà là một giấc mơ trong chiêm niệm về hiện thực… Trong sự thinh lặng chiêm niệm ấy, từng biến cố nhỏ của cuộc sống đã mang nặng sự hiện diện và tác động của Thiên Chúa. Suy tư về ý nghĩa và giá trị những công việc hằng ngày của chúng ta. Cầu nguyện cho mọi người biết nhận ra sự hiện diện và tác động và lời kêu mời của Chúa trong cuộc sống…              (Lẽ Sống, Radio Veritas)

Sinh Nhiều Hoa Trái

Ai trồng cây cũng mong được ăn quả. Muốn có quả, cũng phải lắm công phu. Không phải cứ xanh tốt lớn mạnh là có quả. Có những ruộng lúa xanh tốt, nhưng chỉ tốt lá, nên chỉ cho những bông lúa lép. Có những cây xum xuê cành lá, nhưng đến mùa chẳng thấy quả nào. Xanh tốt như thế không phải là thành công, nhưng la thất bại. Cành lá chỉ là phụ, hoa quả mới là chính. Được điều phụ mất điều chính, đó là thất bại. Đức Giêsu quan sát cây nho và thấy rằng một cây nho muốn có nhiều hoa quả cần phải có hai điều kiện sau đây:   Điều kiện thứ nhất: Cành phải liên kết với cây. Cành không liên kết với cây, không thể sinh hoa kết quả. Cành không liên kết với cây khi dòng nhựa nuôi dưỡng thân cây bị tắc nghẽn không luân lưu sang cành. Có những con sâu con bọ đục khoét làm cho cành cây bị thương tổn, không còn tiếp nhận được nguồn nhựa  sống của  thân cây truyền sang. Chỉ khi cành kết hiệp chặt chẽ với cây, dòng nhựa từ cây mới truyền sang  cành, cho cành trổ sinh hoa trái.                  Điều kiện thứ hai: Cành lá phải được cắt tỉa. Ai đã trồng nho thì biết: Nếu cứ để cành lá phát triển tự do, cây sẽ xanh tươi coi rất đẹp mắt nhưng không có hoa trái. Muốn cây có quả, phải tỉa bớt cành lá. Việc cắt tỉa làm cho dòng nhựa không bị phân tán, nhưng tập trung vào những cành chính, dồn vào cho hoa sung sức, cho quả đầy đặn. Đức Giêsu muốn dùng hình ảnh cây nho để nói về đời sống đạo của ta. Đời sống của ta được sánh ví như đời sống của cây nho. Cũng như người trồng nho muốn cho vườn nho của mình không bị tàn lụi, nhưng phát triển, sinh hoa kết quả, Đức Chúa Cha đã tạo dựng nên con người không phải để con người tàn lụi đi, nhưng để con người phát triển, sinh hoa kết quả và tồn tại. Để được phát triển, con người cũng cần những điều kiện.Điều kiện thứ nhất: Phải kết hiệp mật thiết với Đức Giêsu. Như cành nho phải liên kết với thân nho mới sinh hoa kết quả, ta phai liên kết mật thiết với Đức Giêsu. Người là nguồn cội sự sống của ta. Tách lìa Người, ta không thể sống, càng không thể phát triển được. Người là dòng sông ân sủng. Khi ta kết hiệp với Người, ân sủng tuôn đổ vào linh hồn, làm cho ta được sống và sống sung mãn. Ân sủng thấm nhập nội tâm, uốn nắn tình cảm, củng cố ý chí, sinh ra những hoa trái thiêng liêng trong tư tưởng, lời nói, việc làm. Sự kết hiệp mật thiết với Chúa làm cho ta sống sự sống của Người, nói lời nói của Người, hành động theo gương của Người, phán đoán theo chuẩn mực của Người, nhìn con người và sự việc bằng cặp mắt của Người, yêu thương bằng trái tim của Người. Khi sự kết hiệp đa đến mức hoàn hảo, chính Người hành động qua ta và vì thế, những hoa trái sẽ vô cùng phong phú. Điều kiện thứ hai: Phải chịu cắt tỉa. Cành nho muốn sai trái phải chịu tỉa bớt những cành lá rườm ra. Cũng thế, linh hồn phải để Chúa cắt tỉa nhưng gì dư thừa cản trở ơn thánh sinh hoa kết quả. Phải cắt tỉa những ý muốn riêng tư để chuyên tâm tìm thánh ý Thiên Chúa. Phải cắt tỉa những hình thức bề ngoài để chìm vào nội tâm sâu lắng. Phải cắt tỉa những phô trương quyền lực để mặc lấy tâm tình đơn sơ khiêm nhuờng. Chúa cắt tỉa ta bằng những thất bại ta gặp phải. Chúa huấn luyện ta bằng những lời phê bình chỉ trích của những người chung quanh. Chúa mãi dũa ta bằng những nghi kỵ hiểu lầm của người khác. Chúa đào tạo ta trong những phản bội của người thân tín. Việc cắt tỉa làm cho ta đau đớn, nhưng đem lại những lợi ích vô cùng phong phú. Chính Đức Giêsu đã làm gương cho ta khi Người sống kết hiệp mật thiết với Đức Chúa Cha. Sự kết hiệp ấy được diễn tả qua việc Người chuyên tâm cầu nguyện và luôn luôn làm theo ý Chúa Cha. Người đã để cho Chúa Cha cắt tỉa khi Người từ bỏ ý riêng, nhận uống chén đắng, nhận vác thập giá, nhận lấy cái chết tủi nhục. Chính vì thế, Người đã sinh hoa trái dồi dào nuôi sống tất cả chúng ta. Chính vì thế, Người đã trở nên gốc nho sung mãn sự sống để chuyển thông cho chúng ta. Lạy Đức Giêsu là Cây Nho Thật, xin cho con biết kết hiệp mật thiết với Chúa. Xin hãy cắt tỉa những gì vô ích trong con để con sinh nhiều hoa trái thiêng liêng như Chúa mong ước. Amen.       

Thánh Hilary Arles, Giám mục (400-449) – Kính ngày 5 tháng 5

Thánh Hilary Arles, Giám mục (400-449) – Kính ngày 5 tháng 5 Người ta thường nói tuổi trẻ hay lãng phí. Theo cách nào đó, cuộc đời thánh Hilary Arles cũng vậy. Ngài sinh tại Pháp, trong một gia đình quý tộc. Khi đi học, ngài gặp một người thân là ĐGM Hônôratô, và người này đã giúp ngài đi tu. Ngài tiếp tục theo bước của ĐGM Hônôratô. Ngài làm linh mục, rồi ngài được bổ nhiệm làm giám mục giáo phận Arles khi mới 29 tuổi. Giám mục trẻ lãnh sứ vụ với lòng tự tin. Ngài lao động chân tay để kiếm tiền cho người nghèo. Ngài bán chén lễđể chuộc các tù nhân. Ngài giảng thuyết rất hùng hồn. Ngài đi bộ khắp nơi và luôn mặc quần áo giản dị. Nhưng ngài cũng gặp khó khăn trong các mối quan hệ với các giám mục khác mà ngài đã phê phán. Ngài đơn phương một phe. Ngài chọn một giám mục khác để thay thế giám mục bị bệnh, phức tạp hóa các vấn đề, nhưng không đến nỗi! Thánh Giáo hoàng Lêô Cả giữ ngài làm giám mục nhưng tước một số quyền của ngài. Thánh Hilary là người có tài và có lòng thương người.

Nghệ thuật làm lửa

Thời xa xưa, tìm được cách làm ra lửa là cả một phát minh vĩ đại… Có một nhà phát minh nọ, sau khi đã tìm được nghệ thuật làm ra lửa đã đi từ bộ lạc này sang bộ lạc khác để quảng bá phương pháp của mình. Có nhiều bộ lạc tiếp thu phương pháp của ông mà không hề bày tỏ một dấu hiệu nào của lòng biết ơn. Nhưng con người quảng đại này không màng đến chuyện người ta biết ơn hay phản bội. Niềm hạnh phúc của ông là thấy được mỗi ngày càng có được nhiều người hưởng được sự phát minh của ông. Cũng giống như những bộ lạc trước, bộ lạc cuối cùng mà ông mang đến nghệ thuật làm ra lửa cũng hồ hởi đón tiếp ông. Nhưng không mấy chốc, các tư tế trong bộ lạc tỏ lòng ghen tức, họ âm mưu sát hại ông để xóa bỏ mọi ảnh hưởng của ông. Sau khi mưu sát ông, để đánh tan mọi nghi ngờ, các tư tế cho vẽ một bức chân dung của ông và đặt trên bàn thờ. Trong mọi nghi thức tế tự, tên của ông được thành kính nhắc đến như một đại ân nhân của bộ lạc. Các dụng cụ ông làm ra lửa cũng được các tư tế cho đặt vào trong một chiếc hộp quý. Họ cũng rêu rao rằng bất cứ ai lấy lòng tin mà chạm đến các báu vật ấy sẽ được chữa mọi bệnh tật. Vị Thượng tế của bộ lạc cũng nhận trách nhiệm biên soạn một tiểu sử của vị phát minh ra lửa. Quyển tiểu sử ấy cũng trở thành một thứ sách Thánh trong đó gương sáng, đời sống gương mẫu của vị đại ân nhân được ca tụng và đề ra như lý tưởng cho mọi người noi theo. Các tư tế cũng tự nhận cho họ quyền được giải thích về cuộc đời và các lời răn dạy của vị phát minh. Ðể đảm bảo tính cách tinh ròng của những lời răn dạy của vị phát minh, các tư tế ra vạ tuyệt thông hoặc tử hình cho tất cả những ai không chấp nhận những lời giải thích của họ. Dân chúng sợ hãi đến độ dần dà họ chỉ còn biết có những lưòi giải thích của các vị tư tế và quên hẳn cả chính nghệ thuật làm ra lửa. Câu chuyện ngụ ngôn trên đây đã được một vị linh đạo nổi tiếng của Ấn Ðộ là linh mục Anthony De Mello ghi lại trong các câu chuyện có nội dung giáo lý của cha. Qua câu chuyện này, cha De Mello như muốn nhắn nhủ với chúng ta rằng cái khuynh hướng chung của những người có tôn giáo là dễ dàng quên đi chính cái cốt lõi của tôn giáo. Con người dẽ bám vào những nghi thức bên ngoài của tôn giáo mà quên đi sứ điệp thiết yếu của nó. Chiến tranh tôn giáo, sự bất khoan dung của các tín đồ đều bắt nguồn từ khuynh hướng trên. Người tín hữu Kitô chúng ta có lẽ cũng không thoát khỏi khuynh hướng ấy. Chúng ta dễ bị cám dỗ nhìn vào đạo của chúng ta như một hệ thống của những cơ cấu, của những nghi thức, của những điều phải tin, phải giữ, nhưng lại quên đi cái cốt lõi của đạo chúng ta chính là tình yêu. Chúng ta sẵn sàng nhân danh Chúa, nhân danh đạo lý để loại trừ, để bách hại người anh em bằng cách này hay cách khác. Rốt cục cũng giống như bộ lạc cuối cùng trong câu chuyện ngụ ngôn trên đây, lửa của yêu thương mà Chúa Giêsu đã mang đến, chúng ta đã dập tắt đi để thay vào đó bằng những nghi thức thừa thãi trống rỗng. Chúng ta dễ dàng thay thế đạo của yêu thương, đạo của Tin Mừng bằng đạo của hình thức, đạo của giả hình… Quên đi cốt lõi của Tin Mừng là Yêu Thương, chúng ta cũng loại bỏ chính Chúa Kitô ra khỏi cuộc sống của chúng ta. Không chừng chúng ta cũng đang đóng đinh Ngài một lần thứ hai. Lời Kinh của chúng ta sẽ chỉ là những tiếng kêu trống rỗng, các nghi thức của chúng ta sẽ chỉ là những trò hề, nếu cuộc sống của chúng ta chưa được thấm nhuần, tưới gội bằng Lửa của Yêu Thương mà Chúa Giêsu đã mang đến cho chúng ta. (Radio Veritas)

Thánh Eusêbiô, Giám Mục (315-371) – Kính ngày 2 tháng 8

Thánh Eusêbiô là người Sarde miền Piémont phía Tây Bắc nước Ý. Ngay từ nhỏ, Eusêbiô đã lãnh nhận được nơi bà mẹ một lòng đạo đức sâu xa, một nền giáo dục vững chắc và sớm biểu lộ niềm yêu mến đức trinh khiết. Năm 344, Tòa Thánh đặt ngài làm Giám Mục giáo phận Verceil. Lúc ấy lạc thuyết Ariô được vua Constantinô tiếp tay nên lan tràn khắp nơi như một cơn giông bão tàn phá Giáo Hội. Vì cương quyết chống lại bè rối này nên ngài bị nhà vua đày ở Scythopolis năm 355. Tại đây ngài bị đói khát và bị hành hạ đủ cách, nhưng ngài luôn tỏ ra trung thành với giáo lý chân chính của Hội Thánh. Ngài thường liên lạc thư từ với các tín hữu để nâng đỡ đức tin của họ. Ngài phải chịu cảnh lưu đày cho mãi tới khi vua Constantinô băng hà mới được trả tự do và trở về địa phận. Sau những ngày dài thử thách, Chúa đã gọi ngài lãnh nhận triều thiên công phúc ngày 02/8/371 tại Verceil, hưởng thọ 56 tuổi. Giáo Hội đã kể ngài vào hàng các thánh tử đạo vì những lần bị lưu đày gian khổ để bênh vực thiên tính của Chúa Giêsu chống lại bè rối Ariô.

Mầu Nhiệm Tình Yêu

Mấy tháng nay, chúng ta bị nhốt ở nhà mình. Nhà thờ thì không đi được, nhà hàng đóng cửa, nhiều dịch vụ tạm ngưng vô thời hạn. Hơn nữa, bạn bè người thân không thể đến với nhau. Tuy cũng liên lạc bằng những phương tiện truyền thông, nhưng không thể vui bằng họp nhau trong tình thân ái. “Không ai là một hòn đảo”. Con người không thể sống cô độc. Các triết gia gọi con người là một loài có xã hội tính. Chúng ta cần có người khác để hiện hữu và sinh tồn. Không có cha mẹ làm sao có ta. Về thể xác, chúng ta phải ăn mới sống. Về tinh thần, con người phải có tình yêu mới hạnh phúc. Chỉ vì loài người được dựng nên theo hình ảnh Thiên Chúa.  Thiên Chúa là Một. Nhưng Thiên Chúa không phải là một thực thể cô độc. Ngài còn là một mối thân tình. Thiên Chúa là tình yêu. Thiên Chúa trao ban chính mình cách trọn vẹn. Vì thế có Cha và Con. Ngôi Cha và ngôi Con hợp nhất trong một tình yêu tuyệt đối là ngôi Thánh Thần. Chúng ta tin mầu nhiệm Một Chúa Ba Ngôi, vì chính Chúa đã tự biểu lộ như thế cho chúng ta. Mạc khải không chỉ để biết, nhưng là để sống như thế nào cho đúng, nhờ đó đạt được hạnh phúc vĩnh cửu. Mầu nhiệm Một Chúa Ba Ngôi là mầu nhiệm tình yêu. Yêu là chia xẻ, là trao ban. Vì yêu, Thiên Chúa đã dựng nên trời đất muôn vật để thông ban sự tốt lành của Ngài cho muôn loài. Vì yêu, Thiên Chúa đã tạo dựng con người với khả năng đáp trả tình yêu của Ngài, nhờ đó giữa con người và Thiên Chúa có sự trao đổi song phương. Đáng tiếc thay, con người đã lạm dụng tự do của mình để chối từ Thiên Chúa. Nhịp cầu bị gãy đổ. Nhưng về phía Ngài, Thiên Chúa vẫn giữ nguyên tình yêu đối với chúng ta: “Thiên Chúa đã yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một Người để tất cả những ai tin ở Con của Người, thì không phải hư mất, nhưng được sống đời đời.” Qua phép Rửa “nhân danh Cha và Con và Thánh Thần”, chúng ta được nối lại nhịp cầu tình yêu. Từ nay, mến Chúa và yêu người phải là phương châm của đời sống Kitô-hữu. Mỗi khi làm dấu thánh giá “nhân danh Cha và Con và Thánh Thần”, chúng ta hãy nhớ ơn gọi đặc biệt của mình và cố gắng sống như lời thư thánh Phaolô: “Anh em hãy vui lên, hãy nên trọn lành, hãy khuyến khích nhau, hãy đồng tâm nhất trí, và hoà thuận với nhau, thì Thiên Chúa, nguồn sự bình an và tình yêu, sẽ ở với anh em.” -Lm. F.X. Bùi Ngọc Tỷ

Đức Giáo Hoàng Phanxicô kêu gọi các tín hữu hãy sống tình huynh đệ và biết chia sẻ  

  (02/04/2018)- (Vatican News) Sáng Thứ Hai sau Lễ Phục Sinh, ngỏ lời với hàng chục ngàn khách hành hương và các tín hữu tập trung tại Quảng Trường Thánh Phê-rô vào buổi đọc kinh “Regina Coeli” (Kinh Lạy Nữ Vương Thiên Đàng), ĐGH Phanxicô đã kêu gọi các tín hữu hãy cam kết sống tình huynh đệ để xây dựng một giáo hội đích thực hay một cộng đồng dân sự. Ngài nhấn mạnh rằng, chỉ có tình huynh đệ mới có thể bảo đảm một nền hòa bình lâu dài, xóa bỏ nghèo đói, dập tắt những căng thẳng, chiến tranh và tiêu trừ tha hóa và tội ác. “Chúa đã phục sinh” – kinh ngạc. Thứ Hai sau Phục Sinh là ngày ‘Pasquetta’ hay lễ ‘Phục Sinh Nhỏ’ ở Ý, cũng còn được gọi là ‘Thứ Hai của Thiên Thần’ vì câu chuyện trong Thánh Kinh kể về một thiên thần áo trắng ngồi trong ngôi mộ trống của Chúa Giê-su. ĐGH nói rằng lời vị thiên thần đã nói với các bà ra viếng mộ “ Ngài đã sống lại” chỉ có thể là lời của “một siêu nhân loan truyền về một sự thật gây kinh ngạc, quá sức tưởng tượng, và có lẽ không ai dám tuyên bố như thế.” Thế mà sau này cộng đoàn các tông đồ đã bắt đầu lập lại “Ngài đã sống lại.” Tình huynh đệ xây dựng ích lợi chung, công bình xã hội. ĐGH nói rằng sau Lễ Phục Sinh là ngày Thứ Hai của Thiên Thần, chúng ta cảm thấy có nhu cầu để đoàn kết và mừng lễ với những người thân yêu và bạn hữu. Qua việc sống lại từ cõi chết, Chúa Giê-su đã phá vỡ bức tường ngăn cách giữa người với người, phục hồi hòa bình và bắt đầu đan kết mối tình huynh đệ mới. ĐGH nhấn mạnh đến tầm quan trọng của việc tái khám phá tình huynh đệ trong thời đại của chúng ta, giống như cách sống của các cộng đồng tín hữu thưở ban đầu. Ngài nói rằng “Không thể là một cộng đoàn thực sự và một cam kết cho lợi ích chung và công bằng xã nhội nếu không có tình huynh đệ và chia sẻ.” Cũng như nếu không có sự chia sẻ thân tình, thì sẽ không có một giáo hội đích thực hay một cộng đồng dân sự, mà chỉ là một nhóm gồm các cá nhân nhằm theo đuổi mục đích là kiếm lợi cho bản thân của họ thôi. Đối thoại và liên hệ. ĐGH nói rằng sự phục sinh của Chúa làm cho tính đổi mới của việc đối thoại và mối liên hệ con người bùng phát trên thế giới, một tính đổi mới đã trở thành trách nhiệm của mọi tín hữu. Ngài nhắc lại lời Chúa Giê-su phán rằng “người ta cứ dấu nầy mà nhận biết các con là môn đệ thật của Thầy, là các con yêu thương nhau” (Gn 13, 35) Đó là lý do tại sao chúng ta không thể tự đóng kín mình trong cái gọi là riêng tư của chúng ta, trong nhóm của chúng ta, nhưng chúng ta được mời gọi để chăm sóc cho lợi ích chung, chăm lo cho anh chị em mình, đặc biệt cho những người dễ bị tổn thương nhất và nhưng người bị gạt ra bên lề xã hội. ĐGH nhấn mạnh rằng, chỉ có tình huynh đệ mới có thể bảo đảm một nền hòa bình lâu dài, xóa bỏ nghèo đói, dập tắt những căng thẳng, chiến tranh và tiêu trừ tha hóa và tội ác. Ngài khẩn thiết kêu gọi mọi người hãy chạy đến với Trinh Nữ Maria để Mẹ giúp tất cả chúng ta trở thành huynh đệ và cùng hiệp thông trong lối sống và chân tình trong các mối liên hệ.  Chứng nhân của hòa bình. Sau khi đọc kinh “Regina Coeli” và ban phép lành, ĐGH Phanxicô đã gởi lời chào đến các đoàn đến từ Ý và từ khắp nơi trên thế giới có mặt tại Công Trường. Ngài kêu gọi họ hãy trở thành nhân chứng hòa bình của Chúa Phục Sinh, đặc biệt cho những anh chị em “dễ bị tổn thương nhất và bất lợi về mọi mặt”. Ngài cũng nhắc nhở họ về ngày 02 tháng Tư là World Autism Awareness Day (tạm dịch là Ngày Thế Giới về Bệnh Tự Kỷ). ĐGH cũng xin ơn bình an cho toàn thế giới, đặc biệt cho những dân tộc đang phải chịu đau khổ vì xung đột. Ngài cũng nhắc lại lời kêu gọi cho những người bị bắt cóc hay bị tước mất quyền tự do một cách bất công sớm được thả ra để trở về đoàn tụ với gia đình. (Theo Giuse Thẩm Nguyễn, Vietcatholic.net)

Chúa Giêsu Chịu Cám Dỗ

Khởi đầu Mùa Chay, chúng ta suy niệm biến cố Chúa Giêsu “được Thần Khí dẫn vào hoang địa để chịu quỷ cám dỗ.”  Tên cám dỗ phát động cuộc tấn công Chúa Giêsu bằng ba con đường. Con đường thứ nhất, cám dỗ hoá đá thành bánh. Quỷ cám dỗ Chúa Giêsu sử dụng quyền năng Ngài cho chính Ngài. Nhưng Chúa Giêsu từ chối làm điều đó. Chúa trả lời kẻ cám dỗ “Người ta sống không chỉ nhờ cơm bánh, nhưng còn nhờ mọi lời miệng Thiên Chúa phán ra (Mt 4:4). Chỉ có một con đường làm thoả lòng người đó là con đường lệ thuộc hoàn toàn vào Thiên Chúa. Tên cám dỗ bố trí một cuộc tấn công khác. Quỷ đem Chúa Giêsu lên nóc Đền Thờ và đề nghị Ngài gieo mình từ nóc Đền Thờ xuống đất: “Nếu ông là Con Thiên Chúa thì gieo mình xuống đi! Vì có lời chép rằng: Thiên Chúa sẽ truyền cho thiên sứ lo cho bạn, và thiên sứ sẽ tay đỡ tay nâng, cho bạn khỏi vấp chân vào đá.” (Mt 4:6). Chúa Giêsu có thể làm được điều đó, nhưng Ngài không chấp nhận làm, vì không không phù hợp Thánh Ý Thiên Chúa, Ngài nói: “Ngươi chớ thử thách Chúa là Thiên Chúa ngươi” (Lc 4:12). Thử thách Chúa là hành động không đúng; lao mình vào chỗ nguy hiểm rồi trông chờ Chúa giải cứu là một việc sai lầm. Chúa đón nhận tâm tình của người liều mình để giữ lòng trung tín với Ngài, chứ không phải người liều mình để tự tăng thêm uy tín cho riêng mình. Tên cám dỗ thử đến phương kế tấn công thứ ba, quỷ gợi ý cho Chúa Giêsu một giải pháp khác là bái lạy nó: “Tôi sẽ cho ông tất cả những thứ đó, nếu ông sấp mình bái lạy tôi.” (Mt 4:9). Chúa Giêsu đáp: “Xatan, xéo đi!… Ngươi phải bái lạy Đức Chúa là Thiên Chúa của ngươi, và phải thờ phượng một mình Người mà thôi.” (Mt 4:11). Chúa Giêsu đã khẳng định là chúng ta không thể đánh bại sự ác bằng cách thoả hiệp với điều ác. Kitô giáo không thể khom xuống ngang với tiêu chuẩn thế gian. Ngài quyết định không có khoan nhượng trong sứ điệp Ngài giảng và trong đức tin Ngài đòi hỏi. Kết luận, lo lắng là chuyện đương nhiên phải có trong cuộc sống. Nhưng câu hỏi được đặt ra hôm nay là “cái ý nghĩa và mục đích của sự lo lắng đó là gì?” Lo lắng đem lại hạnh phúc ấm no cho kẻ khác là hạnh phúc. Lo lắng để làm giàu cho bản thân là nghiệt ngã. Nếu bạn quá lo lắng cho bản thân mình ngày mai, thì hiện tại bạn đang thiếu bình an. “Chúng ta sẽ ăn gì, uống gì, hoặc sẽ lấy gì mà mặc?… Nhưng Cha các con biết rõ các con cần đến những điều đó. Tiên vàn các con hãy tìm kiếm nước Thiên Chúa và sự công chính của Người.” Chúa Giêsu đã chọn cho Ngài con đường vâng phục Chúa Cha, con đường hy sinh, con đường thập giá “Lương thực của Thầy là thi hành ý muốn của Đấng đã sai Thầy, và hoàn tất công trình của Người.” (Ga 4: 34). Đó cũng là con đường của người Kitô hữu trước mọi cám dỗ. Đường thập giá là đường chiến thắng. Chúa Giêsu, tuy là Thiên Chúa, nhưng Ngài đã mang lấy phận người để chia sẻ những nỗi niềm khắc khoải trong cảnh đời chịu cám dỗ của chúng ta, để cảm thông, chia sẻ, vực ta đứng dậy bằng tình thương và chiến thắng của Ngài. Xin Chúa nâng đỡ, cứu giúp chúng con trong mọi cơn cám dỗ, thử thách. Nguyện xin Đức Trinh Nữ Maria, Mẹ Hằng Cứu Giúp, đồng hành và trợ giúp chúng con chiến thắng cơn cám đỗ mà trung tín cùng Chúa qua con đường thập giá với Chúa. Amen.

Tài liệu học hỏi Năm Thánh Lòng Thương Xót

1. Tông Chiếu là gì? Tông chiếu là một văn kiện, qua đó Đức Thánh Cha đưa ra một phán quyết quan trọng như công bố Năm Thánh, bổ nhiệm giám mục hay định tín, triệu tập Công Đồng, phong thánh v.v… vì lợi ích của toàn thể các tín hữu. 2. Qua Tông Chiếu “Dung Nhan Lòng Thương Xót”, Đức Thánh Cha ấn định điều gì? Qua Tông Chiếu “Dung Nhan Lòng Thương Xót”, Đức Thánh Cha ấn định Năm Thánh ngoại thường về Lòng Thương Xót sẽ bắt đầu từ ngày 8 tháng 12 năm 2015, dịp lễ Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội và kết thúc vào ngày 20 tháng 11 năm 2016, dịp lễ Chúa Kitô Vua. 3. Năm Thánh là gì? Năm Thánh là năm toàn xá, tức là thời điểm được qui định để chúng ta hoán cải, hòa giải, hiệp thông hầu đón nhận ơn cứu độ của Thiên Chúa một cách đặc biệt hơn. 4. Năm thánh có từ khi nào? Năm Thánh có từ thời Cựu Ước, được tiếp tục trong lịch sử Giáo Hội. Giáo Hội đã cử hành Năm Thánh đầu tiên vào năm 1300, và từ năm 1470, cứ 25 năm lại cử hành Năm Thánh một lần, gọi là thường kỳ. Ngoài ra, còn có những Năm Thánh ngoại thường kỷ niệm những biến cố trọng đại trong lịch sử cứu độ. 5. Ngoài phần mở và kết, Tông Chiếu “Dung Nhan Lòng Thương Xót” có mấy phần chính? Ngoài phần mở và kết, Tông Chiếu “Dung Nhan Lòng Thương Xót” có ba phần chính: Trong phần thứ nhất, Đức Thánh Cha khai triển và đào sâu ý niệm “Lòng Thương Xót”; trong phần thứ hai, Ngài đưa ra những chỉ dẫn để cử hành Năm Thánh; và trong phần thứ ba, Ngài kêu gọi thực thi lòng thương xót. 6. Trong phần mở đầu, Tông Chiếu đề cập tới những gì? Trong phần mở đầu, Tông Chiếu long trọng giới thiệu “Chúa Kitô là dung nhan Lòng Thương Xót của Chúa Cha” và khẳng định chúng ta cần phải “chiêm ngắm Mầu Nhiệm Lòng Thương Xót” (Số 1-2). 7. Tại sao Tông Chiếu giới thiệu “Chúa Giêsu Kitô là dung nhan Lòng Thương Xót của Chúa Cha”? Vì “trong Chúa Giêsu thành Nadarét, lòng thương xót của Chúa Cha trở nên sống động và rõ ràng, đồng thời qua Chúa Giêsu, chúng ta cũng tìm thấy đỉnh điểm của lòng thương xót”(Số 1). 8. Trong Chúa Giêsu thành Nadarét, lòng thương xót của Thiên Chúa được cảm nghiệm một cách sống động và rõ ràng như thế nào? Trong Chúa Giêsu thành Nadarét, lòng thương xót của Thiên Chúa được cảm nghiệm một cách sống động và rõ ràng đến nỗi ai thấy Ngài là thấy Chúa Cha (x. Ga 14,9) đồng thời qua lời Ngài nói cũng như những công việc Ngài làm, chúng ta có được kinh nghiệm về lòng thương xót của Thiên Chúa (Số 1). 9. Tại sao chúng ta cần phải “chiêm ngắm Mầu Nhiệm Lòng Chúa Thương Xót”?  Vì Lòng Thương Xót vừa là nguồn mạch của “niềm vui, sự thanh thản và bình an”, vừa là “điều kiện” để chúng ta được cứu độ (x. số 2). 10. Đối với Đức Thánh Cha, Năm Thánh về Lòng Thương Xót có ý nghĩa gì? Năm Thánh về Lòng Thương Xót là thời điểm các tín hữu được mời gọi chiêm ngắm Lòng Thương Xót của Thiên Chúa cách chăm chú hơn, để có thể trở nên dấu chỉ hữu hiệu của Mầu Nhiệm Thiên Chúa hành động trong cuộc đời mình. Năm Thánh còn là cơ hội thuận tiện, để chứng từ của họ nên mạnh mẽ và hữu hiệu hơn (x. số 3). 11. Nghi thức chính yếu để khai mạc Năm Thánh là nghi thức nào? Đó là nghi thức mở Cửa Thánh, cánh cửa của Lòng Thương Xót mà bất cứ ai bước vào sẽ có được kinh nghiệm về tình yêu của Thiên Chúa, Đấng “ủi an, tha thứ và ban cho niềm hy vọng”(Số 3). 12. Trong phần mở đầu, Tông Chiếu đề cập tới những gì? Trong phần mở đầu, Tông Chiếu long trọng giới thiệu “Chúa Giêsu Kitô là dung nhan Lòng Thương Xót của Chúa Cha” và khẳng định chúng ta cần phải “chiêm ngắm Mầu Nhiệm Lòng Chúa Thương Xót” (số 1-2). 13. Việc các Giáo Hội địa phương tham gia vào việc cử hành Năm Thánh có ý nghĩa gì? Việc các Giáo Hội địa phương được Đức Thánh Cha mời gọi cử hành và sống Năm Thánh là dấu chỉ hữu hình của sự hiệp thông trong toàn thể Giáo Hội. 14. Tông Chiếu giải thích thế nào về thuật ngữ “Lòng Thương Xót?” Tông Chiếu nói đến 4 ý nghĩa của thuật ngữ “Lòng Thương Xót” : • Thứ nhất, thuật ngữ “Lòng Thương Xót” bày tỏ Mầu Nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi; • Thứ hai, thuật ngữ “Lòng Thương Xót” nói đến hành vi “Thiên Chúa gặp gỡ chúng ta”; • Thứ ba, thuật ngữ “Lòng Thương Xót” trình bày quy luật nền tảng có trong con tim của mọi người, khi họ nhìn một người anh chị em mà họ gặp với một cặp mắt chân thành; • Thứ tư, thuật ngữ “Lòng Thương Xót” diễn tả con đường giúp con người gắn kết với Thiên Chúa và với nhau, vì Lòng Thương Xót giúp mở con tim ra cho niềm hy vọng rằng mình vẫn được yêu thương mãi mãi, dù còn nhiều tội lỗi. 15. Tại sao Đức Thánh Cha chọn khai mạc Năm Thánh vào ngày 8 tháng 12? Vì Đức Thánh Cha muốn kỷ niệm 50 năm sau ngày bế mạc Công Đồng Chung Vaticanô II. Công Đồng đã mở ra cho Giáo Hội một trang sử mới trong việc loan báo Tin Mừng, các tín hữu dấn thân làm chứng … [Read more…]