Lòng Tham Không Ðáy

Hôm ấy, trời vừa rạng đông, một ông hoàng nói với tên đầy tớ: “Xem chừng anh mơ ước giàu lắm. Vậy từ giờ này cho tới lúc mặt trời lặn, anh có sức ngần nào thì cứ chạy. Tất cả những ruộng vườn anh chạy vòng quanh được, tôi vui lòng nhường lại cho anh hết”. Sướng quá! Cha chết sống lại cũng không bằng. Tức thì chàng cắm đầu chạy, chạy vùn vụt như Hạng Vũ trên lưng con ngựa Ô-Truy. Chín mười tiếng đồng hồ qua, chàng ta làm chủ được mấy cánh đồng bao la mù mịt. Chàng vừa dừng chân, thì một khu rừng mơn mởn hiện ra trước mắt cám dỗ chàng. Không kịp thở, chàng lại cắm đầu chạy tiếp, chạy một vòng dài nữa. Vừa dừng chân, lại một hồ cá mênh mông, với mặt nước trong ngần, huyền ảo phản chiếu ánh mặt trời đã xế chiều. Lại một vòng nữa… Sau cùng, màn đêm đã phủ xuống trên nẻo đường đi. Chàng hổn hển quay bước trở về nhà, để làm bậc tỉ phú với “Ruộng vườn mặc sức chim bay, biển hồ lai láng mặc bầy cá đua”. Nhưng vừa bước chân qua ngưỡng cửa, chàng ngã lăn xuống đất bất tỉnh. Vợ con vội vàng thuốc thang săn sóc… Nhưng vô hiệu. Nhà tỉ phú đã trút linh hồn sau một ngày dài lao lực quá sức. Người ta đào cho chàng một chỗ nghỉ trong lòng địa cầu, vừa dài vừa rộng, nhưng không quá ba tấc đất. Ðiểm qua những câu chuyện cổ kim về lòng tham, chúng ta rút ra được bài học gì?… Chắc có người tự hỏi: sống trong thời củi quế gạo châu, chạy ăn từng bữa này làm gì có nhiều của mà tham với lam. Như những anh ăn mày cũng gắn bó với manh chiếu rách, với chiếc áo tơi đến độ có thể “ăn thua đủ” với những ai đánh cắp. Lòng tham không cần bị nhiều cám dỗ mới nổi tính tham. Vì thế đức tính đầu tiên chúng ta cần phải tập là tinh thần từ bỏ, dùng của cải như những phương tiện chứ không phải như mục đích. Bước thứ hai là tập cho có quan niệm: chúng ta chỉ là những người quản lý chứ không phải là chủ nhân những của cải vật chất và có như thế chúng ta mới dễ dàng tiến thêm bước thứ ba: sẵn sàng chia sẻ với những người cần thiết hơn. Không cần phải đợi có tiền muôn bạc vạn mới chia sẻ. Hạt muối cắn hai mới thật sự sưởi ấm lòng người và công đức trước mặt Thiên Chúa. (R. Veritas)

Một giám mục Ấn Độ tặng một quả thận cho một người hinđu nghèo khổ

(01/06/16)-    Đức Giám mục Mar Jacob Muricken, giám mục công giáo phụ tá của địa phận Palia, miền Tây Nam Ấn Độ, sẽ tặng một quả thận cho một người theo đạo Hinđu, anh Sooraj cần ghép thận khẩn cấp. Bệnh của anh Sooraj được chẩn đoán cách đây hai năm, từ đó anh lúc nào cũng phải lọc thận. Anh là lao động chính của quan tâm đình và phải nuôi mẹ già. Cha và người trẻ em trai của anh đã chết cách đây vài năm, anh đã buộc phải bán nhà để trả chi phí bệnh viện. Giám đốc Hội ghép thận là linh mục công giáo Davis Chira-mel, khi được mời đến giảng trong một buổi lễ Palai, linh mục đã gặp giám mục Muricken. Linh mục Chiramel đã kể cho giám mục nghe mình đã tặng một quả thận cho một người hinđu vào năm 2009. Giám mục cảm động về việc làm này của linh mục và đã ghi tên mình vào danh sách người tặng thận cho Hội.  Giám mục Muricken cho biết mình cảm nghiệm từ gương của Đức Phanxicô, ngài “thường xuyên giảng dạy chúng ta làm sao để Chúa Giêsu được hiện diện qua các hành vi của lòng thương xót”. Giám mục hy vọng việc làm của mình khuyến khích việc hiến tặng cơ quan. (Trích lược theo Nguyễn Tùng Lâm, baoconggiao.com)

Giáo Hội Việt Nam có thêm một Giám Mục Chính Tòa tại Hải Ngoại

(1/6/16)-    Ngày 01 tháng Sáu 2016, ĐTC Phanxicô đã bổ nhiệm cha Giuse Nguyễn Thế Phương -Tổng đại diện Tổng giáo phận Vancouver (Canada) làm Giám Mục chính toà giáo phận Kamloops, Canada, thay thế Đức cha David Monroe mãn nhiệm theo giáo luật (75 tuổi). Đức cha Monroe đã coi sóc giáo phận Kamloops từ năm 2002, và cũng như vị giám mục kế nhiệm, ngài cũng là nguyên Tổng đại diện của Tổng giáo phận Vancouver. Đức Tân giám mục Nguyễn Thế Phương sinh ngày 25 tháng 3 năm 1957 tại Việt Nam, là anh cả trong một gia đình có 10 anh chị em. Từ năm 1969, học Tiểu chủng viện Lê Bảo Tịnh ở Ban Mê Thuột. Ngài từng bị bắt giam hai lần vì dạy giáo lý. Sau đó vượt biên đến Palawan, Philippines và sống ở trại này một năm. Năm 1987 đến Vancouver, Canada và làm thợ sơn để có tiền học tiếng Anh vì khi đến Canada ngài không hề biết một chữ tiếng Anh. Sau đó, học triết  học tại Chủng viện Chúa Kitô Vua ở Mission, British Columbia và học thần học tại Chủng viện thánh Phêrô ở London, Ontario. Thụ phong linh mục ngày 30 tháng 5 năm 1992 cho Tổng giáo phận Vancouver. Sau khi chịu chức linh mục, ngài đã đảm nhận các chức vụ: phó xứ các giáo xứ: Thánh Giuđa ở Vancouver (1992-1993), Đức Mẹ Vô Nhiễm ở Delta (1993-1995) và Thánh Thể ở Van- couver (1995-1997); chánh xứ các giáo xứ: Đức Mẹ Thương Xót ở Burnaby (1997-2001) và Thánh Anrê ở Van- couver (2001-2010); Giám đốc đặc trách ơn gọi linh mục (2010-2013); Tổng đại diện (từ năm 2013). Một người em trai của ngài cũng là linh mục của giáo phận của Hamilton, Ontario, và hai người em gái là nữ tu. Đức cha J. Michael Miller, CSB, Tổng giám mục Van-couver đã chúc mừng giáo phận Kamloops có một Tân giám mục là một vị giảng thuyết lôi cuốn, một người có tinh thần phục vụ và cổ vũ mạnh mẽ cho ơn gọi linh mục và tu sĩ. Đức cha Miller nói: “Sự cống hiến của ngài cho chức linh mục là hết sức phong phú: từ việc thành lập Nhà Vianney (dành cho các thanh niên phân định ơn gọi linh mục), phát hành tờ thông tin về đời sống linh mục và tu sĩ, đến việc mở triển lãm về ơn gọi, ngài thực sự đã làm hết mình để cổ vũ ơn gọi linh mục. Đức cha Miller nói ngài rất tiếc vì mất một người bạn và người đồng sự, nhưng “giáo phận Kamloops sẽ được hưởng nhiều ơn ích từ vị mục tử tận tuỵ, thương người và có tinh thần cầu nguyện này. Là người đã thực sự chịu bách hại vì đức tin, Đức Tân giám mục sẽ là tấm gương khích lệ người Kitô hữu can đảm làm chứng trong thế giới của chúng ta.” Ngày lễ tấn phong Tân giám mục Kamloops chưa được ấn định. (Theo Minh Đức, hdgmVietnam.org)

Sứ điệp Đức Thánh Cha gửi Hội nghị Thượng đỉnh về nhân đạo

(24/5/16)-   VATICAN. ĐTC tố giác nhiều quyền lợi đang ngăn cản việc giải quyết các xung đột trên thế giới và ngài kêu gọi canh tân nỗ lực bảo vệ phẩm giá và các quyền con người. Ngài bày tỏ lập trường trên đây trong sứ điệp gửi Hội Nghị Thượng Đỉnh về nhân đạo do LHQ triệu tập tại Istanbul Thổ Nhĩ Kỳ trong hai ngày 23 và 24-5-2016. ĐTC khẳng định rằng: ”Chúng ta không thể phủ nhận ngày nay nhiều quyền lợi đang ngăn cản việc giải quyết các cuộc xung đột và nhiều chiến lược quân sự, kinh tế và chính trị địa lý đang làm cho các cá nhân và các dân tộc phải tản cư, và nó áp đặt thần tiền bạc, thần quyền lực. Đồng thời các nỗ lực nhân đạo thường bị những hạn chế về thương mại và ý thức hệ. Vì thế, ĐTC viết, điều đang cần ngày nay là tái quyết tâm bảo vệ mỗi người trong đời sống thường nhật và bảo vệ phẩm giá cũng như các nhân quyền, an ninh và những nhu cầu toàn diện của họ. Đồng thời cũng cần bảo tồn tự do và căn tính xã hội, văn hóa của các dân tộc; điều này không đưa tới sự cô lập, trái lại nó tạo điều kiện cho sự cộng tác, đối thoại và nhất là hòa bình.” Trong ý hướng trên đây, ĐTC cổ vũ sự quyết tâm, trước tiên là những cố gắng bản thân, rồi cùng nhau, phối hợp sức mạnh và các sáng kiến để không có gia đình nào mà không có gia cư, không người tị nạn nào mà không được tiếp đón, không ai phải sống mà không có phẩm giá, không có người bị thương nào mà không được săn sóc, không trẻ em nào bị mất tuổi thơ, không người trẻ nam nữ nào mà không có tương lai, không người cao niên nào mà không được một tuổi già đáng trọng.” ĐTC cầu mong hội nghị thượng đỉnh ở Istanbul này cũng là một cơ hội nhìn nhận công việc của những người đang phục vụ những người thân cận, và góp phần an ủi những đau khổ của các nạn nhân chiến tranh và thiên tai, những người phải tản cư và tị nạn, những người săn sóc xã hội, đặc biệt là qua những chọn lựa can đảm để bênh vực hòa bình, sự tôn trọng, chữa lành và tha thứ. Đó là cách thức các sinh mạng con người được cứu vớt”. (Theo Lm. Giuse Trần Đức Anh, OP, Vietcatholic News)

Vatican xác nhận thời gian và chủ đề của Đại Hội Gia Đình Thế Giới năm 2018

(25/5/16)-   Đại Hội Gia Đình Thế Giới (World Meeting of Families) 2018 sẽ được tổ chức tại Tổng giáo phận Dublin (Ireland). Đây là sự kiện nằm trong chương trình đổi mới trên diện rộng của Giáo Hội Công Giáo về việc chăm sóc mục vụ gia đình. Đức Tổng Giám Mục Diarmuid Martin của Tổng giáo phận Dublin cho biết rằng Đức Giáo Hoàng Phanxicô hy vọng sẽ tham dự Đại Hội kỳ này, nhưng cho đến thời điểm hiện tại thì chưa thể xác nhận về việc đó. Ngài nói: “Trong tâm trí của Đức Giáo Hoàng Phanxicô, Đại Hội Gia Đình Thế Giới ở Dublin không phải là một sự kiện biệt lập mà nó sẽ nhận định, nâng đỡ, điều phối và khuyến khích các gia đình.” Cuộc họp báo hôm Thứ Ba tại Vatican do Đức Tổng Giám Mục Vincenzo Paglia – Chủ tịch Hội đồng Giáo hoàng về Gia đình chủ trì. Ngài đã công bố chủ đề chính thức của Đại Hội kỳ này, đó là: “Phúc Âm của gia đình, Niềm vui cho thế giới” (“The Gospel of family, joy for the world”), và xác nhận thời gian diễn ra là từ ngày 22 đến 26 tháng 8 năm 2018, tại Dublin. Việc chuẩn bị và cử hành Đại Hội Gia Đình Thế Giới 2018 lấy cảm hứng từ Tông huấn Amoris Laetitia (Niềm vui Yêu thương) của Đức Giáo Hoàng Phanxicô cùng với nội dung Thượng Hội Đồng về Gia đình vừa diễn ra. Các tài liệu hậu Thượng Hội Đồng “không đơn thuần là những cập nhật về việc chăm sóc mục vụ gia đình, nhưng còn nhiều hơn thế nữa – đó là trình bày một lối sống mới của Giáo Hội, một phương pháp mới để thực thi yêu thương trong đời sống dân Chúa, trong gia đình và xã hội để được hạnh phúc”, đây cũng sẽ là “một cột mốc quan trọng trong việc áp dụng những thành quả của Thượng Hội Đồng”, Đức Tổng Giám Mục Paglia nhận định. Về phần Giáo Hội tại Ireland, ngài cho rằng sự kiện “sẽ đánh dấu khoảnh khắc chuyển mình tinh tế”, giúp cho đất nước này “phục hồi sức mạnh, năng lượng và lòng nhiệt thành truyền giáo qua việc tái khám phá ơn gọi và sứ mạng của các gia đình.” Trong khi đó, Đức Tổng Giám Mục Eamon Martin của Giáo phận Armagh (Iraland) hào hứng đón nhận và cảm ơn Đức Thánh Cha Phanxicô “vì đã có một lựa chọn đầy cảm hứng về chủ đề của Đại Hội.” “Sau Đại Hội Giới Trẻ Thế Giới tại Krakow vào tháng Bảy năm nay, Đại Hội Gia Đình Thế Giới ở Dublin vào năm 2018 sẽ là sự kiện toàn cầu tiếp theo của Giáo Hội hoàn vũ. Giáo Hội Công Giáo tại Ireland may mắn khi được chọn làm nơi tổ chức. Đây là sự kiện đức tin dồi dào đặc biệt dành cho các gia đình”, ngài nói. (Theo Tiền Hô, Vietcatholic News, Catholic Herald)

Bí mật thứ ba của Fatima đã được công bố trọn vẹn

(22/5/16)-  Đức nguyên  Giáo Hoàng Bênêđictô XVI khẳng định ngài không bao giờ nói với bất cứ ai rằng việc công bố “bí mật thứ ba của Fatima” vào năm 2000 là không đầy đủ, và xác nhận rằng bí mật Fatima đã được công bố trọn vẹn. Hôm thứ Bảy 21-05-2016, Phòng Báo chí Toà Thánh đã ra một thông cáo bác bỏ điều bịa đặt của nhiều bài báo nói về “Bí mật thứ ba của Fatima”. Thông cáo viết: “Mới đây có một số bài báo, trong đó có những tuyên bố được cho là của giáo sư Ingo Dollinger nói rằng sau khi Bí mật thứ ba của Fatima được công bố (hồi tháng Sáu năm 2000), Đức Hồng Y  Ratzinger đã tâm sự với ông rằng việc công bố ấy không đầy đủ. Về vấn đề này, Đức nguyên Giáo hoàng Bênêđictô XVI quả quyết rằng ‘ngài không bao giờ nói với giáo sư Dollinger về Fatima’ và khẳng định rõ ràng rằng những nhận định được cho là giáo sư Dollinger về vấn đề này ‘là hoàn toàn bịa đặt, tuyệt đối không đúng sự thật”, và ngài xác nhận dứt khoát rằng ‘việc công bố bí mật thứ ba của Fatima là trọn vẹn’. Trong khoảng từ tháng 5 đến tháng 10, 1917, Đức Trinh Nữ Maria đã hiện ra sáu lần cho ba trẻ em ở Bồ Đào Nha là: Lucia, Giacinta và Phanxicô. Lucia, sau này trở thành nữ tu Lucia de Jesus Rosa Santos, cho biết: vào ngày 13 tháng Bảy 1917, Đức Mẹ đã trao cho ba trẻ em ba bí mật Fatima. Các bí mật này sau đó được chị viết ra giấy và trình cho Đức Giáo Hoàng. Bí mật thứ ba không được công bố cùng với hai bí mật đầu, nhưng được Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II quyết định công bố vào dịp Đại Năm Thánh 2000.                        (Theo Minh Đức, hdgmvn.org, Vatican Radio)

Đức Thánh Cha Phanxicô mời gọi các tín hữu hiệp lòng với người Công giáo Trung Quốc

(23/05/16)-  Trong buổi đọc kinh Truyền Tin trưa Chúa nhật 22-05-2016, Đức Thánh Cha Phanxicô đã mời gọi các tín hữu hãy hiệp thông với người Công giáo Trung Quốc trong ngày lễ kính Đức Trinh nữ Maria với tước hiệu “Đức Bà phù hộ các giáo hữu”, vào ngày thứ Ba 24-05-2016 sắp tới. Tại Trung Quốc, Đền thánh Xà Sơn ở Thượng Hải là nơi đặc biệt tôn kính “Đức Bà phù hộ các giáo hữu”. Vào dịp này, Đức Thánh Cha cầu xin Đức Mẹ ban cho “các con cái của Mẹ tại Trung Quốc luôn biết nhận ra dấu chỉ sự hiện diện yêu thương của Chúa, Đấng hằng đón nhận và thứ tha”. Đức Thánh Cha cũng bày tỏ ước mong rằng trong Năm thánh Lòng thương xót này, người Công giáo Trung Quốc và cả những ai “theo các truyền thống tôn giáo cao quý khác” sẽ “trở nên những dấu chỉ cụ thể của tình bác ái và hòa giải”. Như thế, họ mới có thể cổ vũ “cho một nền văn hóa đích thực của sự gặp gỡ và hài hòa trong mọi xã hội.” Đức Thánh Cha cũng nhắc đến Hội nghị Thượng đỉnh thế giới về lòng nhân đạo nhóm họp vào ngày thứ Hai 23-05 tại Istanbul (Thổ Nhĩ Kỳ). Hội nghị nhằm tìm ra các biện pháp giải quyết “các tình trạng bi đát của con người gây nên bởi các cuộc xung đột, các vấn đề về môi trường và sự cùng khổ”. Đức Thánh Cha kêu gọi cầu nguyện cho các tham dự viên Hội nghị dấn thân hết mình trong việc “thể hiện mục tiêu nhân đạo chính yếu: cứu vớt cuộc sống của mỗi con người không loại trừ một ai nhất là những kẻ vô tội và những kẻ không có khả năng tự vệ.”. (Theo Mai Tâm, baoconggiao.com, WHD)

Cha Phó Đại Diện Liên Lạc

  Cộng Đồng Công Giáo Việt Nam – Tổng Giáo Phận Los Angeles xin chân thành cảm ơn Cha Giuse-Maria Nguyễn Tuấn Long đã giúp CĐCGVN TGP/LA về mọi phương diện, đặc biệt đã hy sinh đảm nhận vai trò Phó Đại Diện Liên Lạc cho Cộng Đồng Công Giáo trong năm vừa qua! Vì nhu cầu Mục Vụ của Giáo Xứ, nên cha đã xin được nghỉ. Xin Chúa luôn đồng hành với ngài trong Mục Vụ của Giáo Xứ. Chúng con cũng tạ ơn Chúa! Ngài đã mời cha Phaolô Trần Bá Hùng, hiện đang là Chánh Xứ Giáo Xứ Nativity, Torrance, để tiếp tục cùng làm việc với CĐCGVN TGPLA trong Mục Vụ được nêu trên. Cảm ơn cha đã nhận lời để chu toàn Mục Vụ cho CĐCGVN TGPLA! Lm. Gioan Martin Trần Chí Hiếu Đại Diện Liên Lạc

Một Cách Truyền Giáo

Tuần báo Midnight-Globe xuất bản tại Hoa Kỳ, có thuật lại một phương thức làm việc tông đồ của một tín hữu Kitô như sau: mỗi ngày, trừ ngày Chúa Nhật, ông Jewel Pierce đều ra bờ sông Coosa, gần chỗ ông ở, tại bang Alabama. Ông ném xuống sông hai chai không, trong đó ông để một mảnh giấy ghi lại một câu kinh thánh nói về tình thương, hay một sứ điệp tương tự, kèm theo đó là lời đề nghị sẵn sàng giúp đỡ tất cả những ai cần đến sự giúp đỡ của ông về tinh thần cũng như vật chất. Những chai không được bít kín, theo dòng sông lại chạy ra biển khơi cách đó 15 cây số. Trong vòng 40 năm, ông Jewel Pierce đã gửi đi được 27,000 sứ điệp tình thương Kitô như thế, kèm theo địa chỉ của ông. Ðã có hơn 2,000 người thuộc 30 quốc gia khác nhau đã viết thư trả lời và rất nhiều người đã đọc được những lời đầy hy vọng của sứ điệp Kitô. Một vị Giám mục Việt Nam đã thuật lại chứng từ sau đây: Tại một làng nhỏ ở miền thượng du Bắc Việt, toàn dân làng là người Công Giáo, nhưng từ 20 năm qua, họ không có Linh mục coi sóc. Dù vậy, các tín hữu vẫn tổ chức các buổi đọc kinh và hát thánh ca tại nhà thờ. Ðây cũng là nơi họ tổ chức các lễ cưới và rửa tội một cách trọng thể. Dù gặp nhiều khó khăn, nhưng dân làng vẫn sống trong an vui và bình thản. Tiếng đồn về niềm vui của dân làng này đến tai một làng sơn cước. Do đó, dân làng sơn cước này yêu cầu những người Công Giáo cho người đến dạy họ các bài kinh và thánh ca để họ cũng tìm được niềm vui. Nhưng dân làng Công Giáo không tìm được ai: người lớn thì phải đi làm việc đồng áng, trẻ em thì phải đi học, còn người già cả thì không đủ sức băng rừng leo núi để đến giúp người sơn cước. Chỉ có một người thuộc kinh bổn, thánh ca và biết các nghi thức tôn giáo. Người đó lại là một người mù. Sau khi bàn bạc với nhau, dân làng sơn cước đã đồng ý sai người dẫn hai con ngựa đi rước người mù. Người tín hữu tàn tật này đã ở lại với dân làng 4 tháng. Cứ mỗi tối, sau khi làm việc trở về, dân làng tụ họp với nhau, nay nhà này, mai nhà khác, để tập đọc kinh và hát thánh ca. Sau một thời gian, người giảng viên giáo lý mù khảo sát và làm phép rửa cho người dân làng đầu tiên. Và người tân tòng này lại rửa tội cho những người khác và cứ như thế cho đến người cuối cùng. Phương pháp làm việc tông đồ của làng Công Giáo trên đây là phương pháp đơn sơ, nhưng cốt yếu của Kitô giáo: đó là rao giảng bằng chính chứng từ của cuộc sống, nhất là cuộc sống an bình và vui tươi. (R. Veritas)