Suy Niệm – CN. 29 Thường Niên – Oct. 22, – Năm A

Giuse
by

Suy Niệm: Nước Do Thái thời Đức Giêsu đang bị đế quốc Rô-ma cai trị. Dân Do Thái phải đóng thuế cho đế quốc. Trong nước Do thái lúc đó có hai khuynh hướng chính trị đối lập thù nghịch nhau:

– Đảng Hê-rốt thân chính quyền: Gồm những đảng viên của vua Hê-rô-đê, chủ trương theo đế quốc để bảo vệ ngai vàng nhà vua và để được hưởng các đặc quyền đặc lợi do đế quốc ban cho. Họ buộc dân chúng phải đóng thuế cho ngoại bang Rô-ma. Trong tôn giáo phái Sa-đốc gồm hầu hết các tư tế phục vụ Đền thờ Giê-ru-sa-lem đều có lập trường thân chính quyền để được yên thân lo việc tế tự.

– Đảng Zê-lốt chống chính quyền: Gồm những người yêu nước và bất phục đế quốc Rô-ma. Họ thường tổ chức nổi dậy chống lại quân đội Rô-ma và kêu gọi dân chúng không nộp thuế cho Rô-ma. Trong tôn giáo có phái Pha-ri-sêu cũng gọi là Biệt Phái thuộc phe này.

Xã hội Do thái bị phân hóa thành hai phe: Phe thân chính quyền thì bị dân chúng oán ghét tẩy chay. Còn Phe chống chính quyền thì được dân chúng kính nể, nhưng lại bị chính quyền Rô-ma theo dõi và gây khó dễ. Trong bối cảnh này, chủ trương nộp thuế hay không nộp là một vấn đề nhạy cảm đối với dân chúng Do thái.

 CÁI BẪY ĐƯỢC GIƯƠNG RA:  – Thời Đức Giê-su ra giảng đạo : Dân Do thái ngoài bổn phận nộp thuế Đền Thờ, còn phải chịu ba loại thuế khác nộp cho chính quyền Rô-ma là: thuế ruồng đất; thuế lợi tức và thuế thân.

– Luật thuế thân của Rô-ma qui định công dân cả nam lẫn nữ tuổi từ 14 đến 65 đều phải đóng thuế thân hàng năm tương đương với một ngày công nhật của một thợ.

– “Có được phép nộp thuế cho Xê-da hay không ?”: Đây là câu hỏi hóc búa do hai đảng đối lập nhau về chính trị nhưng lại đồng quan điểm chống đối Đức Giê-su là đảng Hê-rô-đê và Biệt Phái. Hai nhóm này cùng nhau đến gặp và đặt ra để đưa Đức Giê-su vào thế bí: Người trả lời theo hướng nào cũng đều bất lợi cho Người: Nếu Đức Giê-su trả lời phải nộp thuế cho đế quốc, thì phái Pha-ri-sêu vốn có lòng ái quốc sẽ rêu rao Đức Giê-su chỉ là hạng bán nước cầu vinh, là tay sai của ngoại bang để bóc lột đồng bào. Như vậy dân Do Thái sẽ không còn tin Người là Đấng Thiên Sai mà họ đang trông mong để giải phóng dân Do thái khỏi ách thống trị của ngoại bang Ro-ma. Còn nếu Đức Giê-su trả lời không được nộp thuế cho Xê-da, thì đảng Hê-rô-đê thân chính quyền sẽ chụp mũ cho Người là phản động, xách động quần chúng đừng nộp thuế cho Rô-ma, để quan Tổng trấn Rô-ma sẽ có cớ bắt bớ kết án phản nghich cho Người.

 CÂU TRẢ LỜI CỦA ĐỨC GIÊ-SU:  Trước hết Đức Giê-su đã vạch trần âm mưu đen tối của họ khi nói: “Tại sao các người lại thử tôi, hỡi những kẻ giả hình !” Rồi Người đòi họ đưa ra đồng tiền nộp thuế là loại tiền nào. Đây là đồng tiền bằng bạc, trên có khắc hình và tên hiệu của Xê-da tức là Hoàng đế Rô-ma. Khi được Đức Giê-su hỏi hình và tên hiệu là của ai, họ thưa: “Của Xê-da”. Dĩ nhiên, Đức Giê-su đã biết rõ hình đó là của Xê-da, nhưng Người muốn chính miệng họ nói ra điều này, để cho thấy: Một khi họ đã chấp nhận sử dụng đồng tiền của Rô-ma, tức là họ đã mặc nhiên công nhận quyền cai trị của ngoại bang và đã coi Xê-da là hoàng đế của mình rồi. Từ đó, Đức Giê-su tuyên bố hai nguyên tắc quan trọng về cách ứng xử trong lãnh vực chính trị nhậy cảm như sau:

– “Của Xê-da trả về cho Xê-da”: nghĩa là phải trả cho Hoàng đế Rô-ma đồng tiền mang hình và danh hiệu của ông ta. Khi đã chấp nhận quyền cai trị của Xê-da, thì đương nhiên cũng phải chu toàn bổn phận đóng thuế cho Xê-da ! Đây là đáp án cho câu hỏi “Có được phép nộp thuế cho Xê-da hay không ?”.

– “Của Thiên Chúa, trả về Thiên Chúa” (Mt 22,21): Tuy bọn người này không hỏi về bổn phận đối với Thiên Chúa, nhưng Đức Giê-su vẫn đề cập đến điều này: Phải trả lại cho Thiên Chúa những gì mang dấu ấn của Người. Đây là một bổn phận quan trọng mà những ai muốn trở nên con thảo của Thiên Chúa không thể bỏ qua được.

 CỦA XÊ-DA, TRẢ VỀ XÊ-DA, CỦA THIÊN CHÚA, TRẢ VỀ THIÊN CHÚA:  – Phục tùng chính quyền: Cần phải xác định rằng: Trước khi được chịu phép rửa tội để trở nên con Thiên Chúa và con Hội thánh, các tín hữu đã là công dân của nước trần thế khi cha mẹ làm giấy khai sinh cho ta. Giữa người công dân trần thế và công dân Nước Trời không có khác biệt mâu thuẫn với nhau, và « Mọi người dân đều bình đẳng trước pháp luật ». Mọi người đều có bổn phận và quyền lợi như nhau trong đất nước của mình đã được Hiến Pháp và luật pháp quy định, như quyền: tự do cư trú, tự do tín ngưỡng, quyền được bảo vệ tài sản tính mạng, quyền ứng cử và bầu cử… Nhưng bên cạnh đó, chúng ta cũng có bổn phận phải thi hành nghĩa vụ công dân như: đóng thuế, bảo vệ an ninh tổ quốc… Như vậy những ai vi phạm các nghĩa vụ công dân vừa có tội với đất nước, lại vừa lỗi giới răn Thiên Chúa, như Tông đồ Phao-lô đã dạy: “Mỗi người phải phục tùng chính quyền, vì không có quyền bính nào mà không bởi Thiên Chúa, và những quyền bính hiện hữu là do Thiên Chúa thiết lập” (Rm 13,1; x. Ga 19,11a).

– Phải vâng lời Thiên Chúa: Trừ phi thế quyền buộc các tín hữu chối bỏ đức tin, thì họ có quyền áp dụng nguyên tắc do Tông đồ Phê-rô nói trước Thượng Hội Đồng Do Thái: “Phải vâng lời Thiên Chúa hơn là vâng lời người phàm” (Cv 5,29).

– Sống “Tốt đạo đẹp đời”: Người tín hữu công giáo cần luôn ý thức mình đang sống trong thế gian nhưng không thuộc về trần gian như lời Chúa Giê-su đã cầu nguyện cho các môn đệ trong đó có các tín hữu chúng ta hôm nay: “Con không còn ở trong thế gian nữa, nhưng họ, họ ở trong thế gian” (Ga 17,11); “Con không xin Cha cất họ khỏi thế gian, nhưng xin Cha gìn giữ họ khỏi ác thần. Họ không thuộc về thế gian, cũng như con đây không thuộc về thế gian” (Ga 17,15-16).

– Chu toàn hai bổn phận với Chúa và với đất nước: Là công dân của Nước Trời, chúng ta cũng được hưởng những quyền lợi thiêng liêng tinh thần là chu toàn bổn phận đối với Thiên Chúa, như tôn trọng các công trình do Người sáng tạo, nhất là tôn trọng tha nhân là tạo vật do Chúa dựng nên giống hình ảnh Người (x. St 1,26), và “bảo vệ sự sống”. Bên cạnh đó, chúng ta còn có bổn phận phải giúp mọi người nhận biết Thiên Chúa là Đấng Tạo Hóa, và chu toàn bổn phận như con cái hiếu thảo của Thiên Chúa. Ngoài ra chúng ta cũng phải tôn trọng và bảo về các tài nguyên môi trường do Thiên Chúa sáng tạo như tránh phá rừng, xả khói vào không trung phá hủy tầng Ô-dôn bảo về sự sống trên trái đất. Chu toàn nhiệm vụ đóng thuế cho đất nước mình là thành viên. Nhất là phải làm lợi gấp đôi những nén vàng Chúa trao như: sức khoẻ, thời giờ, tiền bạc, tài năng… để “làm vinh danh cho Thiên Chúa và phục vụ hạnh phúc cho đồng bào”. Đó là trách nhiệm bác ái mà mọi tín hữu đều phải thực hiện để được vào Nước Trời đời sau (x. Mt 25,41-45)

 

Cầu Nguyện: LẠY THIÊN CHÚA LÀ CHA ĐẦY LÒNG NHÂN ÁI. Xin cho chúng con quyết tâm noi gương Đức Giê-su là “Con yêu dấu luôn làm đẹp lòng Cha”. Xin cho chúng con có lòng bao dung nhân hậu để đón nhận tha nhân là anh chị em của mình. Xin cho chúng con biết chia sẻ hạnh phúc được làm con Cha cho những người chưa nhận biết và tôn thờ Cha. Xin cho chúng con luôn biết khiêm hạ tôn trọng phục vụ tha nhân noi gương con Cha là Chúa Giê-su. Xin cho chúng con dám yêu đến cùng và cho đi tất cả để xứng đáng được Cha tha thứ lỗi lầm, và ban thưởng Nước Trời đời đời cho chúng con.

 LẠY CHÚA GIÊ-SU: Trong Tin Mừng hôm nay, khi nói: “Của Xê-da trả về Xê-da”, Chúa đã dạy chúng con phải biết yêu mến và xây dựng tổ quốc trần gian bằng việc chu toàn các nghĩa vụ công dân. Nhưng Chúa cũng nhắc chúng con phải ý thức chu tòan bổn phận đối với Chúa Cha trên trời khi nói thêm: “Của Thiên Chúa, trả về Thiên Chúa”. Xin cho chúng con luôn ý thức rằng: Dù đang sống giữa thế gian, nhưng chúng con không thuộc về trần gian như lời Thánh Phao-lô: “Quê hương chúng ta ở trên trời, và chúng ta nóng lòng mong đợi Đức Giê-su Ki-tô từ trời đến cứu chúng ta” (Pl 3,20). Do đó, ngay từ bây giờ, Chúa muốn chúng con phải biết chu toàn bổn phận mến Chúa yêu người theo gương Chúa làm và lời Chúa dạy.

 Chúa Nhật 29 – Thường Niên – Năm A

 

Bài Ðọc I: Is 45, 1. 4-6

“Ta đã cầm tay hữu của Cyrô để bắt các dân suy phục trước mặt nó”.

Bài trích sách Tiên tri Isaia.

Ðây Chúa phán cùng Cyrô, kẻ xức dầu của Chúa mà Ta đã cầm tay hữu nó, để bắt các dân suy phục trước mặt nó, bắt các vua quay lưng lại, mở các cửa trước mặt nó, và các cửa không được đóng lại:

Nhân vì Giacóp tôi tớ Ta, và Israel kẻ Ta kén chọn, Ta đã gọi đích danh ngươi: Ta đã kêu gọi ngươi khi ngươi không nhận biết Ta. Ta là Chúa, và chẳng còn chúa nào khác: ngoài Ta ra, không có Thiên Chúa nào nữa. Ta đã thắt lưng cho ngươi khi ngươi không nhận biết Ta, để các kẻ từ đông sang tây nhận biết rằng ngoài Ta ra không có ai khác: Ta là Chúa, và chẳng có chúa nào khác.

Ðó là lời Chúa.

 

   Ðáp Ca: Tv 95, 1 và 3. 4-5. 7-8. 9-10a và c

Ðáp: Hãy kính tặng Thiên Chúa quyền thế với vinh quang (c. 7b).

Xướng: 1) Hãy ca mừng Thiên Chúa bài ca mới, hãy ca mừng Thiên Chúa, hỡi toàn thể địa cầu. Hãy tường thuật vinh quang Chúa giữa chư dân, và phép lạ Người ở nơi vạn quốc. – Ðáp.

2) Vì Thiên Chúa, Người hùng vĩ và rất đáng ngợi khen, Người khả uý hơn mọi bậc chúa tể. Vì mọi chúa tể của chư dân là hư ảo, nhưng Thiên Chúa đã tác tạo trời xanh. – Ðáp.

3) Hãy kính tặng Thiên Chúa, hỡi người chư dân bá tánh, hãy kính tặng Thiên Chúa quyền thế với vinh quang, hãy kính tặng Thiên Chúa vinh quang xứng với danh Người. Hãy mang lễ vật, tiến vào hành lang nhà Chúa. – Ðáp.

4) Mặc lễ phục, thờ lạy Thiên Chúa. Toàn thể địa cầu, hãy run sợ trước thiên nhan, hãy công bố giữa chư dân rằng Thiên Chúa ngự trị. Người cai quản chư dân theo đường đoan chính. – Ðáp.

  

Bài Ðọc II: 1 Tx 1, 1-5b

“Tôi hằng nhớ đến đức tin, đức cậy và đức mến của anh em”.

Khởi đầu thư thứ nhất của Thánh Phaolô Tông đồ gửi tín hữu Thêxalônica.

Phaolô, Silvanô và Timôthêu kính gửi giáo đoàn thành Thêxalônica trong Thiên Chúa Cha và trong Chúa Giêsu Kitô. Nguyện chúc cho anh em được ân sủng và bình an.

Tôi hằng tạ ơn Thiên Chúa cho mọi người anh em, trong khi tôi cầu nguyện, tôi hằng nhớ đến anh em không ngừng; tôi nhớ đến sự nghiệp của lòng tin, công việc của lòng bác ái, sự vững lòng trông cậy của anh em vào Ðức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, trước mặt Thiên Chúa là Cha chúng ta. Hỡi anh em là những kẻ được Thiên Chúa yêu mến, tôi từng biết anh em được Chúa tuyển chọn, bởi vì Tin Mừng của chúng tôi ở nơi anh em, không phải chỉ với lời nói mà thôi, mà là với quyền năng, với Thánh Thần và với lòng xác tín.

Ðó là lời Chúa.

 

   Alleluia: Ga 10, 27

Alleluia, alleluia! – Chúa phán: “Con chiên Ta thì nghe tiếng Ta; Ta biết chúng và chúng theo Ta”. – Alleluia.

 

   Phúc Âm: Mt 22, 15-21

“Cái gì của Cêsarê thì hãy trả cho ông Cêsarê, và cái gì của Thiên Chúa thì hãy trả cho Thiên Chúa”.

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Matthêu.

Khi ấy, các người biệt phái họp nhau lại bàn mưu để bắt bẻ Chúa Giêsu trong lời nói. Các ông sai môn đồ của các ông đi với những người thuộc phái Hêrôđê đến nói với Người rằng: “Thưa Thầy, chúng tôi biết Thầy là người ngay chính, căn cứ theo sự thật mà dạy bảo đường lối Thiên Chúa. Thầy chẳng cần để ý đến ai, vì Thầy không tây vị người nào. Vậy xin Thầy nói cho chúng tôi biết Thầy nghĩ thế nào: Có được phép nộp thuế cho Cêsarê hay không?” Chúa Giêsu thừa hiểu ác ý của họ, nên nói: “Bọn người giả hình, các ngươi gài bẫy Ta làm gì? Hãy đưa Ta xem đồng tiền nộp thuế”. Họ đưa cho Người một đồng bạc. Và Chúa Giêsu hỏi họ: “Hình tượng và danh hiệu này là của ai?” Họ thưa rằng: “Của Cêsarê”. Bấy giờ Người bảo họ rằng: “Vậy, cái gì của Cêsarê thì hãy trả cho Cêsarê, và cái gì của Thiên Chúa thì hãy trả cho Thiên Chúa”.

Ðó là lời Chúa.

 

Gospel Mt 22,15-21

 The Pharisees went off
and plotted how they might entrap Jesus in speech.
They sent their disciples to him, with the Herodians, saying,
“Teacher, we know that you are a truthful man
and that you teach the way of God in accordance with the truth.
And you are not concerned with anyone’s opinion,
for you do not regard a person’s status.
Tell us, then, what is your opinion:
Is it lawful to pay the census tax to Caesar or not?”
Knowing their malice, Jesus said,
“Why are you testing me, you hypocrites?
Show me the coin that pays the census tax.”
Then they handed him the Roman coin.
He said to them, “Whose image is this and whose inscription?”
They replied, “Caesar’s.”
At that he said to them,
“Then repay to Caesar what belongs to Caesar
and to God what belongs to God.”

Daily Reading & Meditation

Sunday (October 22): “Give to God what belongs to God”
Gospel reading: Matthew 22:15-21

15 Then the Pharisees went and took counsel how to entangle him  in his talk. 16 And they sent their disciples to him, along with the Herodians, saying, “Teacher, we know that you are true, and teach the way of God truthfully, and care for no man; for you do not regard the position of men. 17 Tell us, then, what you think. Is it lawful to pay taxes to Caesar, or not?” 18 But Jesus, aware of their malice, said,, “Why put me to the test, you hypocrites? 19 Show me the money for the tax.”  And they brought him a coin. 20 And Jesus said to them, “Whose likeness and inscription is this?”  21 They said, “Caesar’s.” Then he said to them, “Render therefore to Caesar the things that are Caesar’s, and to God the things that are God’s.” 22 When they heard it, they marveled; and they left him and went away.

Meditation: What do we owe God and our neighbor? Scripture tells us to give to everyone whatever is their due and to “owe no one anything, except to love one another” (Romans 13:6-8). The Jewish authorities sought to trap Jesus in a religious-state issue. The Jews resented their foreign rulers and despised paying taxes to Caesar. They posed a dilemma to test Jesus to see if he was loyal to them and to their understanding of religion. If Jesus answered that it was lawful to pay taxes to a pagan ruler, then he would lose credibility with the Jewish nation who would regard him as a coward and a friend of Caesar. If he said it was not lawful, then the Pharisees would have grounds to report him to the Roman authorities as a political trouble-maker and have him arrested.

Coins inscribe the owner’s name and authority on them
Jesus avoided their trap by confronting them with the image of a coin. Coinage in the ancient world had significant political power. Rulers issued coins with their own image and inscription on them. In a certain sense the coin was regarded as the personal property of the ruler. Where the coin was valid the ruler held political sway over the people. Since the Jews used the Roman currency, Jesus explained that what belonged to Caesar must be given to Caesar.

We have been “stamped” with God’s image and likeness
This story has another deeper meaning as well. We, too, have been stamped with God’s image since we are created in his own likeness – “God created man in his own image ..male and female he created them” (Genesis 1:26-27). We rightfully belong not to ourselves, but to God who created us and redeemed us in the precious blood of his Son, our Lord Jesus Christ (see 1 Corinthians 6:19-20).  Paul the Apostle says that we are to present our bodies as a living sacrifice to God (Romans 12:1).  Do you acknowledge that your life and everything you possess belongs to God and not to yourself? And do you give to God what rightfully belongs to him?

“Lord, because you have made me, I owe you the whole of my love; because you have redeemed me, I owe you the whole of myself; because you have promised so much, I owe you all my being. Moreover, I owe you as much more love than myself as you are greater than I, for whom you gave yourself and to whom you promised yourself. I pray you, Lord, make me taste by love what I taste by knowledge; let me know by love what I know by understanding. I owe you more than my whole self, but I have no more, and by myself I cannot render the whole of it to you. Draw me to you, Lord, in the fullness of love. I am wholly yours by creation; make me all yours, too, in love.”  (prayer of Anselm, 1033-1109 AD)

Psalm 96: 1-10

1 O sing to the LORD a new song; sing to the LORD, all the earth!
2 Sing to the LORD, bless his name; tell of his salvation from day to day.
3 Declare his glory among the nations, his marvelous works among all the peoples!
4 For great is the LORD, and greatly to be praised; he is to be feared above all gods.
5 For all the gods of the peoples are idols; but the LORD made the heavens.
6 Honor and majesty are before him; strength and beauty are in his sanctuary.
7 Ascribe to the LORD, O families of the peoples, ascribe to the LORD glory and strength!
8 Ascribe to the LORD the glory due his name; bring an offering, and come into his courts!
9 Worship the LORD in holy array; tremble before him, all the earth!
10 Say among the nations, “The LORD reigns! Yes, the world is established, it shall never be moved;  he will judge the peoples with equity.”

Daily Quote from the early church fathers: Put off the earthly image and put on the heavenly one, by Origen of Alexandria (185-254 AD)

“Some people think that the Savior spoke on a single level when he said, ‘Give to Caesar what belongs to Caesar’ – that is, ‘pay the tax that you owe.’ Who among us disagrees about paying taxes to Caesar? The passage therefore has a mystical and secret meaning. There are two images in humanity. One he received from God when he was made, in the beginning, as Scripture says in the book of Genesis, ‘according to the image and likeness of God’ (Genesis 1:27). The other image is of the earth (1 Corinthians 15:49). Man received this second image later. He was expelled from Paradise because of disobedience and sin after the ‘prince of this world’ (John 12:31) had tempted him with his enticements. Just as the coin, or denarius, has an image of the emperor of this world, so he who does the works of ‘the ruler of the darkness’ (Ephesians 6:12) bears the image of him whose works he does. Jesus commanded that that image should be handed over and thrown away from our face. He wills us to take on that image, according to which we were made from the beginning, according to God’s likeness. It then happens that we give ‘to Caesar what belongs to Caesar, and to God what is God’s.’ Jesus said, ‘Show me a coin.’ For ‘coin,’ Matthew wrote ‘denarius’ ( Matthew 22:19). When Jesus had taken it, he said, ‘Whose inscription does it have?’ They answered and said, ‘Caesar’s.’ And he said to them in turn, ‘Give to Caesar what is Caesar’s, and to God what is God’s.'” (excerpt from HOMILY ON THE GOSPEL OF LUKE 39.4-6)

 

Share

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *