Suy Niệm – Chúa Nhật 3 Mùa Chay – Mar. 19 – Năm A

Suy Niệm:   Người Do thái thường khinh bỉ và thù nghịch với người Samari. Còn Ðức Giêsu tìm cách tiếp xúc, rao giảng và yêu thương họ. Ngài không kỳ thị và cho họ nhận ra: họ cũng là đối tượng được Thiên Chúa yêu thương. Tất cả mọi người đều được ơn Cứu Ðộ. Ðó là sứ vụ Ðức Giêsu luôn thao thức và mong được hoàn tất. Ðó là lương thực cần thiết để Ngài thi hành trọn ý Cha.

Cầu Nguyện:   Lạy Chúa Giêsu, Chúa đã ban ơn cứu độ cho tất cả mọi người không trừ một ai, với điều kiện chúng con biết nhìn nhận mình tội lỗi, là hư vô và tin vào Chúa. Người phụ nữ Samari, từ người được xin nước trở thành người đi xin nước. Bà xin nước sự sống của Chúa, khi đã nhận ra và tin rằng Chúa là Ðấng Kitô.

  Xin Chúa biến đổi chúng con để từ tình trạng tội lỗi, chúng con được tái sinh trong nước sự sống của Chúa. Amen.

 

 

CHÚA NHẬT 3 Mùa Chay –   NĂM A 

 

  Bài Ðọc I: Xh 17, 3-7

“Xin cho chúng tôi nước để chúng tôi uống”.

Trích sách Xuất Hành.

Trong những ngày ấy, dân chúng khát nước, nên phàn nàn với ông Môsê rằng: “Tại sao ông dẫn dắt chúng tôi ra khỏi Ai-cập, để cho chúng tôi cùng con cái và đoàn súc vật chúng tôi phải chết khát như vầy”. Môsê kêu lên cùng Chúa rằng: “Con sẽ phải làm gì cho dân này? Còn một chút nữa là họ ném đá con rồi”. Chúa liền phán bảo Môsê: “Ngươi hãy tiến lên, đi trước dân chúng và dẫn các bậc kỳ lão Israel đi theo, tay ngươi cầm gậy mà ngươi đã dùng mà đánh trên nước sông. Này đây, Ta sẽ đứng trước mặt ngươi, trên tảng đá Horeb, ngươi sẽ đánh lên tảng đá, từ tảng đá nước sẽ chảy ra cho dân uống”. Môsê làm các điều nói trên trước mặt các bậc kỳ lão Israel. Ông đặt tên nơi đó là “Thử Thách”, vì con cái Israel đã phàn nàn và thách thức Chúa mà rằng: “Chúa có ở với chúng tôi hay không?”

Ðó là lời Chúa.

 

   Ðáp Ca: Tv 94, 1-2. 6-7. 8-9

Ðáp: Ước chi hôm nay các bạn nghe tiếng Người: “Các ngươi đừng cứng lòng!” (c. 8)

Xướng: 1) Hãy tới, chúng ta hãy reo mừng Chúa, hãy hoan hô Ðá Tảng cứu độ của ta! Hãy ra trước thiên nhan với lời ca ngợi, chúng ta hãy xướng ca để hoan hô Người! – Ðáp.

2) Hãy tiến lên, cúc cung bái và sụp lạy, hãy quỳ gối trước nhan Chúa, Ðấng tạo thành ta. Vì chính Người là Thiên Chúa của ta, và ta là dân Người chăn dẫn, là đoàn chiên thuộc ở tay Người. – Ðáp.

3) Ước chi hôm nay các bạn nghe tiếng Người: “Ðừng cứng lòng như ở Mêriba, như hôm ở Massa trong khu rừng vắng, nơi mà cha ông các ngươi đã thử thách Ta, họ đã thử Ta mặc dầu đã thấy công cuộc của Ta”. – Ðáp.

 

   Bài Ðọc II: Rm 5, 1-2. 5-8

“Lòng mến Chúa đổ xuống lòng chúng ta, nhờ Thánh Thần là Ðấng đã được ban cho chúng ta”.

Trích thư Thánh Phaolô Tông đồ gửi tín hữu Rôma.

Anh em thân mến, khi được đức tin công chính hoá, chúng ta được hoà thuận với Chúa nhờ Ðức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, Ðấng cho chúng ta nhờ đức tin mà tiến đến ân sủng, đứng vững ở đó, và được hiển vinh trong niềm hy vọng vinh quang của con cái Chúa. Nhưng cậy trông không làm hổ thẹn, vì lòng mến Chúa đổ vào lòng chúng ta nhờ Thánh Thần là Ðấng đã được ban cho chúng ta. Ngay từ khi chúng ta còn yếu hèn, Chúa Kitô theo kỳ hẹn mà chịu chết vì chúng ta là kẻ tội lỗi. Ít có ai chết thay cho người công chính, hoạ chăng mới có người dám chết vì kẻ lành. Nhưng Thiên Chúa chứng tỏ tình yêu của Người đối với chúng ta, nghĩa là trong lúc chúng ta còn là tội nhân, thì theo kỳ hẹn, Chúa Kitô đã chết vì chúng ta.

Ðó là lời Chúa.

 

   Câu Xướng Trước Phúc Âm: Ga 4, 42 và 15

Lạy Chúa, Chúa thật là Ðấng cứu chuộc thế gian; xin ban cho con nước hằng sống, để con không còn khát nữa.

 

   Phúc Âm: Ga 4, 5-42 (bài dài)

“Mạch nước vọt đến sự sống đời đời”.

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Gioan.

Khi ấy, Chúa Giêsu tới một thành gọi là Sykar thuộc xứ Samaria, gần phần đất Giacóp đã cho con là Giuse, ở đó có giếng của Giacóp. Chúa Giêsu đi đường mệt, nên ngồi nghỉ trên miệng giếng, lúc đó vào khoảng giờ thứ sáu.

Một người đàn bà xứ Samaria đến xách nước, Chúa Giêsu bảo: “Xin bà cho tôi uống nước” (lúc ấy, các môn đệ đã vào thành mua thức ăn). Người đàn bà Samaria thưa lại: “Sao thế! Ông là người Do-thái mà lại xin nước uống với tôi là người xứ Samaria?” (Vì người Do-thái không giao thiệp gì với người Sa-maria).

Chúa Giêsu đáp: “Nếu bà nhận biết ơn của Thiên Chúa ban và ai là người đang nói với bà: “Xin cho tôi uống nước”, thì chắc bà sẽ xin Người, và Người sẽ cho bà nước hằng sống”.

Người đàn bà nói: “Thưa Ngài, Ngài không có gì để múc, mà giếng thì sâu, vậy Ngài lấy đâu ra nước? Phải chăng Ngài trọng hơn tổ phụ Giacóp chúng tôi, người đã cho chúng tôi giếng này và chính người đã uống nước giếng này cũng như các con cái và đoàn súc vật của người?”

Chúa Giêsu trả lời: “Ai uống nước giếng này sẽ còn khát, nhưng ai uống nước Ta sẽ cho thì không bao giờ còn khát nữa, vì nước Ta cho ai thì nơi người ấy sẽ trở thành mạch nước vọt đến sự sống đời đời”. Người đàn bà thưa: “Thưa Ngài, xin cho tôi nước đó để tôi chẳng còn khát và khỏi phải đến đây xách nước nữa”. Chúa Giêsu bảo: “Bà hãy đi gọi chồng bà rồi trở lại đây”. Người đàn bà đáp: “Tôi không có chồng”. Chúa Giêsu nói tiếp: “Bà nói “tôi không có chồng” là phải, vì bà có năm đời chồng rồi, và người đàn ông đang chung sống với bà bây giờ không phải là chồng bà, bà đã nói đúng đó”.

Người đàn bà nói: “Thưa Ngài, tôi thấy rõ Ngài là một tiên tri. Cha ông chúng tôi đã thờ trên núi này, còn các ông, các ông lại bảo: phải thờ ở Giêrusalem”.

Chúa Giêsu đáp: “Hỡi bà, hãy tin Ta, vì đã đến giờ người ta sẽ thờ phượng Chúa Cha, không phải ở trên núi này hay ở Giêrusalem. Các người thờ Ðấng mà các người không biết, còn chúng tôi thờ Ðấng chúng tôi biết, vì ơn cứu độ từ dân Do-thái mà đến. Nhưng đã đến giờ, và chính là lúc này, những kẻ tôn thờ đích thực, sẽ thờ Chúa Cha trong tinh thần và chân lý, đó chính là những người tôn thờ mà Chúa Cha muốn. Thiên Chúa là tinh thần, và những kẻ tôn thờ Người, phải tôn thờ trong tinh thần và trong chân lý”.

Người đàn bà thưa: “Tôi biết Ðấng Messia mà người ta gọi là Kitô sẽ đến, và khi đến, Người sẽ loan báo cho chúng tôi mọi sự”. Chúa Giêsu bảo: “Ðấng ấy chính là Ta, là người đang nói với bà đây”.

Vừa lúc đó các môn đệ về tới. Các ông ngạc nhiên thấy Ngài nói truyện với một người đàn bà. Nhưng không ai dám hỏi: “Thầy hỏi bà ta điều gì, hoặc: tại sao Thầy nói truyện với người đó?” Bấy giờ người đàn bà để vò xuống, chạy về thành bảo mọi người rằng: “Mau hãy đến xem một ông đã nói với tôi tất cả những gì tôi đã làm. Phải chăng ông đó là Ðấng Kitô?” Dân chúng tuôn nhau ra khỏi thành và đến cùng Ngài, trong khi các môn đệ giục Ngài mà rằng: “Xin mời Thầy ăn”. Nhưng Ngài đáp: “Thầy có của ăn mà các con không biết”. Môn đệ hỏi nhau: “Ai đã mang đến cho Thầy ăn rồi chăng?” Chúa Giêsu nói: “Của Thầy ăn là làm theo ý Ðấng đã sai Thầy và chu toàn công việc Ngài. Các con chẳng nói: còn bốn tháng nữa mới đến mùa gặt đó ư? Nhưng Thầy bảo các con hãy đưa mắt mà nhìn xem đồng lúa chín vàng đã đến lúc gặt. Người gặt lãnh công và thu lúa thóc vào kho hằng sống, và như vậy kẻ gieo người gặt đều vui mừng. Ðúng như câu tục ngữ: Kẻ này gieo, người kia gặt. Thầy sai các con đi gặt những gì các con không vất vả làm ra; những kẻ khác đã khó nhọc, còn các con thừa hưởng kết quả công lao của họ”.

Một số đông người Samaria ở thành đó đã tin Người vì lời người đàn bà làm chứng rằng: “Ông ấy đã nói với tôi mọi việc tôi đã làm”. Khi gặp Người, họ xin Người ở lại với họ. Và Người đã ở lại đó hai ngày, và vì nghe chính lời Người giảng dạy, số những kẻ tin ở Người thêm đông hẳn, họ bảo người đàn bà: “Giờ đây, không phải vì những lời chị kể mà chúng tôi tin, nhưng chính chúng tôi đã được nghe lời Người và chúng tôi biết Người thật là Ðấng Cứu Thế”.

Ðó là lời Chúa.

 
   Hoặc đọc bài vắn này: Ga 4, 5-15. 19b-26. 39a. 40-42

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Gioan.

Khi ấy, Chúa Giêsu tới một thành gọi là Sykar thuộc xứ Samaria, gần phần đất Giacóp đã cho con là Giuse, ở đó có giếng của Giacóp. Chúa Giêsu đi đường mệt, nên ngồi nghỉ trên miệng giếng, lúc đó vào khoảng giờ thứ sáu.

Một người đàn bà xứ Samaria đến xách nước, Chúa Giêsu bảo: “Xin bà cho tôi uống nước” (lúc ấy, các môn đệ đã vào thành mua thức ăn). Người đàn bà Samaria thưa lại: “Sao thế! Ông là người Do-thái mà lại xin nước uống với tôi là người xứ Samaria?” (vì người Do-thái không giao thiệp gì với người Samaria).

Chúa Giêsu đáp: “Nếu bà nhận biết ơn của Thiên Chúa ban và ai là người đang nói với bà: “Xin cho tôi uống nước”, thì chắc bà sẽ xin Người, và Người sẽ cho bà nước hằng sống”.

Người đàn bà nói: “Thưa Ngài, Ngài không có gì để múc, mà giếng thì sâu, vậy Ngài lấy đâu ra nước? Phải chăng Ngài trọng hơn tổ phụ Giacóp chúng tôi, người đã cho chúng tôi giếng này, và chính người đã uống nước giếng này cũng như các con cái và đoàn súc vật của người?”

Chúa Giêsu trả lời: “Ai uống nước giếng này sẽ còn khát, nhưng ai uống nước Ta sẽ cho thì không bao giờ còn khát nữa, vì nước Ta cho ai thì nơi người ấy sẽ trở thành mạch nước vọt đến sự sống đời đời”. Người đàn bà thưa: “Thưa Ngài, xin cho tôi nước đó để tôi chẳng còn khát, và khỏi phải đến đây xách nước nữa”.

Và người đàn bà nói với Chúa Giêsu: “Thưa Ngài, tôi thấy rõ Ngài là một tiên tri. Cha ông chúng tôi đã thờ trên núi này, còn các ông, các ông lại bảo: phải thờ ở Giêrusalem”. Chúa Giêsu đáp: “Hỡi bà, hãy tin Ta, vì đã đến giờ người ta sẽ thờ phượng Chúa Cha, không phải ở trên núi này hay ở Giêrusalem. Các người thờ Ðấng mà các người không biết, còn chúng tôi thờ Ðấng chúng tôi biết, vì ơn cứu độ từ dân Do-thái mà đến. Nhưng đã đến giờ, và chính là lúc này, những kẻ tôn thờ đích thực, sẽ thờ Chúa Cha trong tinh thần và chân lý, đó chính là những người tôn thờ mà Chúa Cha muốn. Thiên Chúa là tinh thần, và những kẻ tôn thờ Người, phải tôn thờ trong tinh thần và trong chân lý”.

Người đàn bà thưa: “Tôi biết Ðấng Messia mà người ta gọi là Kitô sẽ đến, và khi đến, Người sẽ loan báo cho chúng tôi mọi sự”. Chúa Giêsu bảo: “Ðấng ấy chính là Ta, là người đang nói với bà đây”.

Một số đông người Samaria ở thành đó đã tin Người vì lời người đàn bà làm chứng. Khi gặp Người, họ xin Người ở lại với họ. Và Người đã ở lại đó hai ngày, và vì nghe chính lời Người giảng dạy, số những kẻ tin ở Người thêm đông hẳn, họ bảo người đàn bà: “Giờ đây, không phải vì những lời chị kể mà chúng tôi tin, nhưng chính chúng tôi đã được nghe lời Người và chúng tôi biết Người thật là Ðấng Cứu Thế”.

Ðó là lời Chúa.

 

Jn 4:5-15, 19b-26, 39a, 40-42

Jesus came to a town of Samaria called Sychar, near the plot of land that Jacob had given to his son Joseph.
Jacob’s well was there.
Jesus, tired from his journey, sat down there at the well.
It was about noon.

A woman of Samaria came to draw water.
Jesus said to her,
“Give me a drink.”
His disciples had gone into the town to buy food.
The Samaritan woman said to him,
“How can you, a Jew, ask me, a Samaritan woman, for a drink?”
—For Jews use nothing in common with Samaritans.—
Jesus answered and said to her,
“If you knew the gift of God
and who is saying to you, ‘Give me a drink, ‘
you would have asked him
and he would have given you living water.”
The woman said to him,
“Sir, you do not even have a bucket and the cistern is deep;
where then can you get this living water?
Are you greater than our father Jacob,
who gave us this cistern and drank from it himself
with his children and his flocks?”
Jesus answered and said to her,
“Everyone who drinks this water will be thirsty again;
but whoever drinks the water I shall give will never thirst;
the water I shall give will become in him
a spring of water welling up to eternal life.”
The woman said to him,
“Sir, give me this water, so that I may not be thirsty
or have to keep coming here to draw water.

“I can see that you are a prophet.
Our ancestors worshiped on this mountain;
but you people say that the place to worship is in Jerusalem.”
Jesus said to her,
“Believe me, woman, the hour is coming
when you will worship the Father
neither on this mountain nor in Jerusalem.
You people worship what you do not understand;
we worship what we understand,
because salvation is from the Jews.
But the hour is coming, and is now here,
when true worshipers will worship the Father in Spirit and truth;
and indeed the Father seeks such people to worship him.
God is Spirit, and those who worship him
must worship in Spirit and truth.”
The woman said to him,
“I know that the Messiah is coming, the one called the Christ;
when he comes, he will tell us everything.”
Jesus said to her,
“I am he, the one who is speaking with you.”

Many of the Samaritans of that town began to believe in him.
When the Samaritans came to him,
they invited him to stay with them;
and he stayed there two days.
Many more began to believe in him because of his word,
and they said to the woman,
“We no longer believe because of your word;
for we have heard for ourselves,
and we know that this is truly the savior of the world.”

Daily Reading & Meditation

Sunday (March 19): A spring of water welling up to eternal life
Gospel Reading: John 4:5-42

5 So he came to a city of Samaria, called Sychar, near the field that Jacob gave to his son Joseph.  6 Jacob’s well was there, and so Jesus, wearied as he was with his journey, sat down beside the well. It was about the sixth hour. 7 There came a woman of Samaria to draw water. Jesus said to her, “Give me a drink.”  8 For his disciples had gone away into the city to buy food. 9 The Samaritan woman said to him, “How is it that you, a Jew, ask a drink of me, a woman of Samaria?” For Jews have no dealings with  Samaritans.  10 Jesus answered her, “If you knew the gift of God, and who it is that is saying to you, `Give me a drink,’ you would have asked him, and he would have given you living water.”  11 The woman said to him, “Sir, you have nothing to draw with, and the well is deep; where do you get that living water?  12 Are you greater than our father Jacob, who gave us the well, and drank from  it himself, and his sons, and his cattle?”  13 Jesus said to her, “Every one who drinks of this water will thirst again, 14 but whoever drinks of the water that I shall give him will never thirst; the water that I shall give him will become in him a spring of water welling up to eternal life.”  15 The woman said to him, “Sir, give me this water, that I may not thirst, nor come here to draw.” 16 Jesus said to her, “Go, call your husband, and come here.”

17 The woman answered him, “I have no husband.” Jesus said to her, “You are right in saying, `I have no husband’; 18 for you have had five husbands, and he whom you now have is not your husband; this you said truly.” 19 The woman said to him, “Sir, I perceive that you are a prophet. 20 Our fathers worshiped on this mountain; and you say that in Jerusalem is the place where men ought to worship.” 21 Jesus said to her, “Woman, believe me, the hour is coming when neither on this mountain nor in Jerusalem will you worship the Father.  22 You worship what you do not know; we worship what we know, for salvation is from the Jews. 23 But the hour is coming, and now is, when the true worshipers will worship the Father in spirit and truth, for such the Father seeks to worship him. 24 God is spirit, and those who worship him must worship in spirit and truth.”  25 The woman said to him, “I know that Messiah is coming (he who is called Christ); when he comes, he will show us all things.” 26 Jesus said to her, “I who speak to you am he.”

27 Just then his disciples came. They marveled that he was talking with a woman, but none said, “What do you wish?” or, “Why are you talking with her?”  28 So the woman left her water jar, and went away into the city, and said to the people, 29 “Come, see a man who told me all that I ever did. Can this be the Christ?” 30 They went out of the city and were coming to him.

31 Meanwhile the disciples besought him, saying, “Rabbi, eat.” 32 But he said to them, “I have food to eat of which you do not know.” 33 So the disciples said to one another, “Has any one  brought him food?” 34 Jesus said to them, “My food is to do the will of him who sent me, and to accomplish his work.  35 Do you not say, `There are yet four months, then comes the harvest’? I tell  you, lift up your eyes, and see how the fields are already white  for harvest. 36 He who reaps receives wages, and gathers fruit for eternal life, so that sower and reaper may rejoice together. 37 For here the saying holds true, `One sows and another reaps.’ 38 I sent you to reap that for which you did not labor; others have labored, and you have entered into their labor.”  39 Many Samaritans from that city believed in him because of the woman’s testimony, “He told me all that I ever did.” 40 So when the Samaritans came to him, they asked him to stay with them; and he stayed there two days. 41 And many more believed because of his word.42 They said to the woman, “It is no longer because of your words that we believe, for we have heard for ourselves, and we know that this is indeed the Savior of the world.”

Old Testament Reading: Exodus 17:3-7

3 But the people thirsted there for water, and the people murmured against Moses, and said, “Why did you bring us up out of Egypt, to kill us and our children and our cattle with thirst?” 4 So Moses cried to the LORD, “What shall I do with this people? They are almost ready to stone me.” 5 And the LORD said to Moses, “Pass on before the people, taking with you some of the elders of Israel; and take in your hand the rod with which you struck the Nile, and go. 6 Behold, I will stand before you there on the rock at Horeb; and you shall strike the rock, and water shall come out of it, that the people may drink.” And Moses did so, in the sight of the elders of Israel. 7 And he called the name of the place Massah and Meribah, because of the faultfinding of the children of Israel, and because they put the LORD to the proof by saying, “Is the LORD among us or not?”

Meditation: Would you do a favor for someone who snubbed you or treated you like an enemy? Jesus did just that and more! He treated the Samaritans, the sworn enemies of the Jews, with great kindness and respect. The Samaritans who lived in middle region of Israel between Galilee and Judaea and the Jews who lived in the rest of the land of Israel had been divided for centuries. They had no dealings with one another, avoiding all social contact, even trade, and inter-marriage. If their paths crossed it would not be unusual for hostility to break out.

When Jesus decided to pass through Samaria he stopped at Jacob’s well because it was mid-day and he was both tired from the journey and thirsty. Jacob’s well was a good mile and a half from the nearest town, called Sychar. It wasn’t easy to draw water from this well since it was over a hundred feet deep. Jesus had neither rope nor bucket to fetch the water.

When a Samaritan woman showed up at the well, both were caught by surprise. Why would a Samaritan woman walk a mile and a half in the mid-day heat to fetch her water at a remote well rather than in her local town? She was an outcast and not welcomed among her own townspeople. Jesus then did something no respectable Jew would think of doing. He reached out to her, thus risking ritual impurity and scorn from his fellow Jews. He also did something no strict Rabbi would dare to do in public without loss to his reputation. He treated the woman like he would treat one of his friends – he greeted her and spoke at length with her. Jesus’ welcoming approach to her was scandalous to both Jews and Samaritans because this woman was an adulteress and public sinner as well. No decent Jew or Samaritan would even think of being seen with such a woman, let alone exchanging a word with her!

Jesus broke through the barriers of prejudice, hostility, and tradition to bring the good news of peace and reconciliation to Jews, Samaritans, and Gentiles alike. He demonstrated the universality of the gospel both in word and deed. No one is barred from the love of God and the good news of salvation. There is only one thing that can keep us from God and his redeeming love – our stubborn pride and wilful rebellion.

What is the point of Jesus’ exchange with the Samaritan woman about water? Water in the arid land was scarce. Jacob’s well was located in a strategic fork of the road between Samaria and Galilee. One can live without food for several days, but not without water. Water is a source of life and growth for all living things. When rain came to the desert, the water transformed the wasteland into a fertile field.

The kind of water which Jesus spoke about was living, running, fresh, pure water. Fresh water from a cool running stream was always preferred to the still water one might find in a pool or resevoir. When the Israelites complained about lack of water in the wilderness, God instructed Moses to strike the rock and a stream of fresh living water gushed out (Exodus17:6 ). Even though the Israelites did not trust God to care for them in the wilderness, God, nonetheless gave them abundant water and provision through the intercession of his servant Moses.

The image of “living water” is used throughout the scriptures as a symbol of God’s wisdom, a wisdom that imparts life and blessing to all who receive it. “The teaching of the wise is a fountain of life” (Proverbs 13:14).  “Living water” was also a symbol for the Jews of thirst of the soul for God. The water which Jesus spoke of symbolized the Holy Spirit and his work of recreating us in God’s image and sustaining in us the new life which comes from God. The life which the Holy Spirit produces in us makes us a “new creation” in Jesus Christ (2 Corinthians 5:17). Do you thirst for God and for the life of the Holy Spirit within you?

Hippolytus (170-236 AD), an early Christian writer and theologian who lived in Rome, explains the significance of the Holy Spirit’s work in us:

“This is the water of the Spirit: It refreshes paradise, enriches the earth, gives life to living things. It is the water of Christ’s baptism; it is our life. If you go with faith to this renewing fountain, you renounce Satan your enemy and confess Christ your God. You cease to be a slave and become an adopted son. You come forth radiant as the sun and brilliant with justice. You come forth a son of God and fellow-heir with Christ.” (From a sermon, On the Epiphany)

Basil the Great (330-379 AD), a great early Christian teacher and Greek bishop of Caesarea,  speaks in a similar manner:

“The Spirit restores paradise to us and the way to heaven and adoption as children of God; he instills confidence that we may call God truly Father and grants us the grace of Christ to be children of the light and to enjoy eternal glory. In a word, he bestows the fullness of blessings in this world and the next; for we may contemplate now in the mirror of faith the promised things we shall someday enjoy. If this is the foretaste, what must the reality be? If these are the first fruits, what must be the harvest?” (From the treatise, The Holy Spirit)

“Lord Jesus, my soul thirsts for you. Fill me with your Holy Spirit that I may always find joy in your presence and take delight in doing your will.”

Psalm 95:1-2,6-9

1 O come, let us sing to the LORD; let us make a joyful noise to the rock of our salvation!
2 Let us come into his presence with thanksgiving; let us make a joyful noise to him with songs of praise!
6 O come, let us worship and bow down, let us kneel before the LORD, our Maker!
7 For he is our God, and we are the people of his pasture, and the sheep of his hand. O that today you would hearken to his voice!
8 Harden not your hearts, as at Meribah, as on the day at Massah in the wilderness,
9 when your fathers tested me, and put me to the proof, though they had seen my work.

A Daily Quote for Lent: The Living Water of the Spirit, by John Chrysostom, 347-407 AD

Sometimes Scripture calls the grace of the Spirit “fire,” other times it calls it “water.” In this way, it shows that these names are not descriptive of its essence but of its operation. For the Spirit, which is invisible and simple, cannot be made up of different substances… In the same way that he calls the Spirit by the name of  “fire,” alluding to the rousing and warming property of grace and its power of destroying sins, he calls it “water” in order to highlight the cleansing it does and the great refreshment it provides those minds that receive it. For it makes the willing soul like a kind of garden, thick with all kinds of fruitful and productive trees, allowing it neither to feel despondency nor the plots of Satan. It quenches all the fiery darts of the wicked one. (HOMILIES ON THE GOSPEL OF JOHN 32.1)

 

Share

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *